THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN Ở BAN
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM
1. Giới thiệu tổng quan về Ban quản lý dự án đường sắt Việt Nam:
1.1. Chức năng:
Ban Quản lý dự án đường sắt (Ban QLDA ĐS) thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Chủ đầu tư về QLDA bước thực hiện đầu tư từ khi dự án
được phê duyệt đến khi bàn giao đưa vào khai thác sử dụng đối với các dự
án đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt do Cục Đường sắt Việt
Nam là Chủ đầu tư.
Đối với các dự án có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
và các dự án có đặc thù riêng, Cục ĐSVN sẽ có quyết định giao cụ thể cho
Ban QLDA ĐS thực hiện một số nhiệm vụ của Chủ đầu tư theo quy định của
pháp luật về Quản lý đầu tư xây dựng, tuân thủ hiệp định ký kết giữa Việt
Nam và nhà tài trợ quốc tế và theo điều ước quốc tế cụ thể về ODA.
Ban QLDA ĐS được sử dụng bộ máy của mình để thực hiện dịch
vụ tư vấn quản lý dự án cho các Chủ đầu tư khác. Việc tư vấn QLDA này
phải thông qua hợp đồng kinh tế và không ảnh hưởng đến việc thực hiện các
nhiệm vụ do Cục ĐSVN giao và phải được Cục ĐSVN chấp thuận bằng văn
bản.
1.2. Nhiệm vụ:
Với các chức năng đã được xác định như trên, Ban QLDA ĐS có
các nhiệm vụ sau:
i. Thay mặt Chủ đầu tư quản lý quá trình đầu tư và xây dựng các dự
án đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt do Cục
Đường sắt Việt Nam là Chủ đầu tư theo quy định của pháp luật
về đầu tư xây dựng công trình, bao gồm:
• Lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng;
• Khảo sát, thiết kế xây dựng;
• Thi công xây dựng;
• Giám sát thi công xây dựng công trình.
ii. Thực hiện công tác Giải phóng mặt bằng, công tác nghiệm thu,
kinh phí hoạt động của BQLDA;
- Chủ trì ký kết các hợp đồng kỹ thuật, quản lý các hợp đồng kinh tế với
các đơn vị tư vấn để thực hiện việc lập các Báo cáo nghiên cứu;
- Tập hợp các số liệu xây dựng kế hoạch vốn hàng năm cho các dự án;
- Theo dõi việc thực hiện kế hoạch xây dựng cơ bản, tình hình giải ngân
theo kế hoạch;
- Giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách thuế;
- Tham gia vào hội đồng nghiệm thu cơ sở, bàn giao công trình, tổ
thanh quyết toán dự án.
Phòng tài chính – kế toán thực hiện chức năng cân đối các nguồn vốn,
lập kế hoạch thu chi theo kỳ của Ban; tổ chức thực hiện công tác giải
ngân, thanh toán, cấp phát vốn cho các đơn vị có liên quan và thực hiện
công tác quyết toán dự án hoàn thành, làm việc với đơn vị kiểm toán và
thanh tra.
Các phòng Quản lý dự án có chức năng:
- Tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế lập Báo cáo nghiên cứu tiền
khả thi và Báo cáo nghiên cứu khả thi;
- Cung cấp nội dung, số liệu để lập và trình duyệt kế hoạch đấu thầu,
chủ trì trình duyệt hồ sơ mời thầu, phương pháp đánh giá thầu chi
tiết, chủ trì thực hiện công tác đấu thầu;
- Tổ chức triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng các dự
án;
- Tổ chức theo dõi, thực hiện về tiến độ, chất lượng các hợp đồng
xây lắp, tư vấn giám sát thi công,…
Trong đó:
Phòng QLDA 1 được giao nhiệm vụ quản lý thực hiện tiểu dự án
Hạ Long – Cảng Cái Lân và vầu vượt Bàn Cờ (tiểu dự án 1) và sắp tới sẽ
thực hiện quản lý tiểu dự án Yên Viên – Lim (tiểu dự án 4).
Phòng QLDA 2 được giao nhiệm vụ quản lý thực hiện tiểu dự án
Lim – Phả Lại (tiểu dự án 2).
hoạt động xây dựng. Theo đó, các hành vi xây dựng sai thiết kế, sai
quy hoạch sẽ bị phạt tới 500 triệu đồng và bị tước giấy phép xây dựng.
3) Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Nghị định này thay thế cho
Nghị định số 16/2005/NĐ-CP và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP về
quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
4) Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 209/2004/NĐ-CP. Một số nội dung trong
209/2004/NĐ-CP đã được chỉnh sửa theo hướng phân định rõ trách
nhiệm của các bên tham gia dự án, nâng cao quản lý chất lượng công
trình,…
5) Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình. Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về
quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
6) Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về
quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Nghị định này hướng dẫn
thi hành Luật Xây dựng về lập, thực hiện dự án đầu tư xây dựng công
trình, thay thế Nghị định số 52 và số 12 NĐ-CP trước đây.
7) Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về
quản lý chất lượng công trình xây dựng. Nghị định này hướng dẫn thi
hành Luật Xây dựng về: khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo
hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng trên lãnh thổ
Việt Nam.
8) Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 Ban hành Quy chế và
sử dụng nguồn vốn ODA. Quy chế này điều chỉnh công tác quản lý và
sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức.
9) Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2007 quy định về
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
10) Thông tư số 03/2007/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và đầu tư ngày
Dự án xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long –
Cái Lân đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư tại Văn bản số
75/CP – CN ngày 09/01/2004. Đây là dự án thành phần của “Hành lang giao
thông Đông – Tây” trong Chương trình Hợp tác Tiểu vùng lưu vực sông Mê
Kông mở rộng cũng như “Một vành đai, hai hành lang kinh tế” trong chương
trình hợp tác của Việt Nam với Trung Quốc.
Đây là tuyến đường sắt quan trọng, khi hoàn thành sẽ góp phần
hoàn thiện mạng lưới GTVT khu vực phía Bắc nhất là khu tam giác trọng
điểm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, thúc đẩy các ngành kinh tế
phát triển nhanh, thúc đẩy giao lưu hợp tác quốc tế, tạo cơ hội việc làm cho
nhiều người lao động và tạo đà phát triển cho du lịch trong khu vực.
Tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân được
tính từ ga Yên Viên (Hà Nội) đến cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với tổng chiều
dài hơn 130 km. Dự án thực hiện trên địa bàn của 4 tỉnh, thành: Hà Nội, Bắc
Ninh, Hải Dương và Hạ Long. Trong số 130 km có 40 km đường sắt được
xây dựng mới, 90 km còn lại được nâng cấp cải tạo.
Tuyến đường sắt này được thiết kế với tiêu chuẩn kỹ thuật cao, tốc
độ lớn 120 km/h cho tàu khách và 80 km/h cho tàu hàng. Khi hoàn thành đây
sẽ là tuyến đường sắt hiện đại nhất ở thời điểm hiện nay của nước ta, ứng
dụng nhiều công nghệ kỹ thuật hiện đại của nước ngoài.
Dự án hoàn thành sẽ nâng cao chất lượng tuyến đường, chất lượng
vận tải hành khách và hàng hóa trên tuyến, nâng cao tốc độ đoàn tàu và rút
ngắn hành trình chạy tàu, đáp ứng nhu cầu đi lại và nhu cầu vận chuyển hàng
hóa của xã hội.
Dự án được xây dựng phù hợp với Quy hoạch phát triển GTVT
đường sắt Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt
tại Quyết định số 06/2002/QĐ-TTg ngày 07/01/2002.
Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn từ Trái phiếu chính phủ, dự
kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2010. Chủ đầu tư là Cục ĐSVN.
Dự án được chia thành 4 tiểu dự án sau:
Tổng giá trị ước tính là 13.937 triệu VNĐ.
Hình thức lựa chọn nhà thầu:
Các gói thầu từ 1 – 10: Đấu thầu rộng rãi trong nước
Phương thức đấu thầu: Một túi hồ sơ
Các gói thầu từ 11 – 19: Chỉ định thầu
Gói thầu 20: Chào hàng cạnh tranh
3- Phần công việc sử dụng vốn địa phương: đầu tư vào các hạng mục
nền vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng,…tổng giá trị ước khoảng 6.114 tỷ
đồng, do địa phương tự duyệt kế hoạch đấu thầu.
2.1.1.2. Tiểu dự án Lim – Phả Lại:
Địa điểm đầu tư: Các huyện Tiên Du, thành phố Bắc Ninh, huyện
Quế Võ thuộc tỉnh Bắc Ninh và huyện Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương.
Nguồn vốn đầu tư: Trái phiếu Chính phủ
Hình thức QLDA: Chủ nhiệm điều hành dự án
Tổng mức đầu tư của tiểu dự án: 2.012.736 triệu đồng
Trong đó:
- Xây lắp: 1.559.868 triệu đồng
- Thiết bị: 12.516 triệu đồng
- Chi phí khác: 257.376 triệu đồng
- Dự phòng: 182.976 triệu đồng
Thời gian thực hiện:
- Khởi công: năm 2005
- Hoàn thành: năm 2009
Theo kế hoạch đấu thầu đã được Bộ GTVT phê duyệt tại Quyết định
số 4759/QĐ-BGTVT ngày 12/12/2005, tiểu dự án được chia thành 27 gói
thầu, bao gồm:
- 10 gói thầu xây lắp (1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9 10, 11);
- 04 gói thầu mua sắm hàng hóa thiết bị (7, 14, 15, 16);
- 02 gói thầu thông tin tín hiệu (12, 13);
- 11 gói thầu chi phí khác (bảo hiểm, tư vấn giám sát, khảo sát thiết
triệu đồng.
Ngoài các gói thầu số 18, 32, 33, 34 thuộc gói thầu dịch vụ tư vấn
là áp dụng hình thức Chỉ định thầu do các gói thầu này có giá trị nhỏ hơn
500 triệu đồng phù hợp với quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 20 của luật
Đấu thầu. Tất cả các gói thầu còn lại đều tổ chức đấu thầu rộng rãi trong
nước với hình thức 1 hoặc 2 gói hồ sơ tùy đặc điểm từng gói thầu cụ thể.
2.1.1.4. Tiểu dự án Yên Viên – Lim:
Cục ĐSVN đang trình Bộ GTVT phê duyệt Quyết định đầu tư của
tiểu dự án.
2.1.2. Dự án Đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông:
Theo Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến
năm 2020: “Đến năm 2020, đường sắt đô thị Hà Nội sẽ đóng vai trò chính
trong hệ thống vận tải hành khách công cộng tốc độ cao, khối lượng lớn, có
chức năng gắn kết các khu đô thị, khu công nghiệp, các trung tâm thương
mại – dịch vụ - du lịch – trường học.” Theo Quy hoạch, mạng lưới Đường
sắt đô thị Hà Nội đến năm 2020 sẽ gồm 5 tuyến, trong đó tuyến Cát Linh –
Hà Đông là tuyến có vị trí quan trọng, kết nối với tuyến số 2.
Dự án “Đường sắt đô thị Hà Nội: Tuyến Cát Linh – Hà Đông” có
chủ đầu tư là Cục Đường sắt Việt Nam, đã được triển khai từ năm 2004, Báo
cáo nghiên cứu khả thi xây dựng tuyến đường sắt này đã được Viện thiết kế
đường sắt Bắc Kinh và Tổng Công Ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI) hoàn
thành từ năm 2005. Dự án được chính thức phê duyệt theo quyết định số
3136/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải Việt Nam, ngày 15 tháng 10
năm 2008. Tiêu chuẩn áp dụng cho dự án dựa trên Quy phạm thiết kế Metro
GB 50157 – 2003.
Tuyến Cát Linh – Hà Đông có lộ trình chạy dọc theo các nút giao
thông và các đoạn đường có lưu lượng giao thông lớn, tình trạng ùn tắc giao
thông nghiêm trọng. Khi tuyến hoàn thành xây dựng và đi vào khai thác sẽ
phát huy hiệu quả trong việc giảm bớt độ đông đúc, chật chội của giao thông
trên mặt đất, nâng cao khả năng phục vụ của giao thông công cộng, thúc đẩy
sau 2020 sẽ phát triển tuyến này tới Xuân Mai.
Theo dự kiến, giai đoạn triển khai thiết kế kỹ thuật của dự án sẽ
mất khoảng 1 năm, giai đoạn lựa chọn tư vấn mất 6 tháng và giai đoạn thi
công mất 3 năm. Do đó, nhanh nhất đến năm 2014 tuyến đường sắt Cát Linh
– Hà Đông mới hoàn thành và đi vào khai thác.
2.2. Thực trạng công tác quản lý ở BQLDA ĐS:
Hoạt động QLDA của BQLDA đường sắt hiện nay tuân thủ
nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước về QLDA, đặc biệt là Nghị định số
12/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 2 năm
2009 Về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Văn bản số 352/TTg-
CN của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 3 năm 2008 Về hình
thức hoạt động của các BQLDA.
Theo đó, xét trên các lĩnh vực: quản lý thời gian và tiến độ, quản lý
chi phí, quản lý chất lượng, thực tế hoạt động QLDA ở Ban QLDA ĐS có
thể được phân tích như sau:
2.2.1. Về công tác quản lý thời gian và tiến độ dự án:
2.2.1.1. Phương thức quản lý thời gian và tiến độ:
Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi
công xây dựng phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. Nhà
thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng
chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo
đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án.
Công tác quản lý thời gian và tiến độ được thực hiện trên cơ sở kế
hoạch tiến độ do nhà thầu lập. Trên thực tế, thời gian và tiến độ dự án do
nhiều đơn vị có liên quan cùng tham gia thực hiện quản lý. Trong đó, đơn vị
chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất là nhà thầu (có thể là nhà thầu thi
công, nhà thầu mua sắm, nhà thầu tư vấn,…).
Trong quá trình đó, Ban QLDA ĐS có trách nhiệm căn cứ vào kế
hoạch đấu thầu đã được phê duyệt phối hợp với các bên có liên quan như nhà
thầu thi công, tư vấn giám sát,…tiến hành theo dõi, giám sát tiến độ thi công