Mua bán sát nhập ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp - Pdf 28

MỞ ĐẦU
Sát nhập và mua lại (M&A) là một khái niệm không mới đối với những nền
kinh tế phát triển trên thế giới. Tại Mỹ, hoạt động này xuất hiện từ đầu thế kỉ 20,
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm gắn liền với những chu kì phát triển kinh tế
nóng. Tại Anh chỉ tính từ năm 1986 đến 1989 ở Anh, đã có khoảng 5.200 công ty
công nghiệp, thương mại M&A lẫn nhau (trung bình mỗi năm có 1301 công ty).
Bước sang thế kỉ 21, làn sóng M&A đang ngày càng phát triển và mở rộng đặc
biệt tại khu vực châu Á, nơi có hàng loạt các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc,
Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Đông, …
Cụm từ M&A tại Việt Nam mới xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây
nhưng những hoạt động về số lượng và cả quy mô của nó đã thu hút sự quan tâm
đặc biệt của các chuyên gia kinh tế, các nhà hoạch định chính sách cũng như giới
đầu tư trong và ngoài nước. M&A mang lại những lợi ích nhất định cho cả doanh
nghiệp và nhà đầu tư, nhưng cũng không thể phủ nhận chỉ cần những tính toán sai
lầm cũng có thể khiến một thương vụ M&A sụp đổ. Có nhiều yếu tố mà các nhà
lãnh đạo doanh nghiệp phải xem xét khi tiến hành hoạt động này, trong đó thương
hiệu là một yếu tố đóng vai trò không nhỏ. Trong kinh doanh, thương hiệu được
đánh giá là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Bài nghiên cứu này xin cung cấp
những tìm hiểu và thông tin tổng hợp nhất về tất cả các vấn đề liên quan đến
thương hiệu trong hoạt động M&A. Nội dung gồm 4 phần chính:
- Tình hình M&A trên thế giới hiện nay và triển vọng tại Việt Nam
- Vai trò của yếu tố thương hiệu trong các quyết định M&A
- Vấn đề định giá thương hiệu trong M&A
- Vấn đề xây dựng thương hiệu sau M&A
1. Tình hình M&A trên thế giới hiện nay và triển vọng tại Việt Na m
1.1 . Bản chất và các động cơ cơ bản thúc đẩy M&A
Thực chất của hoạt động M&A là việc một công ty tìm cách nắm giữ quyền
kiểm soát đối với một công ty khác thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ số
lượng cổ phần hay tài sản của công ty mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ
các quyết định của công ty đó. Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định cụ thể
trong Luật Công ty (hay Luật Doanh nghiệp) của từng nước. Ví dụ ở Việt Nam tỷ

USD) nhằm mở rộng sang thị trường Mỹ và cạnh tranh với Nike.
Tóm lại, bất kì chiến lược kinh doanh nào của các doanh nghiệp đều hướng
đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Lịch sử đã chứng minh các giao
dịch M&A nếu biết cách vận dụng hiệu quả sẽ đem lại lợi ích khổng lồ. Có thể
nhắc đến một ví dụ kinh điển vào năm 1929, khi kinh tế thế giới lâm vào khủng
hoảng, lạm phát, nhà kinh doanh vận tải biển người Hy Lạp Aristote Onassis đã
dốc toàn bộ vốn liếng của mình mua 6 chiếc tàu vận tải loại lớn với giá rất rẻ của
Công ty đường sắt Canada. Lúc đó ngành vận tải biển cũng như nhiều ngành khác
đang khó khăn trầm trọng, nhiều người cho rằng việc mua lại tàu của ông là việc
làm đem tiền đi đốt. Onassis không hề dao động mà tin rằng khủng hoảng sẽ qua
đi, kinh tế phục hồi và nghề vận tải biển sẽ phát triển mạnh. Khi Chiến tranh thế
giới II bùng nổ vào năm 1939, các chủ thuyền kinh doanh vận tải biển trên các
tuyến đường biển Đại Tây Dương, Thái Bình Dương đã phát tài. 6 chiếc tàu lớn
của Onassi đã trở thành 6 mỏ vàng, góp phần đưa Onassis trở thành một trong
những người giàu nhất thế giới.
1.2. Làn sóng M&A trên thế giới
Các giao dịch M&A thực sự trở nên mạnh mẽ tính từ sau cuộc khủng hoảng
tài chính châu Á 1997. Hoàn toàn dễ hiểu khi sự phát triển của M&A song hành
cùng sự phát triển của nền kinh tế. Các chuyên gia cũng cho rằng, một trong
những nguyên nhân giúp giá trị các vụ sáp nhập ngày một gia tăng là xu hướng cổ
phần hóa, tư nhân hóa đang trở nên phổ biến hơn ở nhiều nước, đặc biệt là tại các
nền kinh tế đang phát triển, tạo nguồn hàng dồi dào hơn cho các nhà đầu tư đang
có tiền nhãn rỗi.
Năm 2006, hoạt động M&A trên thế giới diễn ra mạnh mẽ trên hầu hết các
lĩnh vực, nâng tổng giá trị của hoạt động này tới con số 3.460 tỷ USD, năm 2007
đạt 4.400 tỷ USD.
Lướt qua tất cả các lĩnh vực, chúng ta có thể nhận định rằng, ngân hàng là
ngành có hoạt động M&A diễn ra sôi động nhất. Đầu tiên phải kể đến là hai đại
gia ngân hàng, một của Hà Lan - ABN Amro NV và một của Anh - Barclays PLC
- đã chính thức sáp nhập với nhau với trị giá hơn 91 tỷ USD. Đây được coi là

năm 2009, trong khi hoạt động M&A trên thế giới có sự giảm sút cả về số lượng
và giá trị giao dịch thì tại Việt nam, số thương vụ M&A ước tính đạt 287 và giá
trị giao dịch đạt 1,09 tỷ USD- nghĩa là số thương vụ tăng lên 71% so với năm
2008, và thấp hơn 35% so với giá trị M&A của năm cao nhất là năm 2007.
Như vậy, thị trường M&A của nước ta còn rất non trẻ nhưng có tốc độ tăng
trưởng cao. Nhìn vào các thương vụ M&A ta rút ra một số đặc điểm sau:
Một là, đa số các vụ M&A đáng kể đều có yếu tố nước ngoài. Cũng có một
vài vụ sáp nhập giữa doanh nghiệp trong nước như Ngân hàng ACB mua ngân
hàng Đại á, Kinh Đô mua Tribeco hay Gạch Đồng Tâm mua Sứ Thiên Thanh,
nhưng hầu hết những vụ còn lại đều có sự tham gia của ít nhất một bên là doanh
nghiệp nước ngoài.
Hai là, hình thức M&A của Việt Nam mang tính “thân thiện” nhiều hơn.
Hầu như thị trường chưa ghi nhận vụ thôn tính mang tính thù địch nào. Các vụ
sáp nhập thể hiện rõ sự hợp tác và ở một góc độ nào đó có thể nói, vẫn mang hơi
hướng của hình thức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
trước đây.
Ba là, cách thức và tác nghiệp M&A còn sơ khai. Các vụ M&A chủ yếu là
thâu tóm hay được gọi phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng là mua
bán doanh nghiệp (toàn bộhoặc một phần). Hầu như chưa có trường hợp hợp
nhất. Ngoài ra, rất nhiều vụ được xếp vào M&A nhưng thực chất thiên về đầu tư
tài chính. Đó chỉ là những trường hợp nắm vốn của nhau, mua lại cổ phần lớn để
trở thành đối tác chiến lược (VinaCapital đầu tư vào Phở 24, Dược Hậu Giang,
Hilton Opera; Indochina Capital – Mai Linh; Jaccar Fund - Hoàng Anh Gia Lai)
mà không nhắm đến khống chế sở hữu và điều hành công ty (thâu tóm).
Bốn là, một đặc điểm khác biệt về thị trường M&A Việt Nam với các nước
trong khu vực là các thương vụ M&A tại Việt Nam chủ yếu diễn ra trong các lĩnh
vực tài chính – ngân hàng, bán lẻ và phân phối, hàng tiêu dùng… Tính chung
toàn khu vực, các lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là tài chính, công nghiệp và
hàng tiêu dùng (mỗi lĩnh vực chiếm 20% số lượng thương vụ) thì tại Việt nam
lĩnh vực tài chính chiếm 31% về số lượng thương vụ và 48% về giá trị giao dịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status