TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
===== o0o =====
TIÓU LUËN triÕt häc
THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
Người hướng dẫn khoa học : TS. Trần Thị Hồng Loan
Học viên
: Dương Thùy Linh
: K18 - Toán ứng dụng
Lớp
Hà Nội - 2015
MỤC LỤC
Trang
2
MỞ ĐẦU.........................................................................................................
1
NỘI DUNG.....................................................................................................
5
Chương 1. GIỚI THIỆU VỀ TRIẾT HỌC HEGEL……………............
2.4. ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ KINH ĐIỂN MACXIT VỀ LOGIC
CỦA CỦA HEGEL..........................................................................................
28
KẾT LUẬN.....................................................................................................
31
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................
32
MỞ ĐẦU
3
1. Lý do chọn đề tài
Logic học là một môn khoa học xuất hiện rất sớm trong lịch sử và đặc
biệt là ở Phương Tây, từ thế kỷ thứ III Trước CN với logic học hình thức của
Aristotle, cho đến ngày nay nó vẫn không ngừng được nghiên cứu và phát
triển. Hegel sử dụng logic biện chứng như là một công cụ để con người
nghiên cứu các quy luật của tự nhiên, xã hội tư duy, tìm đến chân lý và khi đó
tư duy, hành động thực tiễn của con người được giải phóng, con người sẽ có
tự do, không thể có một thực tiễn tự do nếu không có tư duy tự do cũng như
không có tư duy tự do nào không mang lại hiệu quả thực tiễn. Như vậy, tư
duy vươn xa đến đâu, tự do của con người cũng sẽ vươn xa đến đấy.
Hegel đã đưa ra một hệ thống quan điểm toàn diện về logic học, qua đó
đưa phép biện chứng thành trung tâm, thành hạt nhân đích thực của toàn bộ
vấn đề triết học Hegel. Phép biện chứng được ông lý giải là phương pháp
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có nhiều bài viết nghiên cứu về logic học của Hegel song chưa có bất
cứ tác phẩm nào trình bày một cách hệ thống logic của Hegel.Gần với đề tài
này nhưng ở một góc độ khác đã có một số công trình như :
- Cuốn sách: Bách khoa thư các khoa học triết học của dịch giả Bùi Văn
Nam Sơn, NXB Tri Thức 2008. Trong công trình này tác giả chủ yếu tập
trung dịch một cách chi tiết chính xác tác phẩm Tiểu Logic của Hegel, cùng
với đó là sự chú giải về những vấn đề trọng tâm khó hiểu khi đọc sách của
Hegel. Qua đó tác giả đưa ra những quan điểm đánh giá rất sâu sắc về nội
dung học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản chất và học thuyết khái niệm.
Tuy nhiên cuốn sách này chưa trình bày một cách hệ thống và ngắn gọn logic
học của Hegel.
5
- Cuốn sách: “Lịch sử phép biện chứng” tập III. Phép biện chứng cổ điển
Đức. Đỗ Minh Hợp Dịch, NXB Chính trị quốc gia. Cuốn sách này đi sâu
nghiên cứu về phép biện chứng trong lịch sử nhận thức nhân loại trong đó có
tư tưởng phép biện chứng Hegel.
- Cuốn sách: “Logic học biện chứng”. E.V.Ilencôv, NXB Văn hoá thông tin,
2003, TS Nguyễn Anh Tuấn dịch. Tác phẩm đã đề cập đến quan điểm logic
học của Hegel như phép biện chứng của tư duy. Đối tượng của logic học là tư
duy, logic học phải giải quyết sâu sắc nghiêm túc hơn vấn đề khái niệm và tư
duy trong khái niệm từ đó đi đến những kết luận khoa học về logic học để
thấy được những đóng góp của Hegel trong dòng chảy logic biện chứng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc nội dung tác phẩm Bách khoa
thư các khoa học triết học - Khoa học Logic, tiểu luận đã phân tích những
cách hiểu của Hegel về logic học để từ đó thấy được sự kế thừa và phát triển
1.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA
TRIẾT HỌC HEGEL
1.1.1. Hoàn cảnh nước Đức cuối thế kỷ XVIII đầu XIX
Nước Đức lúc này vẫn là quốc gia phong kiến lạc hậu, Liên bang Đức
chỉ tồn tại về mặt hình thức, chứ thực tế đất nước còn phân tán thành nhiều
tiểu vương quốc tách biệt nhau, tình trạng cũ cứ vẫn còn tồn tại. Cùng với đó
kinh tế xã hội kém phát triển, , không đủ sức mạnh, đến năm 1822 cả nước
Đức mới chỉ có 2 máy hơi nước, nông nghiệp đình đốn. Về chính trị, triều
đình vua Phổ Phriđrích Vinhem vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì
chế độ quân chủ phong kiến thối nát, luôn cản trở đất nước phát triển theo con
đường tư bản chủ nghĩa. Chính sự phân tán của nước Đức đã làm cho sức
mạnh của giai cấp tư sản bị suy yếu, bản thân giai cấp tư sản Đức không đủ
sức mạnh bản lĩnh để lật đổ chế độ phong kiến Phổ ngược lại thoả hiệp với
chế độ phong kiến Phổ để cai trị đất nước. Tính chất mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất phát triển nhanh và quan hệ sản xuất đã lỗi thời ngày càng gay
gắt đã được thể hiện ngay trong những tác phẩm triết học các đại biểu triết
học cổ điển Đức.
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triết học
nhiều vấn đề cần giải quyết, tư tưởng Siêu hình học thế kỷ XVII đã từng đóng
vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy, lý luận và hệ thống hoá tri thức con
người không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn của tư tưởng
Tây Âu thế kỷ XVIII nữa, khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển
tách ra khỏi cái nôi triết học của mình và trở thành những lĩnh vực nghiên cứu
độc lập. Ngay từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện những xu
8
hướng xét lại siêu hình học các giá trị tư tưởng truyền thống. Tuy nhiên, triết
học Tây Âu phục hưng - cận đại từng là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản
tiến hành các cuộc cách mạng tư sản, phát triển phương thức sản xuất Tư bản
chúa tể của tự nhiên, bản thân tự nhiên cũng chỉ là kết quả hoạt động của con
người.
Thứ ba: Triết học cổ điển Đức dựa trên một cách nhìn biện chứng về
thế giới mà tiêu biểu là Hegel với việc phát hiện ra những quy luật, các phạm
trù cơ bản của phép biện chứng và xây dựng nó trở thành một khoa học về sự
phát triển của tất thảy mọi sự vật tư tưởng. Ý nghĩa thực sự cách mạng và
khoa học của triết học Hegel là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của
những kết quả của tư tưởng, hành động con người. Theo Hegel, chân lý mà
triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một tập hợp những
nguyên lý giáo điều, những kết luận có sẵn mà chân lý nằm trong chính quá
trình nhận thức.
Thứ tư: Với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực, nhiều
nhà triết học cổ điển Đức cũng đã có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức
và thành tựu mà nhân loại đạt được từ trước tới giờ. Hegel có ý đồ xây dựng
một hệ thống triết học vạn năng của mình làm nền tảng cho toàn bộ thế giới
quan con người, khôi phục quan niệm coi triết học là khoa học của khoa học.
1.1.2. Tiền đề lý luận
* Triết học Hy Lạp cổ đại (Platôn, Hêraclit)
Platôn đã từng nói: “Thượng đế tạo nên thế giới từ bản tính tự nhiên
của cái Một và cái khác” [1, 332]. Điều này nói lên bản tính chung của cái
hữu hạn là cái gì đó không đứng đối lập một cách dửng dưng với cái khác mà
về mặt tự mình là cái khác của chính mình và do đó tự biến đổi.
Platôn nêu ra tư tưởng về “cái hữu thể đang tồn tại” theo nghĩa cái đang
tồn tại hoàn toàn tương ứng với khái niệm của nó, chỉ có cái gì “tồn tại một
10
cách tồn tại” là ý niệm mới tồn tại theo nghĩa đích thực: nó loại trừ sự không
tồn tại, sự tồn tại khác, sự ra đời và tiêu vong ra khỏi nó, nên bản thân nó
không tiêu vong là vĩnh hằng. Và đây là nền tảng mà sau này Hegel đưa ra
“thực thể, về bản chất có trước các trạng thái của nó. Ông thừa nhận tồn tại vô
vàn các thuộc tính của thực thể, nhưng Xpinoza khẳng định con người chỉ biết
được duy nhất hai thuộc tính trong số chúng, đó là tư duy cũng như quảng
tính. Tư duy chính là toàn bộ thực thể được biểu hiện dưới các hình thức tư
tưởng và ý niệm.
Bản thể như là nguyên tắc của triết học Xpinoza, ngay từ khi ra đời đã
có nhiều sự ngộ nhận và tranh cãi. Hệ thống của Xpinoza thường bị phê phán
chủ yếu ở thuyết vô thần, rồi ở thuyết phiếm thần. Lý do trong cả hai trường
hợp là trong hệ thống của Xpinoza, Thượng đế được hiểu như là bản thể và
chỉ như là bản thể mà thôi. Hegel đánh giá rằng với học thuyết về bản thể này
Xpinoza đã không đạt được quan điểm chính xác về Thượng đế thậm chí còn
tụt hậu, bởi Thượng đế là Ngôi vị tuyệt đối, còn bản thể chỉ là một cấp độ
trong tiến trình phát triển của Ý niệm. Hegel cũng bác bỏ những quan điểm
cho rằng học thuyết về bản thể của Xpinoza là thuyết vô thần bởi nó không có
cơ sở. Thượng đế chỉ không bị phủ nhận mà đúng hơn, còn thừa nhận như là
cái tồn tại duy nhất đúng thật.
* Triết học cổ điển Đức ( Kant, Phictơ, Selling )
I.Kant (1724 - 1804) sinh ra trong một gia đình quý tộc Phổ, triết học
của Kant được đánh giá là nền tảng là điểm xuất phát của triết học Đức hiện
đại. Tư tưởng của ông đã làm một cuộc đảo lộn hướng triết học từ nghiên cứu
tự nhiên tới con người như một chủ thể, từ tồn tại đến hoạt động, xem xét biện
chứng về giới tự nhiên và giới lịch sử. Những biểu tượng được xúc cảm và
trực quan mang lại là một cái đa tạp thông qua hình thức, tức thông qua sự tồn
12
tại ở bên ngoài nhau trong hai hình thức không gian và thời gian, mà bản thân
là tiên nghiệm với tư cách là các hình thức thuần tuý của trực quan.
Kant khẳng định tư duy là đối tượng nghiên cứu của logic học, từ đó
ông tiếp tục phát triển xu hướng để xây dựng một logic mới khác với logic
nhiên là giai đoạn phát triển thấp, giai đoạn vô thức, còn con người và xã hội
loài người là giai đoạn phát triển cao nhất của cái tuyệt đối, trong đó, cái
Tuyệt đối có thể tự ý thức về mình. Hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới của
con người chính là công cụ để cái Tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình,
“soi bản thân mình”. Với luận điểm “giới tự nhiên là tinh thần nhìn thấy, còn
tinh thần chính là giới tự nhiên không nhìn thấy”, Senling luôn coi sự phát
triển của tự nhiên là sự phát triển của bản thân tinh thần. Có thể nói tư tưởng
về cái Tuyệt đối của Senling là một trong những tiền đề quan trọng mà sau
này Hêghen kế thừa trong việc xây dựng học thuyết của mình trong Tinh thần
tuyệt đối.
Như vậy Hegel đã kế thừa có phê phán và đánh giá đối với các nhà triết
học tiền nghiệm để từ đó xây dựng nên các học thuyết logic học của mình về
phương pháp tư duy phản ánh đúng đắn quá trình nhận thức của con người
trong thế giới.
1.2. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP TRIẾT HỌC CỦA HEGEL
1.2.1. Hệ thống triết học Hegel
Triết học của Hegel là hệ thống phong phú nhất và hoàn thiện nhất
trong lịch sử triết học trước Marx. Hegel đã tổng kết hầu như toàn bộ tư tưởng
cũ ở phương Tây, phân tích mọi chủ nghĩa, học thuyết của các bậc tiền bối,
đưa ra ý nghĩa lịch sử của nó đồng thời tìm ra những mâu thuẫn nội bộ xuất
hiện trong tư tưởng ở mỗi một giai đoạn lịch sử. Những mâu thuẫn ấy đòi hỏi
14
phải được giải quyết bằng cách xoá bỏ những hình thái cũ để tiến lên một
trình độ cao hơn.
Ngay từ khi còn trẻ, Hegel đã có ý thức về nhiệm vụ phải xây dựng hệ
thống triết học. Năm 1800, khi vừa tròn 30 tuổi, trước khi đến Jena để bắt đầu
sự nghiệp triết học của mình, ông có viết: “Trong sự đào tạo triết học của tôi,
bắt đầu từ những nhu cầu thứ cấp của con người, tôi phải đẩy lên thành khoa
Như vậy trong hơn sáu năm làm việc ở Jena, Hegel vừa theo đuổi tư
tưởng hệ thống khi phê phán các nền triết học khác và vừa từng bước xây
dựng các bộ phận cho hệ thống của chính mình. Thành tựu ấy đã được đúc kết
trong lời tựa nổi tiếng đặt ở đầu quyển Hiện tượng học tinh thần nhưng thực
ra là lời tựa chung cho toàn bộ “hệ thống” được lý giải rõ ràng về mặt khái
niệm và được biện minh như một Cương lĩnh đầy tham vọng : “Hình thái
đúng thật, trong đó Chân lý hiện hữu và chỉ có thể là Hệ Thống khoa học về
Chân lý này. Góp phần đưa triết học đến gần với hình thức của khoa học mục đích để nơi đó triết học có thể trút bỏ danh xưng là “sự yêu mến cái
biết” để trở thành Tri thức hiện thực”[Hiện tượng học tinh thần, 11]. Như vậy
ý đồ ấy của Hegel tương ứng với cả hai mặt của sự tất yếu : Sự tất yếu bên
trong . Cái Biết phải là khoa học, là bản tính tự nhiên của cái Biết; bản tính ấy
chỉ thoả mãn trong việc trình bày cặn kẽ của bản thân hệ thống triết học. Sự
tất yếu bên ngoài: thời điểm đã chín muồi cho việc nâng triết học lên thành
khoa học.
Hệ thống triết học Hegel là đầy đủ nhất với đỉnh cao của nó là Khoa
học Logic, đã xuất hiện ra như là khoa học mà ta có về Ý niệm logic, Ý niệm
ở đây không chỉ thể hiện hay trình bày như là cái toàn thể được hợp nhất hoá
một cách mạch lạc và là nơi Ý niệm tự khẳng định sự tự do của mình một
cách cụ thể. Cái toàn thể có hệ thống này chỉ là một ý niệm duy nhất chứ
16
không phải là sự đa tạp vô trật tự của các ý niệm. Một ý niệm ở đây chính là
vòng tròn của những vòng tròn tạo nên chuỗi nội dung của nó.
Hegel cho rằng, chúng ta tìm thấy các cấp độ khác nhau của ý niệm
logic ở trong lịch sử của triết học, trong hình thức của những hệ thống triết
học xuất hiện tiếp theo nhau, mà mỗi hệ thống đều lấy một định nghĩa đặc thù
về cái tuyệt đối làm cơ sở cho mình. Giống như sự triển khai Logic như là
một tiến trình tiến lên từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, cũng như thế trong lịch
sử triết học, các hệ thống sớm nhất là trừu tượng nhất, và do đó, đồng thời là
ba mômen bộ phận và tạm thời của Ý niệm tuyệt đối duy nhất mà tính toàn
thể của nó phản ánh trong từng Ý niệm nhất định ấy. Vậy, trong tự nhiên,
không gì có thể khác hơn là chính bản thân Ý niệm, nhưng chỉ có điều: nó tồn
tại trong hình thức của cái tồn tại khác của nó, hay, chính xác hơn, Logos là Ý
niệm tự mình và cho mình, và Logic học là khoa học về Ý niệm như thế,
nghĩa là khoa học về Ý niệm thuần tuý, về tính khả niệm thuần tuý trong sự
trừu tượng của tư duy đơn thuần của nó về chính mình. Như vậy Ý niệm tuyệt
đối - với tư cách là Ý niệm logic, là Ý niệm tự suy tưởng chính mình như là Ý
niệm thuần tuý ở bên ngoài thời gian và không gian, ở bên ngoài con người và
lịch sử. Nhưng trong sự vận động ấy, nó đã mặc nhiên mang dấu ấn của
mômen tự nhiên và mômen tinh thần. Vậy là khái niệm, khách thể và Ý niệm
là ba mômen logic của Ý niệm tuyệt đối. Còn giới tự nhiên và tinh thần,
không gì khác hơn là sự hiện hữu thực tồn, tự trị và chừng mực nào đó là bị
tách rời, phân lập, của hai mômen chủ quan và khách quan của ý niệm tuyệt
đối. Tinh thần không chỉ là ý niệm với tư cách là cái gì cho mình mà còn là Ý
niệm với tư cách đang trở thành tự mình và cho mình. Từ đó, Hệ thống bách
khoa thư các khoa học triết học kết thúc bằng cách quay trở lại điểm xuất
phát, tức quay trở lại Khoa học Logic như khoa học về Ý niệm tự mình và cho
mình, nhưng với sự khác biệt so với trước, Ý niệm logic lúc ban đầu còn là
18
khả thể của mọi sự thì bây giờ qua hệ thống, hoàn tất và trở thành thực tại bản
thể của mọi sự, trở thành phổ biến một cách tuyệt đối.
Sự phân chia nội dung của triết học chỉ được thấu hiểu dựa trên cái toàn
bộ, như thế khoa học Logic theo Hegel được chia làm ba phần :
I. Logic học, Khoa học về Ý niệm tự mình và cho mình
II. Triết học tự nhiên như là Khoa học về Ý niệm trong sự tồn tai khác
của nó (của Ý niệm).
III. Triết học về tinh thần như là Khoa học về Ý niệm quay trở về lại
logic trong trạng thái của Tự nhiên và Tinh thần, tức các hình thái chỉ như là
một phương cách diễn đạt đặc thù của các hình thức tư duy thuần tuý. Do đó,
Logic học là tinh thần sống động cho mọi ngành khoa học, và những quy định
tư duy được chứa đựng trong Logic học là những tinh thần thuần túy, chúng
là cái gì nội tại nhất.
20
Hegel đánh giá rất cao vai trò của Siêu hình học khác với bậc tiền bối
Kant của mình với triết học phê phán đã làm cho Siêu hình học đi đến chỗ cáo
chung. Ông không chấp nhận điều này bởi vì: “Khoa học và lý trí con người
thông thường đã tay trong tay làm cho Siêu hình học suy tàn nên dường như
ta đang chứng kiến một quang cảnh thật lạ lùng: một dân tộc có văn hoá mà
lại không có Siêu hình học, không khác gì một ngôi đền được trang hoàng
lộng lẫy mà lại thiếu vị thần tối linh”. Bản thân Siêu hình học được xem như
là phương thức dùng giác tính đơn thuần để nhìn về những đối tượng của lý
tính, cho nên cần phải đi sâu nghiên cứu thật kĩ đồng thời đổi mới Logic học
và Siêu hình học nhằm mang lại “linh hồn đích thực” cho đời sống tinh thần
của dân tộc.
Trong tiểu đoạn §85, Hegel đã nêu ra lưu ý sơ bộ liên quan đến mọi
phạm trù logic nói chung đó là : “Những quy định logic nói chung (...) có thể
được xem như là những định nghĩa về cái Tuyệt đối, như là những định nghĩa
siêu hình học về Thượng đế” [1, 290]. Câu này có nghĩa mọi quy định logic
đều có thể được xem như là những định nghĩa về cái tuyệt đối, bởi chúng đều
thuộc về một loại nội dung, đó là mang lại những quy định phổ biến khác
nhau về nội dung logic của Ý niệm tuyệt đối. Nhận thức đích thực về cái
Tuyệt đối không nằm trong những định nghĩa ấy, mà chỉ nằm trong toàn bộ sự
vận động của Khoa học Logic, những quy định logic ấy còn được xem như là
những định nghĩa siêu hình học về Thượng đế. Theo Hegel, thượng đế không
phải là một phạm trù của triết học, trái lại, đó là tinh thần tuyệt đối ở trong
quan mà là tồn tại khách quan như bất kỳ đối tượng nào khác cần phải được
nhận thức. Hêghen cho rằng định nghĩa cổ điển về chân lý như là sự trùng
hợp giữa nhận thức và đối tượng là một định nghĩa có giá trị lớn lao, thậm chí
có giá trị cao nhất. Ông cho rằng thông thường ta quen gọi chân lý là sự trùng
hợp giữa một đối tượng với biểu tượng của ta…Ở đây, ta tiền giả định một
22
đối tượng, rồi sự hình dung của ta về nó phải phù hợp với nó. Trái lại, trong
triết học, chân lý - diễn đạt một cách trừu tượng nói chung – “chính là sự
trùng hợp của một nội dung với chính bản thân nó” [1, 119], ví dụ: “Ý nghĩa
sâu xa (có tính triết học) về chân lý vốn phần nào đã có mặt trong ngôn ngữ
thường ngày. Chẳng hạn khi ta nói về một người bạn đích thực và hiểu đó là
một người bạn mà cách cư xử là phù hợp với khái niệm về tình bạn và cũng
như thế, khi ta nói đến một tác phẩm nghệ thuật đích thực” [1, 119]. Không
đích thực có nghĩa là dở, là xấu, là có sự không tương hợp nội tại, cho nên
một nhà nước tồi tệ là nhà nước không đúng thật, và cái tồi tệ, cái không đúng
thật nói chung là ở sự mâu thuẫn giữa sự tự quy định hay Khái niệm với sự
hiện hữu của một đối tượng. “Ta có thể có một hình dung đúng về một đối
tượng tồi tệ như thế, nhưng một hình dung của biểu tượng này lại là một cái
gì không đúng thật trong chính nó. Ta có thể có trong đầu óc vô số những cái
đúng, nhưng đồng thời không đúng thật như thế” [1, 119]. Sự trùng hợp của
một nội dung với chính bản thân nó đồng nghĩa với sự trùng hợp giữa Khái
niệm và sự hiện hữu của nội dung ấy.
Theo Hegel, thực tiễn là thủ đoạn của hoạt động con người, hoạt động
thực tiễn là hoạt động của ý niệm, bản chất của nó là cái logic hình thành ý
niệm, chính vì vậy chân lý là ý niệm, bởi chân lý có nghĩa là: tính khách quan
tương ứng với khái niệm - chứ không phải những sự vật bên ngoài tương ứng
với những biểu tượng của tôi. Ý niệm là chân lý với tư cách là quá trình trải
qua ba giai đoạn: Sự sống ; quá trình nhận thức bao hàm thực tiễn của con
nhiên và các tinh thần hữu hạn, tức những con người cụ thể. Hegel không
hiểu theo nghĩa hẹp, bó gọn trong ý thức cá nhân như một khả năng nhận thức
chủ quan của con người, mà theo nghĩa rộng, tinh thần tuyệt đối sáng tạo ra cả
giới tự nhiên và con người. Tư duy con người là giai đoạn phát triển cao nhất,
trong đó tinh thần tuyệt đối có khả năng ý thức được bản thân nó. Như vậy
24
Hegel hiểu tư duy có hai dạng, thứ nhất là tư duy tự nó, chính là tinh thần
tuyệt đối tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực, thứ hai: tư duy cho nó, tức
tư duy con người, là tư duy tự nó ở giai đoạn phát triển cao nhất, tư duy có ý
thức. Tư duy mỗi con người đều phải hoạt động theo những quy luật khách
quan chung của tư duy, tức tư duy tự nó.
Hegel sử dụng thuật ngữ “những tư tưởng khách quan” biểu thị cho
chân lý, và chân lý phải là đối tượng tuyệt đối chứ không chỉ đơn thuần là
mục tiêu của triết học. “Nhận thức chân lý là ở chỗ làm sao nhận thức khách
thể như nó tồn tại với tư cách là khách thể thoát khỏi mọi sự pha trộn của
phản tư chủ quan” [2, 196] Nhưng đồng thời, thuật ngữ này luôn biểu thị một
sự đối lập, đó cũng là trung tâm của sự quan tâm triết học của chúng ta hiện
nay và cũng là trung tâm điểm của câu hỏi về Chân lý và về việc nhận thức
nó. Nếu những quy định của tư duy bị gán chặt với một sự đối lập cứng nhắc,
nghĩa là, nếu chúng chỉ có bản tính hữu hạn, thì chúng không tương ứng với
Chân lý vốn tồn tại tự mình và cho mình một cách tuyệt đối, và chân lý không
thể đi vào trong tư duy. Tư duy chỉ tạo nên những quy định hữu hạn và tự vận
động ở bên trong những quy định như thế gọi là giác tính
Khi phân chia nội dung của Logic học thành ba phần: học thuyết về tồn
tại, học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm và ý niệm, đồng thời
Hegel cũng nêu ra mối quan hệ giữa ba cấp độ chính yếu của tư tưởng, hay
của Ý niệm logic với nhau đó là: “Chân lý của tồn tại là bản chất”. Tồn tại là
cái trực tiếp, vì muốn nhận thức chân lý về tồn tai tự nó và vì nó là gì nên tri
triển, tư duy khách quan.
Như vậy Hegel đã gán cho ý thức cấu trúc của mô hình tư biện cơ bản
của ông. Ý thức là sự thống nhất giữa tồn tại tự mình và tồn tại cho mình, sự
phân biệt và sự quan hệ, giữa sự khác biệt và nhất thể, giữa sự không đồng
nhất và đồng nhất. Ý thức là sự thống nhất giữa ý thức và đối tượng. Theo đó,