Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước trên địa bàn quận tây hồ - Pdf 34

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Mục lục
3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ
PHÍ THUỘC NSNN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ TRONG THỜI GIAN TỚI.. .70
3.3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đa dạng hóa công tác
tuyên truyền về chính sách, chế độ phí, lệ phí.............................................................70
3.3.2. Các cơ quan thu và các phường phải khẩn trương rà soát tất cả các khoản
thu hiện có. ..................................................................................................................71
3.3.3. Tăng cường quản lý quá trình thu phí, lệ phí ở tất cả các khâu trong quy
trình quản lý..................................................................................................................72
3.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình thu và sử dụng phí, lệ
phí thuộc NSNN của các đơn vị được phân cấp quản lý thu........................................73
3.3.5. Có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong quá trình tổ chức quản lý thu phí, lệ phí thuộc NSNN trên địa bàn.........75
3.4. CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN :.......................................................................77

1
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

LỜI CAM ĐOAN



GCN : giấy chứng nhận
GCN ĐKKD : giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
GCN QSH TS : giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
HHDV : hàng hóa dịch vụ
KK-KTT- TH & THNVDT : kê khai - kế toán thuế - tin học và tổng
hợp nghiệp vụ dự toán.
SDĐ

: sử dụng đất.

SDĐ NNghiệp : sử dụng đất nông nghiệp
SHNN : sở hữu nhà nước.
GTGT : giá trị gia tăng
TNCN : thu nhập cá nhân
TNDN : thu nhập doanh nghiệp
TTĐB : tiêu thụ đặc biệt
UBTVQH : ủy ban thường vụ quốc hội.

3
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

pháp lý và các dịch vụ khác do cơ quan nhà nước thực hiện. Chính vì vai trò
và tầm quan trọng nêu trên, bên cạnh nỗ lực nâng cao hiệu quả công tác quản
lý thuế của toàn xã hội cũng như ở các cơ quan quản lý thuế, việc nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thu phí, lệ phí cũng đang được cơ quan có thẩm
quyền hết sức quan tâm. Trong thời gian vừa qua, với sự ra đời của Pháp lệnh
phí, lệ phí, sự phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa các cơ quan, các cấp quản lý
trong quá trình thực hiện, nên công tác thu phí, lệ phí đã có những bước tiến
bộ đáng kể.
Tuy nhiên, trước yêu cầu quản lý thu ngân sách một cách chặt chẽ, thực
hiện nghiêm chỉnh các Luật thuế, Luật Ngân sách nhà nước, Pháp lệnh phí, lệ
phí thì việc đổi mới và hoàn thiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý thu phí, lệ phí từ hoạt động của bộ máy nhà nước, các cơ quan
thuộc khu vực nhà nước, lĩnh vực hành chính sự nghiệp là rất cần thiết.
Quận Tây Hồ thuộc khu vực phát triển của trung tâm thành phố Hà Nội,
các hoạt động của lĩnh vực hành chính sự nghiệp góp phần cải thiện nâng cao
nhiều mặt về đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Các hoạt động có thu
lệ phí, phí của ngân sách nhà nước cũng gia tăng nhiều, kéo theo công tác
quản lý thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước cũng được quan tâm và đạt
được nhiều kết quả khả quan. Mặc dù vậy, nằm trong tình hình chung của cả
5
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

nước và Thành phố Hà Nội, công tác quản lý thu và sử dụng các khoản phí, lệ

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Chương 1: Lý luận chung về phí, lệ phí và sự cần thiết phải nâng cao
hiệu quả công tác quản lý phí, lệ phí ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà
nước trên địa bàn quận Tây Hồ thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu
phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Tây Hồ.
Do phạm vi đề tài nghiên cứu rộng, vấn đề phí và lệ phí lại là vấn đề
phức tạp, thời gian và trình độ còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự chỉ giáo của các thầy cô
giáo, các cán bộ thuế tại Chi cục thuế Tây Hồ và những ý kiến đóng góp của
các bạn sinh viên để Luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày … tháng 4 năm 2011
Sinh viên
Doãn Thị Hằng

7
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp


Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Pháp lệnh Phí, lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28/08/2001 có
quy định về phí, lệ phí thuộc NSNN như sau:
- Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một số tổ chức,
cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành
kèm theo Pháp lệnh. (Điều 2)
- Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước
được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh. (Điều 3)
Như vậy, phí thuộc ngân sách nhà nước là khoản tiền mà các tổ chức, cá
nhân phải nộp khi được Nhà nước cung cấp các dịch vụ công cộng (hữu hình)
theo quy định. Khoản phí này được sử dụng để thu hồi một phần hay toàn bộ
các chi phí Nhà nước đã đầu tư để cung cấp các dịch vụ công cộng này. Tuy
nhiên, mức thu phí này thông thường không hoàn toàn vì mục tiêu kinh tế, mà
nó còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội, do đó mức thu phí này không tính đủ
chi phí mà chỉ thu hồi một phần chi phí và nó không bị chi phối nhiều bởi các
yếu tố của thị trường.
Lệ phí là khoản thu chỉ có ở các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền, không có lệ phí của tư nhân. Như vậy, lệ phí là khoản thu phát sinh ở
một số cơ quan của bộ máy chính quyền nhà nước có cung cấp các dịch vụ
công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng, cũng là khoản tiền mà người
dân có nghĩa vụ phải trả khi được thụ hưởng các dịch vụ hành chính, pháp lý

nhà nước.
• Phí và lệ phí là khoản thu mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người
nộp.
Người nộp phí và lệ phí được hoàn trả trực tiếp bằng các dịch vụ theo
yêu cầu do cơ quan nhà nước hay tổ chức, cá nhân cung cấp. Người nào có
nhu cầu nhiều thì phải trả phí, lệ phí nhiều hơn.
• Lệ phí được thu gắn với việc cung cấp dịch vụ hành chính của Nhà
nước hoặc Nhà nước ủy nhiệm cho một tổ chức nào đó thực hiện.
Việc thu lệ phí có tính chất pháp lý cao đi đôi với việc cung cấp các thủ
tục hành chính, pháp lý mà Nhà nước đảm nhận gắn với chức năng quản lý
nhà nước. Vì vậy, xét về một góc độ nào đó, mục đích chính của lệ phí là thực
hiện chức năng quản lý nhà nước, không tập trung chủ yếu vào mục đích bù
đắp chi phí và thường không mang tính ngang giá.
• Phí thường được thu với mục đích chính là bù đắp chi phí.
10
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Các dịch vụ, công việc được thu phí là rất rộng, đa dạng ở nhiều ngành,
nghề, lĩnh vực khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hoặc đáp ứng yêu
cầu quản lý của Nhà nước. Đối tượng cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công
cộng được thu phí là Nhà nước và tư nhân có điều kiện, khả năng cung cấp
các dịch vụ mà người nộp yêu cầu. Khi đó, khoản thu phí thường được xác
định liên quan đến phần chi phí bỏ ra khi cung cấp dịch vụ công cộng có thu


do đầu tư vào lĩnh vực được phép thu phí mà Nhà nước quy định. Việc thu phí
của tư nhân thì phải nộp thuế kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thông thường.
Phí tư nhân chủ yếu là từ việc cung cấp các dịch vụ công cộng từ khu
vực tư nhân như: Học phí trường tư, phí đò phà tư nhân, phí trông giữ xe tư
nhân, viện phí bệnh viện tư, phòng khám tư nhân...
- Căn cứ vào cách thức thu nộp phí được chia làm 3 loại: phí nộp 100%
cho ngân sách nhà nước, phí để lại 1 phần cho tổ chức, cá nhân quản lý thu và
phí để lại toàn bộ cho đơn vị sử dụng
+ Phí nộp toàn bộ cho ngân sách nhà nước là phí mà cơ quan thu không
được hưởng trực tiếp số tiền thu được từ phí, kinh phí tổ chức thu nộp được
cấp theo Luật Ngân sách nhà nước. Loại phí này có tác dụng là tăng thu nhập
cho NSNN và thường do Chính phủ trực tiếp ban hành và quản lý, mang tính
chất quan trọng liên quan đến lợi ích của quốc gia như phí giao thông qua giá
xăng, phí cầu, phí bảo vệ môi trường...
+ Phí để lại một phần cho tổ chức, cá nhân quản lý thu là phí mà tổ
chức, cá nhân thu được để lại số tiền thu được từ phí để chi tiêu, trang trải chi
phí thu nộp, mức để lại tùy thuộc vào dự toán năm về chi phí cần thiết cho
việc thu phí và dự toán năm về phí.
Các loại phí này thường phát sinh ở các đơn vị sự nghiệp có thu như: Phí
thuê hội trường, phí cho thuê xe, thuê cửa hàng, nhà xưởng... của các tổ chức
chính trị, chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp...
+ Các loại phí để lại toàn bộ cho đơn vị sử dụng: là các loại phí phát
sinh thường xuyên, các đơn vị thu được phí sẽ được để lại sử dụng toàn bộ bổ
sung vào nguồn kinh phí do Nhà nước cấp nhằm cải thiện điều kiện làm việc,
nâng cao chất lượng hoạt động như học phí, viện phí... Các đơn vị thu các
khoản phí này theo chế độ quy định của Nhà nước phải tiến hành ghi chép,
phản ánh rõ ràng qua hệ thống sổ sách kế toán như nguồn kinh phí NSNN cấp
12
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

cạnh tranh...), trên cơ sở bù đắp đủ chi phí và có lãi. Doanh nghiệp sẽ thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NSNN theo luật định. Vì vậy, về cơ bản, Nhà
nước không can thiệp trực tiếp vào việc hình thành "giá - phí" của các doanh
nghiệp này. Đối với một số doanh nghiệp công ích hoạt động không vì mục

13
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

tiêu lợi nhuận thì Nhà nước có thể quy định khung "giá - phí" cho các dịch vụ,
hoặc quy định mức trần của "giá - phí".
- Căn cứ vào tính hoàn trả trực tiếp và không trực tiếp phí được chia
làm 2 loại: phí có tính chất thuế và phí có tính chất bù đắp chi phí.
+ Phí có tính chất thuế: là loại phí thường không có tính ngang giá,
không có tính chất hoàn trả trực tiếp, số thu được định đoạt không được xác
định trên cơ sở chi phí bỏ ra để cung cấp hàng hóa dịch vụ thu phí mà chủ yếu
dựa trên quan điểm quản lý nhà nước về lĩnh vực thu phí đó, chẳng hạn như
phí bảo vệ môi trường.
+ Phí có tính chất bù đắp chi phí : là những loại phí nằm trong danh mục
phí do Nhà nước ban hành, việc đầu tư vào lĩnh vực được phép thu phí được
thu hồi thông qua cơ chế giá phí. Mức thu phí dựa trên lợi ích mang lại cho
người được sử dụng hàng hóa, người được cung cấp dịch vụ, thời gian dự định
thu hồi vốn đầu tư.
1.1.2.2. Các loại lệ phí

nước các cấp, phát sinh nhiều loại dịch vụ hành chính, pháp lý dẫn đến phát
sinh nhiều loại lệ phí. Hiện nay, lệ phí của các cấp chính quyền địa phương có
rất nhiều loại như: Lệ phí công chứng, lệ phí trước bạ, lệ phí cấp giấy phép
xây dựng, sửa chữa, nâng cấp nhà ở, các công trình dân dụng, lệ phí khai sinh,
khai tử, lệ phí đăng ký kết hôn, lệ phí tòa án
- Phân loại theo nội dung, tính chất của các dịch vụ phải nộp lệ phí :
Bao gồm các loại lệ phí như: Lệ phí hành chính, lệ phí pháp lý, lệ phí khác.
+ Lệ phí hành chính: Là các khoản lệ phí phát sinh gắn liền với hoạt
động hành chính của các cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ hành chính như:
Lệ phí đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhân khẩu, lệ phí sao y các giấy tờ...
+ Lệ phí pháp lý: Là những loại lệ phí phải trả cho việc đảm bảo về mặt
pháp lý nào đó của các tổ chức, cá nhân. Nói cách khác là lệ phí trả cho việc
cung cấp các dịch vụ pháp lý của các cấp chính quyền nhà nước. Loại lệ phí
này có khá nhiều như: Lệ phí công chứng, xác nhận các loại giấy tờ, quyền lợi
của công dân; lệ phí trước bạ các loại trong việc xác lập quyền sở hữu tài sản
khi thừa kế; mua, bán theo quy định của pháp luật phải đăng ký sử dụng như:
Lệ phí trước bạ ôtô, xe máy, tàu thuyền, nhà đất... Lệ phí làm chứng, đảm bảo
tính hợp pháp, như lệ phí công chứng ký kết hợp đồng, công chứng mua bán
15
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

tài sản, công chứng thừa kế di chúc, công chứng các loại văn bằng, chứng
chỉ... Lệ phí xác lập, bảo vệ quyền lợi công dân như lệ phí đăng ký kết hôn, lệ

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

- Các loại phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại
phí bảo hiểm khác.
- Hội phí của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, câu lạc bộ như: Đảng phí, Công đoàn phí,
Đoàn phí, hội phí của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…
- Cước phí vận tải, cước phí bưu chính viễn thông, phí thanh toán,
chuyển tiền của các tổ chức tín dụng.
1.1.3.2. Thẩm quyền ban hành, quy định về phí, lệ phí
Phí, lệ phí gắn với hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị mà Nhà nước quản
lý, với phạm vi rộng từ Trung ương tới cơ sở, mức độ ảnh hưởng của các loại
hàng hóa, dịch vụ thu phí, lệ phí khác nhau là khác nhau về lĩnh vực, về không
gian và thời gian. Chính vì vậy, để thống nhất các loại hình cung cấp được thu
phí, lệ phí trên toàn quốc thì danh mục phí, lệ phí phải do Quốc hội thông qua.
Còn các nội dung như đối tượng áp dụng thu, mức thu, cách thức tổ chức thu
nộp của từng loại phí, lệ phí cụ thể không nhất thiết Quốc hội phải thông qua
mà để các Bộ, Ngành, địa phương liên quan trực tiếp tới loại phí, lệ phí đó ban
hành và phải phù hợp với việc phân cấp quản lý nhà nước.
Hiện nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Danh mục phí và lệ phí
bao gồm 73 thứ phí, 42 thứ lệ phí. Chính phủ quy định chi tiết danh mục phí
và lệ phí bao gồm 158 thứ phí và 126 thứ lệ phí. Danh mục này được thống
nhất trên toàn quốc, các ngành, các cấp không được tự ý bổ sung thêm vào
danh mục phí, lệ phí.
1.1.3.3. Về mức thu phí, lệ phí

17

tài sản trực tiếp phục vụ công việc quy định thu phí.
+ Chi phí vật tư, nguyên nhiên, vật liệu sử dụng trong quá trình thực hiện
công việc quy định thu phí.
+ Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp liên quan tới tiền
lương, tiền công theo chế độ quy định.

18
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

+ Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản bảo hiểm khác
liên quan tới người lao động thực hiện công việc quy định thu phí theo chế độ
quy định.
+ Các chi phí khác trực tiếp phục vụ công việc quy định thu phí.
Mức thu lệ phí
Lệ phí chỉ có ở khu vực nhà nước, tư nhân không có lệ phí, không vì
mục tiêu bù đắp vốn đầu tư cho cá dịch vụ mà Nhà nước cung cấp. Chính vì
vậy, mức thu lệ phí được ấn định trước bằng một số tiền nhất định đối với
từng công việc quản lý nhà nước được thu lệ phí, phù hợp với thông lệ quốc
tế.
Tổ chức được thu phí, lệ phí có trách nhiệm xây dựng mức thu kèm theo
văn bản đề nghị thu lệ phí gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính trình Chính phủ
xem xét ban hành. Riêng đối với lệ phí trước bạ, mức thu được tính bằng tỷ lệ
phần trăm (%) trên giá trị tài sản trước bạ theo quy định của Chính phủ.

(2). Về việc quản lý và sử dụng số tiền phí, lệ phí được quy định cụ thể
tại điều 11, điều 12 và điều 13 của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP của Chính
phủ ban hành ngày 03/06/2002 theo nguyên tắc sau :
Đối với các khoản thu phí
- Phí thu được từ các dịch vụ không do Nhà nước đầu tư, hoặc do Nhà
nước đầu tư nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo
nguyên tắc hạch toán, tự chủ tài chính, là khoản thu không thuộc NSNN. Số
tiền phí thu được là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí; tổ chức, cá nhân
thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định hiện hành của Nhà nước trên kết
quả thu phí.
- Phí thu được từ các dịch vụ do Nhà nước đầu tư hoặc từ các dịch vụ
thuộc đặc quyền của Nhà nước, là khoản thu của NSNN, được quản lý, sử
dụng như sau:
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí đã được NSNN bảo đảm kinh
phí cho hoạt động thu phí theo dự toán hàng năm thì tổ chức thực hiện thu phí
phải nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào NSNN.
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí chưa được NSNN bảo đảm kinh
phí cho hoạt động thu phí thì tổ chức thực hiện thu phí được để lại một phần
20
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

trong số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho việc thu phí, phần còn lại
phải nộp vào NSNN.

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

+ Chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí các khoản tiền lương hoặc
tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản đóng góp theo tiền lương, tiền công
theo chế độ hiện hành.
+ Chi phí phục vụ trực tiếp cho việc thu phí, lệ phí như : văn phòng
phẩm, vật tư văn phòng, điện thoại, điện, nước, công tác phí, công vụ phí theo
tiêu chuẩn, định mức hiện hành.
+ Chi sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản, máy móc, thiết bị
phục vụ trực tiếp cho công tác thu phí, lệ phí.
+ Chi mua sắm vật tư, nguyên liệu và các khoản chi khác liên quan trực
tiếp đến việc thu phí, lệ phí.
+ Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho cán bộ, nhân viên trực tiếp
thu phí, lệ phí trong đơn vị. Mức trích lập hai quỹ khen thưởng và phúc lợi,
bình quân một năm, một người tối đa không quá 3 (ba) tháng lương thực hiện.
(4). Phần tiền phí, lệ phí nộp vào ngân sách nhà nước được phân chia
cho các cấp ngân sách và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Ngân
sách nhà nước. Đối với phí thuộc NSNN mà tiền phí thu được được Nhà nước
đầu tư trở lại cho đơn vị thì việc quản lý, sử dụng phải bảo đảm đúng mục
đích đầu tư trở lại và cơ chế quản lý tài chính hiện hành.
Phí, lệ phí có tính trực thu, người muốn nhận được hàng hóa, dịch vụ
công cộng phải trả tiền theo mức của nhà nước quy định, có tính chất bắt buộc
nhằm quản lý xã hội, do đó cần thiết phải đặt ra vấn đề miễn giảm, đặc biệt là
phí, lệ phí có tính chất thuế và có tính xã hội cao như học phí, viện phí…
1.1.3.5. Đăng ký, kê khai, nộp, quyết toán phí, lệ phí

hiện nộp tiền phí, lệ phí vào NSNN theo thông báo của cơ quan thuế thì trình
tự, thủ tục nộp NSNN được thực hiện như sau :
+ Nhận được tờ khai thu, nộp phí, lệ phí của tổ chức, cá nhân thu gửi tới,
cơ quan thuế thực hiện kiểm tra tờ khai và thông báo cho cơ quan thu phí, lệ
phí về số tiền phí, lệ phí phải nộp, thời hạn nộp và chương, loại, khoản, mục,
tiểu mục của mục lục ngân sách nhà nước quy định.
+ Căn cứ vào thông báo nộp tiền phí, lệ phí của cơ quan thuế, tổ chức, cá
nhân thu phí, lệ phí làm thủ tục nộp NSNN. Thời hạn nộp tiền phí, lệ phí vào
NSNN của tháng chậm nhất không quá 15 ngày của tháng tiếp theo. Trong
23
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

trường hợp đã đến thời hạn nộp phí, lệ phí vào NSNN mà chưa nhận được
thông báo của cơ quan thuế, tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí chủ động nộp phí,
lệ phí vào NSNN theo tờ khai; trường hợp nộp thừa thì được trừ vào số phí, lệ
phí phải nộp của kỳ tiếp theo, nếu kỳ trước nộp thiếu thì phải nộp đủ số kỳ
trước còn thiếu.
+ Việc quyết toán phí, lệ phí thuộc NSNN thực hiện cùng thời gian với
việc quyết toán NSNN. Cơ quan thuế thực hiện quyết toán số thu theo biên lai,
tổng số thu, số được để lại, số phải nộp NSNN. Cơ quan tài chính, cơ quan
thuế quyết toán số chi từ nguồn thu phí, lệ phí được để lại đơn vị theo quy
định cụ thể của Bộ Tài chính đối với từng loại phí, lệ phí.
Đối với tổ chức, cá nhân thu phí không thuộc NSNN

cầu của sản xuất và đời sống xã hội trong một thời kỳ kế hoạch. Đây là khâu
đầu tiên mang tính chất định hướng có vai trò rất quan trọng trong quản lý các
khoản thu ngân sách.
- Căn cứ xây dựng dự toán
Dự toán thu phí, lệ phí là một bộ phận của dự toán tài chính tổng hợp. Vì
vậy, khi xây dựng dự toán thu phí, lệ phí cần phải dự trên một số căn cứ sau
đây:
+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm;
+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm sau; các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài
chính và Tổng cục Thuế.
+ Chính sách chế độ thu hiện hành của Nhà nước.
+ Số kiểm tra về dự toán thu thuế do cơ quan có thẩm quyền thông báo.
+ Kết quả thu phí, lệ phí năm trước, số liệu thống kê qua các năm.
+ Thực tế hoạt động của các yếu tố trên thị trường có ảnh hưởng đến thu
phí, lệ phí.
- Quy trình lập dự toán thu phí, lệ phí
Lập dự toán thu phí, lệ phí là việc xác định các chỉ tiêu của dự toán thu
và xây dựng các biện pháp thực hiện các chỉ tiêu đã đề ra. Xét về mặt kỹ thuật
25
Sinh viên: Doãn Thị Hằng

Lớp: CQ45/02.01



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status