BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LƯU KHÁNH LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH MAY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
NGÀNH: SƯ PHẠM KỸ THUẬT - 601401
S K C0 0 1 0 4 3
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08/2004
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LƯU KHÁNH LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯNG NGUỒN
NHÂN LỰC NGÀNH MAY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2005-2010
Chuyên ngành: Sư Phạm Kỹ Thuật
Lưu Khánh Linh
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH
:
Công nghiệp hóa
HĐH
:
Hiện đại hóa
THKT
:
Trung học kỹ thuật
THKTNV
:
Trung học kỹ thuật nghiệp vụ
THCN
:
Công nghệ may
GD và ĐT :
Giáo dục và đào tạo
TTSX
Thực tập sản xuất
:
CNSXHMCN
: Công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp
M & TBM :
Máy và thiết bò may
KTMCN
:
Kỹ thuật may công nghiệp
TKTP
03
5. Phương pháp nghiên cứu
03
6. Bố cục luận văn
03
7. Kế hoạch nghiên cứu
04
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
05
I. Cơ sở lý luận chung về chất lïng đào tạo ngành may
05
I.1.Khái niệm chất lượng và chất lượng đào tạo
05
I.1.1. Chất lựơng
05
12
IV. Chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành công nghệ may
14
V.Thực trạng về nhu cầu nguồn nhân lực ngành công nghệ may hiện nay
15
V.1. Sự hình thành và phát triển ngành dệt may Việt Nam
15
V.2. Thực trạng ngành may tại Thành phố Hồ Chí Minh
17
VI. Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực may
21
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
22
I. Thực trạng nhân lực ở các doanh nghiệp may
22
II.2. Kết quả khảo sát
34
II.2.1. Tuyển sinh, chất lượng đầu vào
34
II.2.2. Nội dung chương trình đào tạo
36
II.2.3. Phương pháp giảng dạy
44
II.2.4. Máy móc, trang thiết bò, phương tiện dạy học
45
II.2.5. Đội ngũ giáo viên
48
II.2.6. Kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
51
II.2.7. Động cơ chọn nghề
học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng
nhân ái, yêu nước, yêu xã hội chủ nghóa, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu
phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bò cho tương lai”
Trong Nghò quyết Hội nghò lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng
khoá VIII có nêu: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá thắng lợi
phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố
cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”
Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam ngày càng phát
triển, các công ty quốc doanh, liên doanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn cũng
phát triển mạnh về qui mô và chất lượng đã đưa ngành dệt may đứng thứ hai
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (sau dầu thô).
1
Đến năm 2000, kết thúc chặng đường 10 năm đổi mới, toàn ngành dệt
may đã đạt kim ngạch xuất khẩu 1,9 tỉ USD, so với năm 1991 tăng gấp 10 lần.
Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam
là đến năm 2005 đạt kim ngạch xuất khẩu từ 4-5 tỉ USD, tăng hơn gấp đôi mức
đã thực hiện.
Để hoàn thành mục tiêu trên, đòi hỏi toàn thể cán bộ – công nhân viên
ngành dệt may trong cả nước phải nổ lực phấn đấu, trong đó việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ngành may tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong
những yếu tố góp phần để hoàn thành thắng lợi mục tiêu đã đề ra.
Thực trạng hiện nay cho thấy người lao động ở các công ty may hầu hết
phải được đào tạo hoặc đào tạo lại, các kỹ năng tay nghề còn rấ t hạn chế, dẫn
đến năng suất, chất lượng sản phẩm còn thấp. Đội ngũ kỹ thuật thiếu nghiêm
trọng, số lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất. Vì vậy, tôi nhận thấy
cần nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
ngành may tại Thành phố Hồ chí Minh giai đoạn 2005-2010” là một yêu cầu
cấp bách, qua đó hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, khảo sát mức độ đáp ứng
-
Nghiên cứu, đề xuất một số các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động, phù hợp với khoa học – công nghệ
ngành may tại Thành phố Hồ Chí Minh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Người nghiên cứu sử dụng một số phương pháp sau đây:
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ
của đề tài, người nghiên cứu tiến hành thu thập, tổng hợp các tài liệu, văn bản,
tạp chí… có liên quan để giải quyết cơ sở lý luận của đề tài
-
Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn: tiến hành trò chuyện với cán
bộ, công nhân viên đang công tác tại các doanh nghiệp dệt may, giáo viên các
trường đào tạo nguồn công nhân kỹ thuật may tại Thành phố Hồ Chí Minh
-
Phương pháp điều tra: thăm dò ý kiến của giáo viên, học viên và của
các doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động ngành may, thông qua các phiếu
thăm dò ý kiến.
-
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm lao động: nghiên cứu phân tích
I.1. Khái niệm về chất lượng và chất lượng đào tạo
I.1.1. Chất lượng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp mà con người thường gặp trong các
lónh vực hoạt động của mình. Tùy theo những góc độ mà từng người có cách
giải thích khác nhau về chất lượng.
Một nhà triết học đã đưa ra đònh nghóa về chất lượng như sau: “chất
lượng là tính xác đònh về bản chất của khách thể, nhờ đó mà nó là cái đó chứ
không phải là cái khác và cũng nhờ đó mà nó khác biệt với các khách thể
khác...” (Filoxofxky xlovar’,Politidat, Moxkva, 1972).
Các nhà làm từ điển đã giải thích khái niệm chất lượng như sau: “chất
lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trò của sự vật hoặc là cái tạo nên bản chất
sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (từ điển tiếng việt phổ thông – nhà
xuất bản Giáo dục- 1998); hay “chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so
sánh hay đặc trưng tuyệt đối, là dấu hiệu đặc thù, tính chất, đặc điểm cơ bản,
phân biệt một vật phẩm hay hiện tượng này với những vật phẩm hay hiện
tượng khác” (Oxford pocket dictionnary).
Chất lượng là “ tập hợp các đặc tính của một thực thể hay đối tượng tạo
cho thực thể hay đối tượng đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra
hoặc nhu cầu tìm ẩn” (TCVN-ISO 8402).
Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh sau (theo Harvey & Green –
1993) đó là: sự xuất chúng tuyệt vời, sự hoàn hảo, sự phù hợp, sự thể hiện giá
trò, sự biến đổi về chất.
I.1.2. Đào tạo
Theo từ điển tiếng Việt thì quá trình đào tạo làm cho con người trở thành
có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất đònh, còn theo từ điển Bách khoa thì
đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lónh
hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo... một cách có hệ thống nhằm
5
tạo theo các ngành nghề cụ thể ” (Trần Khánh Đức – Viện nghiên cứu phát
triển giáo dục).
Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê
Đức Phúc – Viện khoa học giáo dục).
Chất lượng đào tạo là một cụm từ thường hay nhắc đến trong lónh vực
đào tạo. Một nhà trường muốn tồn tại và phát triển bền vững phải không ngừng
nâng cao chất lượng đào tạo.
Chất lượng đào tạo với đặc trưng là “con người lao động”, có thể hiểu là
kết quả đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất,
giá trò nhân cách, và giá trò sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt
nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo.
Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thò trường lao động, khái
niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo
trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người
tốt nghiệp với thò trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng
lực hành nghề tại các vò trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ
chức sản xuất, khả năng phát triển nghề nghiệp.... Tuy nhiên cần nhấn mạnh
rằng chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được
thể hiện trong các hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp.
Quá trình thích ứng với với thò trường lao động không chỉ phụ thuộc vào
chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thò trường như
quan hệ cung-cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc
của nhà nước và người sử dụng lao động... Do đó khả năng thích ứng còn phản
ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thò trường lao động.
7
Hình 1: Quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
Trong luận văn “Một số giải pháp nâng cao chất lượng ngành công nghệ
may tại trường Trung học Kỹ thuật May và Thời trang 2” thì xét từ góc độ quản
lý của nhà trường, chất lượng đào tạo được biểu hiện ở kết quả của quá trình
đào tạo những khoá học cụ thể, được đánh giá bằng các chỉ tiêu sau đây:
Hiệu quả đào tạo (Hđt)
Hđt =
Ttn
x 100%
Tv
Trong đó:
Ttn: tổng số học sinh tốt nghiệp
Tv: tổng số học sinh tuyển vào
Tỉ lệ hao hụt là: T% = 100% - Hđt
Hiệu quả tốt nghiệp (Htn)
Htn =
Ttn
x 100%
Tck
8
Mục tiêu và nội dung đào tạo: quá trình đào tạo là một quá trình hiện
thực hoá “mục tiêu và nội dung đào tạo” ở người tốt nghiệp. Chất lượng đào
tạo là kết quả của quá trình đào tạo với các mục tiêu, nội dung, phương pháp
xác đònh. Do đó mục tiêu, nội dung phương pháp đào tạo là cơ sở để đánh giá
chất lượng đào tạo.
9
Chất lượng đào tạo được thể hiện trong quá trình hành nghề của học sinh
tốt nghiệp do đó việc lấy ý kiến đánh giá của người sử dụng lao động, tình hình
việc làm và phát triển nghề nghiệp là cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng
đào tạo
Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo như cơ sở vật chất, trang thiết
bò, giáo viên, quản lý...
II. Nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực
II.1. Nguồn nhân lực
Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghóa rộng được hiểu
như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận
của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế-xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực theo nghóa hẹp và có thể lượng hoá được là một bộ phận
của dân số bao gồm những người trong độ tuổi qui đònh, đủ 15 tuổi trở lên có
khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. Số lượng nguồn nhân lực
được xác đònh dựa trên qui mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, sự phân bố theo
khu vực và vùng lãnh thổ của dân số. nước ta số lượng lao động trong độ tuổi
lao động được xác đònh bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam 1660 tuổi, nữ 16-55 tuổi ) đang có việc hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu
làm việc.
Nhân lực khoa học-công nghệ là một bộ phận của lực lượng lao động xã
hội được đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất đònh và tham gia
học
vấn
trình độ chuyên môn
kỹ thuật
Hình 2: Những yếu tố của chất lượng nguồn nhân lực
11
Mặt khác, sự đầu tư vào phát triển tiềm năng con người giúp cho việc
thúc đẩy phát triển kinh tế nhờ nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất
và tiến bộ xã hội. Do đó chất lượng nguồn nhân lực có thể được nâng cao nhờ
giáo dục và đào tạo cả người lớn và trẻ em, nhờ nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe
tốt hơn, nhờ việc chuyển người lao động sang vò trí có điều kiện lao động tốt
hơn …
Trình độ văn hóa người lao động là yếu tố quan trọng nhất, quyết đònh
hiệu quả của việc làm và hướng quyền lợi của người lao động đối vói lọai hình
lao động sáng tạo.
Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, lao động của người công nhân
đã tốt nghiệp phổ thông có hiệu suất gấp hai lần người chưa tốt nghiệp phổ
thông, còn lao động của người tốt nghiệp đại học lại có hiệu suất gấp ba lần lao
động của người chỉ tốt nghiệp phổ thông.
Mặt khác trong điều kiện tiến bộ không ngừng của khoa học buộc người
công nhân trong sản xuất cứ 3-5 năm lại phải hoàn thiện, bổ sung một cách cơ
bản kiến thức của mình. Điều đó có nghóa là quá trình học tập phải là học tập
suốt đời.
Sự thách thức của các quốc gia trên thế giới ngày nay là do tri thức chứ
không phải là tài nguyên với quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức.
30
41
100
250
12
NHẬT BẢN
“
5
25
70
175
MỸ
“
4
60
200
500
1250
CỘNG
(Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam –dự báo nhu cầu thò trường xuất khẩu
sản phẩm dệt may đến năm 2010 )
Với sự tăng trưởng thò trường rất nhanh từ 500 triệu sản phẩm lên 1250
triệu sản phẩm trong giai đoạn từ năm 2005-2010 bắt buộc ngành may phải mở
rộng cơ sở vật chất, nhà xưởng, đầu tư máy móc thiết bò và trên hết là phát
triển đội ngũ lao động lành nghề có khả năng xử lý công việc để đạt năng suất,
chất lượng sản phẩm cao. Qua đó Tổng công ty dệt may Việt Nam đã dự báo
nhu cầu bổ sung mới lao động cần đào tạo ở ngành may như sau:
Năm
Sau đại học
Tiến só
Thạc só
1999-2000
Đại học
4
11
283
858
234
5705
(Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam - dự báo nhu cầu bổ sung mới lao
động ngành may)
Thành phố Hồ Chí Minh thu hút tổng số lao động ngành may trên
500.000 người, có năng lực sản xuất tương đương với khoảng 40-50% năng lực
sản xuất cả nùc (trích: Nguyễn Đức Hoan- các biện pháp nhằm tăng sức cạnh
tranh của ngành may xuất khẩu Thành phố Hồ Chí Minh). Dự báo nhu cầu bổ
sung mới nhân lực ngành may tại Tp. Hồ Chí Minh chiếm khoảng 56 % trong
tổng số nhu cầu nhân lực cả nước, cụ thể là:
13
Năm
Sau đại học
Tiến só
Thạc só
4292
2006-2010
2
7
127
515
122
3994
(Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam - dự báo nhu cầu bổ sung mới lao
động ngành may)
IV. Chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành công nghệ may
Ngành may đang tiếp tục mở rộng thò trường, điều này còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bò...ngoài ra còn cần
phải có nguồn nhân lực mạnh mẽ. Để phát triển nguồn nhân lực phục vụ trong
ngành may hiện nay, bộ công nghiệp, tổng công ty dệt may Việt Nam đã và
đang có chính sách phát triển đội ngũ lao động là các cán bộ quản lý, công
nhân kỹ thuật may, tiếp tham gia sản xuất làm ra sản phẩm. Cụ thể là:
Đào tạo và đào tạo lại công nhân kỹ thuật may phù hợp với yêu cầu mới
Liên kết, hỗ trợ các trường có đào tạo ngành công nghệ may nhằm giúp
các trường tạo ra sản phẩm đào tạo tốt nhất phục vụ cho nhu cầu nhân lực tại
công ty Bông Bắc Kỳ
Từ năm 1900 đến 1940
Công ty này đã thâu tóm các nhà máy sợi tại Hải Phòng, Hà Nội và xây
dựng thêm các nhà máy sợi, dệt vải, xưởng nhuộm... tại Nam Đònh, hình thành
khu công nghiệp dệt Nam Đònh, cái nôi của ngành công nghiệp nhẹ ở Đông
Dương thời bấy giờ.
Từ năm 1954 đến 1975
Ngành dệt may đã phát triển nhanh chóng, mở rộng lực lượng sản xuất
với nhiều nhà máy mới được xây dựng
Từ năm 1976 đến 1990
Do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt may phía nam và tiếp
tục xây dựng nhiều nhà máy lớn trên phạm vi cả nước, ngành dệt may đã phát
triển nhanh chóng cả về qui mô và năng lực sản xuất
Bằng nhiều phong trào thi đua lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải
tiến kỹ thuật, trong kế hoạch 5 năm 1976-1980, 1981-1985, 1986-1990, ngành
dệt may Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn một cách xuất sắc các chỉ tiêu
kế hoạch nhà nước giao.
15