LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, toàn cầu hóa là một xu hướng phát
triển tất yếu của hầu hết các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển, đây không chỉ
là một cơ hội to lớn để nền kinh tế có thể bứt phá và vươn lên bắt kịp với các nước phát
triển, mà đó còn là thử thách không hề nhỏ và chứa đựng đầy tính rủi ro cao.
Chính thức mở cửa và gia nhập nền kinh tế Thế giới kể từ năm 1986, trải qua hơn
gần 30 năm, Việt Nam chúng ta đã thu về rất nhiều thành tựu được ghi nhận, cũng như
những bài học kinh nghiệm quý báu thông qua những thất bại đáng nhớ. Trong ba thập
kỉ đó, Việt Nam đã có những bước tiến dài bởi những nỗ lực không ngừng của toàn
Đảng, toàn dân, thông qua những cải cách, chính sách và đã được thực thi bằng rất
nhiều hành động. Xác định rõ quan điểm, rằng chúng ta không thể đi lên chỉ bằng sức
mạnh nội lực, Việt Nam đã nỗ lực để kêu gọi, thu hút nguồn lực, đầu tư từ bên ngoài,
một trong số đó chính là: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Và để làm hiểu rõ tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến nền kinh
tế Việt Nam như thế nào trong gần 30 năm qua, những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
đến sự phát triển của đất nước ở hiện tại và trong tương lai, nhóm đã quyết định nghiên
cứu đề tài:
Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Được sự hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Hoàng Bảo Trâm, nhóm đã đưa ra một cái
cái nhìn chi tiết về những tác động, cũng như đề xuất giải pháp để cải thiện hiệu quả
của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể đó là:
•
Đặc điểm của FDI tại Việt Nam
•
Thực trạng thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam
•
Ở Việt Nam, Luật Đầu tư 2005 đưa ra khái niệm : “FDI là hình thức đầu tư do nhà
đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam
hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở
nước ngoài theo quy định của luật này và các luật khác của pháp luật có liên quan”.
Tóm lại, ta có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của
một nước đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đủ lớn cho một dự án ở nước khác nhằm
giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu
chính để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác.
2. Một số đặc điểm FDI ở Việt Nam
Xét về quy mô các dự án FDI, phần lớn số dự án đăng kí có quy mô nhỏ. Trong năm
2014 số dự án có quy mô vốn dưới 1 triệu USD chiếm 56% số dự án đăng kí nhưng
chỉ chiếm 0,2 tổng số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam. Trong năm 2014, có 4 dự án có
Trang 3 |
vốn hơn 1 tỷ đô (trong đó có 3 dự án của Samsung đầu tư ở Thái Nguyên 3 tỷ USD,
TP Hồ Chí Minh 1,4 tỉ USD và Bắc Ninh 1 tỉ USD) chiếm trên 30% tổng vốn FDI vào
Việt Nam trong cả năm.
Các dự án FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp
chế biến chế tạo. Tính đến tháng 11 năm 2014, tổng số vốn đầu tư vào công nghiệp chế
biến, chế tạo 13,15 tỉ USD chiếm 76% tổng vốn FDI. Quy mô vốn đầu tư trên một dự
án công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,7 triệu USD, cao hơn so với quy mô bình quân
1 dự án FDI trên cả nước. Trái ngược lại, FDI thu hút vào nông, lâm, ngư nghiệp hết
sức hạn chế và có xu hướng giảm qua các năm. Trong hơn 1000 dự án FDI vào năm
2014, lĩnh vực nông, lâm, thủy hải sản chỉ thu hút được đầu tư với 14 dự án với tổng số
vốn đầu tư chỉ chiếm 0,5% tổng FDI của cả nước.
Các dự án FDI tuy có mặt ở hầu hết tất cả các tỉnh thành, nhưng lại phân bố không
đồng đều theo khu vực. Khu vực Đông Nam Bộ ( 6 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh,
Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh) dẫn đầu cả nước về
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu quả
khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó vốn nước
ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá vào cái “vòng luẩn quẩn” đó. Đặc biệt là
FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các
nước nhận đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận thích
đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả. Hơn nữa lượng vốn này còn có lợi
thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ: thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá
ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt hơn.
Qua kênh vốn, FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng
xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu
ngoại tệ từ các hoạt dộng dịch vụ cho FDI, từ đó tạo ngân sách thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
3.2.
Kênh công nghệ:
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ xảo
chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư
Trang 5 |
không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu.... và vốn vô hình như trí thức khoa hoạch bí quyết quản lý,
năng lực tiếp cận thị thường ... Do vậy đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản
nhất đối với nước nhận đầu tư.
Qua chuyển giao công nghệ, FDI có thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là
những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá
trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư.
FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối
không chỉ tăng thu nhập cho người lao động mà còn góp phần tích cực giải quyết các
vấn đề xã hội. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng rât lớn dến tốc độ tăng trưởng.
FDI có thể tạo việc làm bằng hai cách thức. Cách trực tiếp là tạo ra công việc thông
qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. Cách gián tiếp là
tạo ra những cơ hội làm việc trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài
mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họ thông qua các hợp
đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước như Việt Nam, Indonesia, Thái
Lan… cho thấy FDI đã tích cực tạo ra viễc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao
động như ngành may mặc, điện tử, chế biến.
3.4.
Tác động tràn:
Tác động tràn là tác động gián tiếp xuất hiện khi có mặt của các doanh nghiệp FDI
làm cho các doanh nghiệp trong nước thay đổi hành vi của mình như thay đổi công
nghệ, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh… Nhờ đó cải thiện nền kinh tế và góp
phần tạo ra tăng trưởng.
Có 4 kênh xuất hiện tác động tràn nhiều nhất: kênh di chuyển lao động, kênh phổ
biến & chuyển giao công nghệ, kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh tranh.
3.4.1.
Kênh di chuyển lao động
Lao động có kỹ năng, đã qua đào tạo tiên tiến di chuyển từ doanh nghiệp FDI tới
doanh nghiệp trong nước được coi là một kênh quan trọng tạo ra tác động tràn tích cực.
Tác động tràn sẽ xảy ra nếu như số lao động này vận dụng kiến thức đã học được trong
thời gian làm việc tại các doanh nghiệp FDI vào công việc trong doanh nghiệp trong
Trang 7 |
kia. Liên kết ngang là các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm.
3.4.4.
Kênh cạnh tranh
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI có thể tạo ra áp lực cạnh tranh lớn cho các
doanh nghiệp trong nước , trước hết là đối với doanh nghiệp trong cùng nhóm ngành.
Trang 8 |
Nếu như các doanh nghiệp FDI chịu sức ép cạnh tranh qua lại lẫn nhau, các doanh
nghiệp của nước nhận đầu tư đang chịu sức ép cạnh tranh mạnh ngang nhau từ hai
phía: các doanh nghiệp FDI và chính các doanh nghiệp trong nước. Trong khi doanh
nghiệp FDI chịu áp lực mạnh nhất về sản phẩm như chủng loại , mẫu mã, thì các doanh
nghiệp trong nước lại đánh giá cao nhất về công nghệ có trình độ cao hơn từ các doanh
nghiệp FDI.
Trang 9 |
CHƯƠNG II:
TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI Ở
VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam
1.1.
Quy mô và tốc độ thu hút FDI từ 1988 - 2013
lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu
kinh tế-xã hội của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp
5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng
45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13
tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8%
năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy mô vốn
vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án FDI được cấp phép trong những năm
trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính
(đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi
chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999;
năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6%
so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu
hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm
2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua
20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm
cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD
vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính
Trang 11 |
phủ, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm
2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng
tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Đặc biệt
trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn FDI vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với
sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp
(sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng biển, bất động
sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu
khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và có lợi thế so sánh. Vì vậy, những dự án trong
lĩnh vực công nghiệp vẫn đóng góp nhiều cho tăng trưởng kinh tế của nước ta.
Bảng FDI trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam (Lũy kế các dự án còn hiệu lực
đến ngày 31/12/2013)
Đơn vị: Triệu USD
Số dự
STT Chuyên ngành
án
Vốn đầu tư
1
Công nghiệp khai mỏ
82
3273
2
Công nghiệp chế biến, chế tạo
8725
125858
92
Đơn vị: Triệu USD
STT
Số dự
Chuyên ngành
án
Vốn đầu
tư
1
Dịch vụ lưu trú và ăn uống
341
10739
2
Vận tải; kho bãi
382
3563
Hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ
7
Giáo dục và đào tạo
179
742
8
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
91
1339
9
HĐ văn hóa và thể thao
142
3676
10
HĐ dịch vụ khác
Nguồn: Tổng cục thông kê.
1.2.2.
Theo chủ đầu tư
Cho đến nay, đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó 69,
1% vốn đăng kí đến từ các nhà đầu tư Châu Á, 16,2% từ EU và 11,8% từ các nhà đầu
tư Mĩ.
Các nhà đầu tư sớm nhất đến thị trường Việt Nam là các nhà đầu tư từ Úc và EU
bao gồm cả Unilever, British Petroleum và Shell. Các công ty Châu Á tham gia vào thị
trường Việt Nam chậm hơn khi Việt Nam trở thành một địa điểm đầu tư tự nhiên đặc
biệt là đối với các nhà đầu tư mở rộng sản xuất đối với dây chuyền may mặc. Các
công ty Mĩ tham gia thị trường Việt Nam muộn nhất do bị hạn chế bởi lệnh cấm của
Mĩ cho đến năm 1994.
Các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam là các quốc gia trong khu vực Châu
Á, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia,Thái Lan, Trung Quốc. Việt
Nam vẫn chưa nhận được nhiều FDI từ EU và Mỹ cũng như nhiều quốc gia phát triển
khác trên thế giới.
Cơ cấu FDI tại Việt Nam theo đối tác đầu tư (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến
ngày 31/12/2013)
(Nguồn Tổng cục thống kê)
Trong giai đoạn 1988-2013, FDI đến từ 5 quốc gia Châu Á đầu tư nhiều nhất vào
Việt Nam đã chiếm đến 58% tổng vốn đăng kí. Điều này chứng tỏ là các doanh nghiệp
EU chưa tham gia một cách tích cực vào thị trường Việt Nam mặc dù họ có những lợi
thế nhất định về qui mô. Tuy không phải là quốc gia có nhiều vốn đầu tư tại Việt Nam
nhất, nhưng Hoa Kỳ vẫn thể hiện xu thế là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam. Nhiều tập đoàn
tên tuối lớn của Hoa Kỳ như Chevron, General Elctric, ConccoPhillips, AEC, AIG,
và tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời, tiếp tục khẳng định
vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế. Cụ thể:
Trang 16 |
Vốn thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam (tính đến ngày 15/12/2014) ước đạt
12,35 tỷ USD, tăng 7,4 % so với cùng kỳ năm 2013 và tăng 2,9% so với kế hoạch năm
2014. Năm 2014, mặc dù nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng vốn giải
ngân của khu vực FDI vẫn tăng nhẹ và vượt kế hoạch đặt ra. Giải ngân dự án FDI đạt
được những kết quả trên là do công tác hỗ trợ,thúc đẩy giải ngân các dự án đã được
chú trọng hơn. Đồng thời công tác đối thoại chính sách với các nhà đầu tư đang hoạt
động tại Việt Nam nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư được đẩy
mạnh, phần nào giúp các nhà đầu tư triển khai hoạt động có hiệu quả hơn.
Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) năm 2014 đạt 101,59 tỷ USD, tăng
15,2% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm 68% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không
kể dầu thô trong 12 tháng đạt 94,41 tỷ USD tăng 16,7% so với cùng kỳ 2013.
Nhập khẩu của khu vực FDI năm 2014 đạt 84,56 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng
kỳ năm 2013 và chiếm 57% kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 12 tháng, khu vực đầu
tư nước ngoài xuất siêu 17,03 tỷ USD.
Như vậy, có thể thấy xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài là một điểm sáng
trong bức tranh kinh tế chung của Việt Nam trong năm vừa qua. Tỷ trọng xuất khẩu
của khu vực này trong tổng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng ngày càng tăng trong
các năm gần đây (năm 2010 là 54,1%; năm 2011 là 56,9%; năm 2012 là 64%, năm
2013 là 66,9%). Và trong năm 2014 đạt mức cao nhất từ trước đến nay 101,59 tỷ
USD, chiếm 68% kim ngạch xuất khẩu.
Nộp ngân sách nhà nước của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) năm 2014 đạt 5,58
tỷ USD, tăng 11,6% so với năm 2013, chiếm 21,25% tổng thu nội địa và chiếm 14,4%
chuyển giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng. Trên 80% doanh nghiệp ĐTNN sử
dụng công nghệ trung bình của thế giới, chỉ 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức
thấp và lạc hậu, cá biệt có trường hợp sử dụng công nghệ lạc hậu. Chuyển giao công
nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang – giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có
những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ.
Trang 18 |
Tỷ lệ việc làm mới do khu vực ĐTNN tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4%
trong tổng số lao động có việc làm năm 2011). Thu nhập bình quân theo tháng của
người lao động ở khu vực doanh nghiệp ĐTNN chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư
nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về nhà ở,
đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp
ứng được.
Bên cạnh đó, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang khu vực khác của nền kinh tế
còn hạn chế, có dấu hiệu chèn lấn; một số dự án được cấp phép nhưng chưa bảo đảm
tính bền vững, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên, chưa chú ý
đầy đủ tới an ninh quốc phòng.
Trang 19 |
CHƯƠNG III:
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.
1. Sự cần thiết phải có nghiên cứu định lượng về tác động của FDI đến
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
2. Tổng quan về tác động định lượng tác động FDI đến tăng trưởng kinh tế
Trong thực tế chúng ta có thể sử dụng một số phương pháp để đánh giá vai trò của
FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mà điển hình là sử dụng hệ số ICOR theo
công thức sau:
Trong đó : là hệ số ICOR của FDI trong năm t ; , là tích lũy vốn FDI năm (t) và
năm (t-1) theo giá so sánh; , là thu nhập quốc nội năm (t) và năm (t-1) theo giá so
sánh. Tuy nhiên sử dụng hệ số ICOR để đo lường vai trò của FDI tại Việt Nam gặp
phải một số vấn đề. Thứ nhất bản thân ICOR là một chỉ số đã được đơn giản hóa nên
rất khó để đánh giá các hiệu qủa của việc đầu tư FDI đến kinh tế - xã hội. Thứ hai , hệ
số ICOR có thể phản ánh không chính xác ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế
vì đầu tư ở đây ( tích lũy vốn đầu tư trong hệ số ICOR ) chỉ là đầu tư tài sản hữu hình,
còn đầu tư tài sản vô hình, tài sản tài chính không được tính đến nên phản ánh chưa
trung thực ảnh hưởng của đầu tư FDI tới thu nhập quốc dân. Thứ ba, chỉ số này không
biểu hiện được rõ ràng trình độ kỹ thuật của phía sản xuất vì ICOR là tỉ lệ đầu tư/sản
lượng gia tăng.
Vì các lý do trên, nhóm quyết định sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá hiệu
quả của FDI đến tăng trưởng kinh tế và so sánh với ảnh hưởng của đầu tư công. Việc
sử dụng mô hình kinh tế lượng sẽ có một số lợi ích sau đây:
•
Khắc phục được hạn chế về khả năng phản ánh của hệ số ICOR
•
Phân tích được tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế.
•
So sánh được mức độ ảnh hưởng của FDI và đầu tư công đến tăng trưởng
thương mại càng cao thì sự tự do thương mại càng ít bị giới hạn bởi các hàng
rào thuế và phi thuế. Chỉ số tfree có thang đo từ 1 đến 100.
Các biến số thu nhập quốc nội, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư công đều được
tính theo giá so sánh của năm 2005 để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát, từ đó phản ánh
chính xác hơn sức ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thu nhập quốc nội.
Ngoài ra, theo nhiều nghiên cứu đã từng được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam thì
có một giả định hợp lý là đầu tư trực tiếp nước ngoài không gây tác động ngay mà có
một độ trễ nhất định trong ảnh hưởng tới thu nhập quốc nội. Nhóm nghiên cứu dự đoán
rằng độ trễ ấy là không lớn hơn 2 năm (2 năm là con số trung bình cho các dự án có
vốn FDI đi vào hoạt động) nên đã đưa vào mô hình các biến để xem xét sự tác động
Trang 22 |
của chúng đến năm . Nhóm nghiên cứu cũng đưa thêm vào các biến đầu tư công của
năm và để có thể đánh giá được cả vai trò của đầu tư công trong tăng trưởng, từ đó có
thể so sánh đánh giá để thấy được vai trò của từng loại hình đầu tư đến tăng trưởng
kinh tế. Các biến số đều được đưa vào dưới dạng hàm số ln nhằm khắc phục hiện
tượng phương sai sai số ngẫu nhiên thay đổi (do làm giảm sự biến động của các biến
số), ngoài ra việc sử dụng ln cũng giúp đánh giá dễ dàng hơn do có thể đánh giá được
nếu đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc đầu tư công tăng lên 1% thì thu nhập quốc nội sẽ
tăng hay giảm bao nhiêu %.
Nhóm nghiên cứu cũng thêm 2 biến số và để đánh giá tác động cộng gộp của và .
Nếu các hệ số lớn hơn 0 thì chứng tỏ loại bỏ các hàng rào thuế quan sẽ làm gia tăng
vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế.
2.2.
Đánh giá kết quả thu được từ mô hình kinh tế lượng.
thay đổi, không có vấn đề về đa cộng tuyến, mức ý nghĩa khá cao R 2 là 99,52%, vì vậy
mô hình này được coi là khá có ý nghĩa thống kê.
• Các kết quả thu được:
+ Hệ số (có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% do p-value = 0,008 < 0,05): Đầu tư
FDI năm có tác động tích cực đến tăng trưởng năm , tác động này khá rõ nét và có ý
nghĩa thống kê. Nếu tăng đầu tư FDI lên 1% thì sau 1 năm sẽ khiến tăng trưởng kinh tế
tăng them 0,116%.
+ Hệ số (không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%): Đầu tư FDI năm có tác
động tiêu cực đến tăng trưởng năm , tác động này không rõ nét và không có ý nghĩa
thống kê.
+ Hệ số (có ý nghĩa thống kê ở mức 5%): Đầu tư công năm có tác động tích cực
đến tăng trưởng năm , tác động này khá rõ nét. Nếu tăng 1% đầu tư công năm này thì
sau 1 năm sẽ tăng trưởng kinh tế 0,473%.
+ Hệ số (không có ý nghĩa ở mức 5%): đầu tư công năm có tác động tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế năm , tuy nhiên tác động này không rõ ràng, không có ý nghĩa.
+ Hệ số khá nhỏ và không có ý nghĩa ở mức 5% do p-value lớn: Yếu tố tự do
thương mai không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả đầu tư FDI tới tăng trưởng kinh tế.
Nhận xét:
Đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, hơn nữa
nó còn khá rõ nét và có ý nghĩa về mặt thống kê. Tuy vậy, xét về mặt dài hạn ( >= 2
năm) thì đầu tư công lại tác động tiêu cực (α 0,05).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong
ngắn hạn, tác động này khá rõ nét và có ý nghĩa về mặt thống kê. Trái lại, trong dài
Trang 25 |