Bảo hiểm thất nghiệp ở việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 34

Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vào thế kỉ 19, ở một số nước Châu Âu như Đức, Ý, Thụy Điển, một loại
hình bảo hiểm mới đã được triển khai nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao
động thất nghiệp. Đó là bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ). Cho đến nay, loại hình
bảo hiểm này đã được thực hiện rộng rãi ở các nước phát triển với những điều
luật quy định hết sức chặt chẽ; đem lại nhiều ý nghĩa to lớn cũng như tác dụng
tích cực về mặt kinh tế xã hội.
Tại Việt nam, loại hình bảo hiểm này là vô cùng mới mẻ. Luật BHTN Việt
nam mới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.1.2009 và theo quy định, chính sách
BHTN thực sự đi vào thực hiện từ ngày 1.1.2010. Sự ra đời của loại hình bảo
hiểm này thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo
hiểm Việt nam nói riêng và nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà
nước ta nói chung. Nhất là khi, sự ra đời này lại gắn trong giai đoạn đầy khó
khăn, tồi tệ của nền kinh tế Việt nam cũng như kinh tế thế giới; giai đoạn mà
chúng ta phải chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi
vào cảnh thất nghiệp. Trong những năm qua, chúng ta đã làm được những gì,
vấp phải những khó khăn gì; người dân, nhất là đối tượng lao động, họ phản ứng
thế nào với chính sách mới này? Mong muốn tìm hiểu rõ hơn những vấn đề mới
mẻ này chính là lí do em lựa chọn đề tài “ Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục đích cơ bản:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm, nội dung và các vấn đề liên quan đến thất
nghiệp
Thứ hai, đánh giá hiệu quả quá trình thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp ở
Việt Nam, cũng với những tồn tại và nguyên nhân


1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về thất nghiệp
John Maynard Keynes – một nhà kinh tế học được coi là có nghiên cứu
khá thành công về thất nghiệp cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện
tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt
được sự cân bằng của hệ thống kinh tế”. Theo ông nạn thất nghiệp tồn tại dưới
dạng bắt buộc mà trong đó “tổng cung về lao động của những người lao động
muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng
việc làm hiện có”.
Samuelson – một trong số các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý thuyết
mới về thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ
hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Và trong nền kinh tế
thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Tỷ lệ
thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giải quyết việc làm
của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ”.
Các quan điểm khác nhau đúng theo những cách khác nhau đã góp phần
đưa ra một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp.
Tại Điều 20 Công ước số 102 (1952) của tổ chức lao động Quốc tế (gọi
tắt là ILO) về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội định nghĩa: “Thất nghiệp là
sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong
trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc, theo định nghĩa
này để xác định tình trạng thất nghiệp cần hai điều kiện “có khả năng làm việc”
và “sẵn sàng làm việc”; sau đó Công ước số 168 (1988) bổ sung thêm vào định
nghĩa này khái niệm “tích cực tìm kiếm việc làm”.
3


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

4


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong độ tuổi lao động
không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” (Đề tài khoa học
cấp Bộ (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) năm 1996).
Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa và trở thành
thuật ngữ pháp lý tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH. Theo đó, người thất nghiệp
được định nghĩa là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm
hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưa tìm được việc
làm”.
So với các tiêu chí chung của ILO được các quốc gia trên thế giới áp dụng
thì khái niệm này bộc lộ một số hạn chế sau:
Phạm vi xác định người thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay quá
hẹp. BHTN chỉ là một trong những chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà
nước hoạt động theo cơ chế bảo hiểm, do đó không thể coi việc tham gia BHTN
là một chuẩn chung để đánh giá tình trạng việc làm của tất cả lao động trong xã
hội. Điều này đã tạo nên một giới hạn, chỉ những người thuộc đối tượng điều
chỉnh của pháp luật về BHTN mà không có việc làm mới được coi là người thất
nghiệp, xét cho cùng dù có đóng hay không đóng BHTN, về bản chất họ vẫn là
người thất nghiệp. Tham khảo số liệu thống kê về lao động trên phạm vi cả nước
năm 2010 có thể thấy, so với số lao động trong độ tuổi số người tham gia BHTN
chỉ chiếm khoảng 15,24% và khoảng 75,8% so với số người tham gia BHXH,
BHYT bắt buộc. Nếu thực hiện theo khái niệm này thì chắc chắn con số thống
kê về số người thất nghiệp sẽ không bao giờ đúng với thực tế, nếu như không
muốn nói là quá nhỏ so với thực tế, và kết quả là sẽ rất khó cho các nhà hoạch

vào đầu tư ngoại quốc và xuất khẩu (đặc biệt là sang Hoa Kỳ và châu Âu). Danh
sách các doanh nghiệp phải giải thể, ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày
càng nhiều. Hậu quả là nạn thất nghiệp sẽ tăng cao ở Việt Nam trong năm nay.
Nếp nghĩ có từ lâu trong thanh niên là thói quen đề cao việc học để
"làm thầy" mặc dù nếu bản thân học "làm thợ" sẽ tốt hơn hay "thích làm Nhà
nước, không thích làm cho tư nhân"; như vậy là thiếu thực tế bởi không dựa trên
khả năng của bản thân và nhu cầu xã hội. Một bộ phận LĐ trẻ có biểu hiện ngộ
nhận khả năng bản thân; một bộ phận khác lại tự ti, không đánh giá hết năng lực
thực sự của mình. Chọn nghề theo "nếp nghĩ" sẽ dễ mắc những sai lầm. Rất
nhiều LĐ trẻ "nhảy việc" để tìm kiếm thu nhập cao nên dẫn đến tình trạng dễ bị
mất việc.
6


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ứng được yêu
cầu mới, tính chuyên nghiệp chưa cao. Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu và
sự thiếu phối hợp giữa hệ thống đào tạo và giáo dục, các nhu cầu thị trường LĐ
và quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm giới. Tỷ lệ lao động được đào tạo
nghề rất thấp, chỉ khoảng 26%. Lao động của chúng ta đúng là dồi dào thật
nhưng vẫn không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định một
phần do trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó, lao động vẫn trong tình
trạng bán chuyên nghiệp, công việc chắp vá, không ổn định.
Theo thống kê, cả nước hiện có 1.915 cơ sở dạy nghề (CSDN) trong đó có
1.218 CSDN công lập (chiếm 64%), bao gồm: 262 trường dạy nghề, 251 trường
ĐH, CĐ, TCCN và 803 cơ sở khác có dạy nghề. Trong đó đáng chú ý là khoảng
355 CSDN thuộc các doanh nghiệp. Trong những năm qua, bình quân mỗi năm

việc làm.
Ở Việt Nam,. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, năm 2009, cả nước đã tạo việc làm cho 1,51 triệu lao động. trong đó, tạo
việc làm trong nước là 1,437 triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000
người. Mà giờ đây nước ta đã đạt gần 90 triệu người.
Trên cơ sở những nghiên cứu về thất nghiệp và tổng hợp ý kiến của
nhiều nhà kinh tế trên thế giới (1), (2), (3), (4)có thể phân loại những nguyên
nhân thất nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến từng loại hình
thất nghiệp theo bảng 1.

8


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Bảng 1. Nguyên nhân gắn với các loại hình thất nghiệp
Thất
Thất nghiệpThất nghiệp
Nguyên nhân thất nghiệp
nghiệp
tạm thời
cơ cấu
nhu cầu
* Không có thông tin về tình hình trên thị trường +++
lao động.
* Do sự di chuyển của người lao động
+++
* Tham gia thị trường lao động lần đầu

* Chính sách tiền lương tối thiểu của Chính phủ
+++
* Đình đốn nhu cầu và suy thoái kinh tế
++
* Cơ chế sử dụng lao động trong khu vực nhà nước
++
* Chi phí lao động quá cao
+++
* Năng suất lao động thấp
* Do tính chất mùa vụ của sản xuất
(+ : ảnh hưởng ít ; ++ : ảnh hưởng vừa; +++ : ảnh hưởng nhiều)

+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++

Trong bảng 1 ta thấy một nguyên nhân có thể gây ra nhiều hơn một loại
hình thất nghiệp. Ví dụ, suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế gây
ra thất nghiệp nhu cầu nhưng cũng tác động đến một số ngành và lĩnh vực kinh
tế gây ra thất nghiệp cơ cấu. Chính sách tiền lương tối thiểu theo hướng cao có
thể ảnh hưởng đến việc làm gây ra thất nghiệp cơ cấu, đặc biệt với những người
tham gia thị trường lao động lần đầu và những người chưa có tay nghề hoặc tay
nghề thấp; đồng thời làm giảm nhu cầu lao động của một số doanh nghiệp. Cơ
chế cứng trong sử dụng lao động tại DNNN gây ra cả thất nghiệp cơ cấu và thất
9


Ta có thể phân loại thất nghiệp theo các cách như sau:
* Căn cứ vào tính chất thất nghiệp:
10


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

- Thất nghiệp tự nhiên: Xảy ra do có sự chênh lệch giữa cung - cầu lao
trên thị trường lao động. Loại thất nghiệp này có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ lạm
phát.
- Thất nghiệp cơ cấu: là thất nghiệp gây ra do mất cân đối giữa cung và
cầu về kỹ năng, ngành, nghề, hoặc địa điểm. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi mở
rộng ngành này, đồng thời thu hẹp ngành khác, dẫn đến cầu về lao động trong
từng ngành, nghề thay đổi. Trong khi đó, cung về lao động không kịp thay đổi,
do người lao lao động trong ngành nghề cũ không có đủ kỹ năng để làm việc
trong ngành nghề đang được mở rộng. Nhu cầu được đào tạo lại của những
người này là rất lớn.
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển lao động giữa các vùng,
miền,, thuyên chuyển công tác giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản
xuất. Dù là vì lý do gì, thì những người lao động cũng cần thời gian để tìm công
việc mới phù hợp.
- Thất nghiệp chu kỳ: Xảy ra do mức cầu về lao động giảm xuống. Theo
chu kỳ hoạt động, khi nền kinh tế bắt đầu rơi vào thời kỳ suy giảm, sản xuất bị
thu hẹp dẫn đến mức cầu lao động giảm sút, gây ra thất nghiệp. Loại thất nghiệp
này mang tính chu kỳ.
- Thất nghiệp thời vụ: Phát sinh theo các chu kỳ sản xuất kinh doanh. Loại
thất nghiệp này thường thấy trong các ngành mà hoạt động sản xuất phải dựa
vào các yếu tố tự nhiên như: xây dựng, du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp.

- Thất nghiệp bán phần: Là trường hợp người lao động vẫn có việc làm,
nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt
3 – 4 giờ trong một ngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm. Hiểu rõ mỗi
loại thất nghiệp giúp đánh giá mức độ tác động của chúng, đưa ra các biện pháp
khắc phục thích hợp và có hiệu quả.
Để đỡ phức tạp và có cách hiểu đồng nhất, thuận lợi cho việc xác định
nguyên nhân và đề xuất những công cụ, giải pháp thích hợp, em xin chia chia
các loại hình thất nghiệp đã nêu thành 3 nhóm : thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp
cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu.
Thất nghiệp tạm thời là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không
có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện
lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người
lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế.
12


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do không phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động
theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc). Sự không phù hợp có thể là do
thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng
lao động.Nó biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà GDP tăng trưởng cao
nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn trầm trọng hơn với một số
đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái,
dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.

Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng
của công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và
sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm. Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với
người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế.
Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động
nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc
tìm cơ hội thu nhập khác.
+) Ảnh hưởng tới tâm lý
Người thất nghiệp dễ ở trong tình trạng mình là người thừa tuy nhiên sự
tác động là khác nhau giữa hai giới. Ở phụ nữ nếu không có việc làm ngoài thì
việc nội trợ và chăm sóc con cái vẫn có thể được chấp nhận là sự thay thế thỏa
đáng, ngược lại ở người nam, đem thu nhập cho gia đình gắn chặt đến giá trị cá
nhân, lòng tự trọng. Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ
cáu bẳn, họ có thể tìm đến rượu, thuốc lá để quên đi buồn phiền, tình trạng này
kéo dài ngoài khả năng gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe còn có thể
khởi tạo một vấn đề mới đó là bạo hành gia đình. Họ cũng dễ bị rối loạn tâm lý
như buồn phiền, mất ngủ, trầm cảm và như đã nói ở trên đôi khi còn dẫn đến
hành vi tự sát.
+) Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp
– các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hộisản xuất thêm sản
phẩm và dịch vụ.
14


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản

Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và
lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát
cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố
kích thích phát triển kinh tế – xã hội.
+) Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.
Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập.
Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó
ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị
trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ
giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp
“đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn
họ đến những sai phạm đáng tiếc…
+) Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.
Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi
công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực
xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự
ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có
thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc
gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.
Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”,
không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các
chính sách đồng bộ, phải luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế –
xã hội. Bởi lẽ, thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng
(giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường.

tăng cường hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh, đã dẫn đến đổi mới lao
động trong DN thuộc các ngành nghề. Các năm 1999-2000 lao động thất nghiệp
trong khu vực DN nhà nước chiếm khoảng 7,2% tổng số lao động của khu vực
này, bao gồm lao động của các DN bị phá sản, giải thể, DN chuyển đổi sở hữu,
cơ cấu lại. Đồng thời , phần lớn hợp tác xã kiểu cũ chuyển đổi hình thức sở hữu
hoặc giải thể và xã viên mất việc làm, bổ sung bào đội ngũ thất nghiệp, tác động
đến quan hệ cung- cầu lao động trên thị trường lao động.
17


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

- Để tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, DN,
các thành phần kinh tế đã thực hiện các giải pháp như : đổi mới công nghệ, nâng
cao chất lượng lao động, cơ cấu lại sản phẩm và tổ chức lại sản xuất , nâng cao
trình độ quản lý , kết quả dẫn đến biến động lao động, một bộ phận bị đưa ra
khỏi dây chuyền sản xuất kinh doanh, trở thành thất nghiệp. Số liệu khảo sát thị
trường lao động gần đây cho thấy, tại Bình Dương các năm gần đây tỷ lệ lao
động rời DN là 18,68%, con số tương tự này tại Cần Thơ : 8,97%, Đồng Nai :
12,92%, TP.HCM: 22,66%, Hải Phòng 9,4%. Xu hướng thất nghiệp này xảy ra
thường xuyên, với biên độ cao hơn trong giai đoạn đầu tham gia mạnh mẽ vào
quá trình tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa kinh tế.
- Trong các năm phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng lực lượng lao
động của nước ta khoảng 2,7-2,8%/năm trong khi tốc độ tăng việc làm là 2,32,4%/năm. Ở khu vực thành thị, với mức cung lao động cao hơn so với cầu lao
động. Đại bộ phận là lao động lần đầu bước vào tuổi lao động, chưa qua đào tạo,
không có kỹ năng nghề nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xu hướng tất yếu
là thu hẹp dần số việc làm giản đơn và phát triển số việc làm kỹ thuật, việc làm
có năng suất lao động cao. Các ngành : công nghệ thông tin, viễn thông…và các

nghiệp và xây dựng, và một phần của ngành dịch vụ.
Theo nhóm nghề, gia nhập WTO mang lại cơ hội cho nghề yêu cầu kỹ
năng, đặc biệt là lao động quản lý, dịch vụ và lao động kỹ thuật. Năm 2009, các
nghề lao động giản đơn chỉ còn chiếm trên 40% lực lượng lao động, tuy nhiên,
cung đào tạo không theo kịp cầu đào tạo.
Khu vực FDI đã dần thay thế khu vực nhà nước trong tạo việc làm có
chất lượng kỹ thuật. Lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các cam kết
của chính phủ, khiến cho số lượng doanh nghiệp nhà nước bị thu hẹp lại. Cùng
với dòng vốn chảy vào, khu vực đầu tư nước ngoài có những đóng góp rất đáng
kể cho việc tạo việc làm. Tốc độ tăng việc làm của khu vực FDI rất cao, sau khi
vào WTO còn cao hơn (từ 13,98% thời kỳ 2000-2006 lên mức 16,4% thời kỳ
hội nhập. Sự có mặt của khu vực này đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao
động từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt là vào các khu chế xuất, khu công
nghiệp lớn. chiếm 3,4% trong tổng số việc làm năm 2009.
Khu vực kinh tế tư nhân, tăng rất chậm, đặc biệt nếu so với tốc độ tăng
trưởng kinh tế của khu vực này. Sau gần 10 năm, số lượng lao động làm việc
trong khu vực này không tăng lên đáng kể, chỉ chiếm khoảng 6-8% việc làm. Dù
năm 2007 khu vực này phát triển nhanh với gần 1 triệu việc làm mới được tạo
19


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

ra, tuy nhiên khủng hoảng tài chính năm 2008 đã khiến cho lao động bị giảm và
bước đầu phục hồi vào năm 2009. Do đặc điểm nhỏ bé, khu vực kinh tế tư nhân
của Việt nam đặc biệt nhạy cảm với các biến động bên ngoài.
Khu vực kinh tế phi chính thức, bao gồm hộ gia đình không trả lương và
tự làm, vẫn chiếm một tỷ lệ rất cao và vẫn tiếp tục tăng sau khi vào WTO, mặc


vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, kích thích sự hoạt động
sôi động của thị trường lao động. Các năm qua , khoảng hơn 22% lao động nông
thôn thay đổi nghề, có mức thu nhập bình quân tăng 30-50% so với các hoạt
động trước đó. Một số khu chế suất, khu công nghiệp tập trung thu hút trên 70%
lao động di chuyển từ nông thôn đến ( khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương,
Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…) nhưng bên cạnh đó là tình trạng thất
nghiệp cơ cấu diễn ra phổ biến.
Thất nghiệp tự nguyện có khuynh hướng gia tăng , năm 1998 khoảng
4.8 triệu người và năm 2003 có khoảng 2,547 triệu người làm nội trợ và 4,414
triệu người không có nhu cầu làm việc chiếm hơn 7% lao động từ 15 tuổi trở
lên. Số liệu điều tra cho thấy, có tới 40-50% số lao động này muốn tìm việc
làm , nhưng không tìm được việc làm phù hợp, đây cũng là nguồn cung lao động
tiềm năng cho thị trường lao động.
Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại thất
nghiệp do nguyên nhân bất cập của hệ thống đào tạo.Đó là việc đào tạo theo
ngành nghề chưa phù hợp với nhu cầu , tín hiệu của thị trường lao động.

1.2. Tổng quan về BHTN
1.2.1. Khái niệm
BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo
hiểm thất nghiệp - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người
lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn
định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm.
Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp
mất việc làm khác với việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình
thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động,
người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự
21


nước khác ở Châu Âu như :Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức…Sau cuộc
tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước Châu Âu và Bắc
22


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn: ở Mỹ năm
1935,Canađa vào năm 1939.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ứơc số102,
năm 1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã
triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Tính đến năm 1981, có 30 nước thực
hiện BHTN bắt buộc và 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện, đến năm 1992
những con số trên là 39 và 12 nước. Ở Châu Á , các nước như Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc,…đều đã thực hiện BHTN.\
b) Ở Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế thị trường đang có sự tác động sâu
sắc đến nền kinh tế cả nước, đặc biệt là khu vực kinh tế công nghiệp; thương
mại mà các doanh nhgiệp sản xuất – kinh doanh chiếm đa phần tỷ trọng tăng
trưởng.Tuy nhiên, song song với những tác động tích cực của hội nhập kinh tế
quốc tế, trong giai đoạn hiện nay, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu cũng
đang đem lại những tác động xấu đối với tình hình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, đặc biệt là tình trạng mất việc làm của người lao động. Hàng năm
có từ 1,1 đến 1,2 triệu người bước vào tuổi lao động, nhưng khả năng thu hút lao
động của nền kinh tế lại có hạn.Không ai có thể chắc chắn mình sẽ có một công
việc ổn định suốt cả đời, nhất là khi nước ta đang đứng trước ngưỡng cửa gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Việc gia nhập WTO vừa mang lại cơ hội cho người lao động, vừa đặt ra


"Bảo hiểm thất nghiệp là một nhu cầu cấp thiết của xã hội cần được
thể chế hoá và là điều kiện cần được đề ra cho các công ty nhà nước và tư
nhân khi thành lập doanh nghiệp"
Chế độ bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo sự ổn định cho người lao
động khi xu hướng di chuyển công việc, tình trạng mất việc có thể gia tăng.
1.2.3. Nội dung của BHTN
1.2.3.1. Đối tượng, đối tượng tham gia của Bảo hiểm thất nghiệp
a) Đối tượng:

24


Học viện tài chính

Đề tài nghiên cứu khoa học

Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ khó quản lý nhất trong hệ thống các
chế độ bảo hiểm xã hội vì nhiều người vẫn có thể nhận trợ cấp thất nghiệp trong
khi vẫn có thu nhập từ một công việc không được đăng ký hoặc một công việc
nào đó trong khu vực phi chính thống. Bên cạnh đó, việc trốn tránh đóng góp
bảo hiểm xã hội thường xảy ra, vì vậy trước hết phải qui định bảo hiểm thất
nghiệp là một chế độ bảo hiểm bắt buộc. Như vậy, có thể áp dụng đối tượng
tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được
qui định tại Điều 141 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung.
Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ là người lao động làm việc
theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động
không xác định thời hạn.
1.2.3.2. Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
Việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp của các quốc gia tuy hoàn toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status