MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển để hội nhập với thế giới.
Mặc dù nước ta đã và đang có nhiều thành tựu lớn về kinh tế, chính trị, xã
hội…nhưng chúng ta vẫn phải đứng trước những thách thức không hề nhỏ.
Để chúng ta không bị tụt hậu so với thế giới thì cần có những con người có
năng lực và phẩm chất tốt. Xã hội ngày càng văn minh hiện đại đòi hỏi con
người cần phải tích cực chủ động, sáng tạo, thích ứng nhanh với những điều
mới và biết cách giải quyết chúng những điều kiện sống nhất định để tồn tại
và phát triển.
Con người muốn sống mà có ích cho xã hội thì cần có những phẩm chất
cần thiết như: tích cực, chủ động, tự lập, sáng tạo…. Trong đó, tự lập là một
trong những đức tính rất quan trọng mà con người không thể thiếu trong xã
hội hiện đại và phát triển như ngày nay. Một con người tự lập thì sẽ chủ động
làm tất cả mọi việc và rất dễ dàng đi đến thành công.
Để hình thành và phát triển tính tự lập cho trẻ thì nhà trường cần trang
bị những kiến thức, kĩ năng, phương pháp… giúp kích thích hình thành tính
tự lập cho trẻ. Tính tự lập của con người cần được hình thành ngay từ sớm và
càng được hình thành sớm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Chính vì vậy,
trường mầm non chính là nơi gieo mầm thuận lợi để hình thành tính tự lập
cho trẻ và các giáo viên mầm non chính là người trực tiếp giúp trẻ phát triển
tính tự lập.
Ở trường mầm non, tính tự lập của trẻ được hình thành trong hầu hết tất
cả các hoạt động của trẻ như hoạt động chơi, hoạt động tự phục vụ, hoạt động
học như khám phá MTXQ, tạo hình, thể chất…Trong quá trình KPMTXQ, thí
nghiệm là hoạt động thường hấp dẫn trẻ vì nó thỏa mãn tính tò mò, ham hiểu
biết của trẻ, đồng thời, thí nghiệm rất có ưu thế trong việc phát triển tính tự
1
2
2.
Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 56 tuổi ở trường mầm non thông qua thí nghiệm khám phá thực vật” nhằm mục
đích nâng cao mức độ phát triển tính tự lập cho trẻ, tạo nền tảng cho việc phát
triển những tính cách và năng lực cần thiết cho trẻ, chuẩn bị cho trẻ đến
trường phổ thông và cuộc sống sau này.
3.1.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: quá trình phát triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi ở
3.2.
trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi
3.
4.
thông qua thí nghiệm khám phá thực vật.
Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ dựa trên việc
tận dụng ưu thế của quá trình tổ chức thí nghiệm khám phá thực vật và thỏa
mãn được nhu cầu nhận thức của trẻ 5-6 tuổi thì mức độ phát triển tính tự lập
6.2.
6.2.1.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra
3
3
Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra (anket) đối với giáo viên để tìm hiểu
nhận thức, biện pháp, kinh nghiệm, khó khăn của giáo viên trong việc phát
triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật.
6.2.2.
Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát trẻ 5- 6 tuổi trong các hoạt động và sinh
hoạt hàng ngày của trẻ để làm rõ các biểu hiện tính tự lập của trẻ và mức độ
hình thành tính tự lập của chúng.
Chúng tôi quan sát giáo viên trong quá trình các hoạt động hàng ngày
nói chung và tổ chức thí nghiệm nói riêng nhằm làm rõ cách thức tổ chức hoạt
động của giáo viên và đặc biệt là biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ.
6.2.3.
Phương pháp đàm thoại
Chúng tôi tiến hành trò chuyện với trẻ để qua đó bước đầu làm quen
với tính cách trẻ và tìm hiểu kinh nghiệm của trẻ về việc khám phá thực vật
cũng như khả năng tự lập của trẻ 5- 6 tuổi trong quá trình tham gia vào thí
Chúng tôi tiến hành xử lý những số liệu thu thập được bằng công thức
toán thống kê.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi giới hạn đề đề tài nghiên cứu của mình như sau:
Giới hạn về nội dung
7.1.
Nghiên cứu biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua
thí nghiệm khám phá thực vật trong suốt thời gian diễn ra chủ đề: “thế giới
thực vật”.
Giới hạn về thời gian và địa điểm nghiên cứu
7.2.
Thời gian nghiên cứu là 6 tháng và địa điểm nghiên cứu là trường mầm
non Thành Công và trường mầm non Quang Minh
8.
Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ
5- 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật.
- Làm rõ thực trạng biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi
thông qua thí nghiệm khám phá thực vật.
- Đề xuất biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua thí
nghiệm khám phá thực vật.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
người có tính tự lập cao thì việc lựa chọn hành vi sẽ dễ dàng và nhanh chóng
hơn rất nhiều. Còn K. K Platonop thì cho rằng tự lập là khả năng tự điều
khiển và tích cực của cá nhân không cần sự trợ giúp từ bên ngoài. Con người
có khả năng tự lập sẽ biết đưa ra kế hoạch hợp lý, tự biết điều khiển bản thân
mình để giải quyết tình huống đưa ra một cách tốt nhất mà không cần tới sự
6
6
giúp đỡ của người khác. Những nghiên cứu này giúp ích rất nhiều cho nền
giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non. Hệ thống giáo dục nhận thấy được
hiệu quả tối ưu khi con người có tính tự lập. Từ đó, họ đưa ra mục tiêu phát
triển tính tự lập ngay từ nhỏ cho trẻ.
Bên cạnh đó một số nhà tâm lí cho rằng tự lập là phẩm chất ý chí của
nhân cách như: B. G. Ananhiep, T. I Galine…Những tác giả này coi tự lập là
khả năng của bản thân, bản thân biết cố gắng để giải quyết những tình huống
theo hướng tích cực. Con người có ý thức sẽ biết cách thích nghi cao với môi
trường xã hội. Cá nhân có tính tự lập sẽ có những sáng kiến riêng của bản
thân. Với ý chí và nỗ lực cao, cá nhân sẽ lập được kế hoạch và giải quyết
được bất cứ nhiệm vụ nào. Họ sẽ luôn tin tưởng vào bản thân, không nhụt chí
trước mọi khó khăn, họ biết lượng sức mình để đưa ra những ý tưởng giải
quyết nhiệm vụ một cách phù hợp. Tuy nhiên những nhà tâm lí này không
quên sự ảnh hưởng từ môi trường sống đến việc hình thành khả năng tự lập
của con người. Ngay từ nhỏ, trẻ được sống trong môi trường tự lập và được
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tính tụ lập sẽ dễ dàng hình thành được
tính tự lập cho bản thân. Ngược lại nếu bé sống trong môi trường được người
khác nuông chiều, cái gì cũng dựa dẫm và ỷ lại vào người khác thì việc có ý
chí hành động và khả năng tự lâp rất khó có thể có được. Chính vì vậy, từ
những quan điểm của các nhà tâm lí này mà người lớn cần tạo môi trường
những yêu cầu của người lớn, vừa là sản phẩm sáng kiến riêng của trẻ, phát
triển qua ba giai đoạn trên cơ sở của sự hình thành kỹ năng- thói quen.
Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng tính tự lập cũng như những phẩm
chất nhân cách khác của trẻ không tự nhiên sinh ra mà có mà nó được xuất hiện,
hình thành và phát triển dưới sự tác động và giáo dục của người lớn.
1.1.2. Ở Việt Nam
8
8
Ở Việt Nam, nhà tâm lí học Hồ Ngọc Đại cũng có những nghiên cứu về
tính tự lập của con người. Ông cũng giống như một số nhà tâm lí học nổi
tiếng trên thế giới cho rằng tính tự lập gắn liền với các quá trình tâm lí và tự
lập được hình thành trong quá trình hoạt động của bản thân.
Một số nhà tâm lí học và giáo dục học của Việt Nam cũng cho rằng tính
tự lập được xuất hiện rất sớm. Chính vì vậy, ngay từ giai đoạn mầm non gia
đình và nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với nhau để hình thành tính tự lập
cho trẻ. Người lớn cần đưa ra kế hoạch cụ thể để có những biện pháp giúp trẻ
hình thành khả năng tự lập góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.
Nguyễn Hồng Thuận nghiên cứu các biện pháp tác động của gia
đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ 5 -6 tuổi [34]. Tác giả đã khẳng
định rằng con đường để hình thành tính tự lập cho trẻ là thực hành trải
nghiệm và lao động. Trẻ cần được thực hành trải nghiệm nhiều thì sẽ dễ
dàng hình thành tính tự lập.
Nguyễn Thị Vinh nghiên cứu về việc tổ chức môi trường nhằm phát
triển tính tự lập có trẻ 5- 6 tuổi ở trưởng mầm non [43]. Tác giả đề cập rất
nhiều tới sự ảnh hưởng của môi trường tới khả năng phát triển tính tự lập cho
trẻ. Tác giả cho rằng môi trường là một trong những nhân tố quyết định tới sự
Tính tự lập và vai trò của tính tự lập đối với sự phát triển nhân cách trẻ
5- 6 tuổi
Khái niệm: “ tính tự lập”
Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về tính tự lập:
Theo từ điển Hán- Việt thì tự lập giường như là tự mình vun trồng lấy
mà đứng lên được, không dựa dẫm vào ai.
Theo từ điển Tiếng Việt thì tự có nghĩa là chính mình, tự mình làm lấy.
Tự lập có nghĩa là tự lo gây dựng lấy không cầu cạnh nhờ vả ai. Tự lập là dựa
vào, tin vào khả năng và sự cố gắng, nỗ lực của chính bản thân mình.
Theo từ điển Tâm Lý Học thì tự lập là một phẩm chất nhân cách của
con người xuất hiện trong sáng kiến phê bình, tự đánh giá bản thân một cách
tương ứng và tình cảm thể hiện trách nhiệm của cá nhân đối với hoạt động
hành vi của mình. Tự lập của cá nhân gắn liền với tư duy làm việc một cách
tích cực với tình cảm và ý chí cao.
P.P. Aristova định nghĩa tự lập như khả năng hoạt động của chủ thể
không có sự giúp đỡ của người khác.
10
10
Còn V.A. Puzanov thì lại coi tự lập là một khả năng tư duy và hoạt
động riêng vốn có của con người.
S.I. Zinvui thì lại cho rằng tự lập như một nét đặc trưng của nhân cách
được phản ánh trong khả năng tư duy và các dạng hoạt động khác trong hành
vi trong quá trình ứng xử.
Nhìn chung các tác giả đều cho rằng tự lập là phẩm chất nhân cách của
con người. Họ đều thống nhất rằng tự lập là tự bản thân của mình, không dựa
dẫm ỷ lại vào người khác. Người có tính tự lập sẽ luôn tự tin, chủ động trong
càng tích cực tham gia các hoạt động thì trẻ càng tích cực và chủ động hơn
trong môi trường xung quanh.
Theo nhà giáo dục Montessori ở trẻ có những thời điểm nhạy cảm nhất
đình, thời điểm này là thời điểm mà trẻ luôn nhạy cảm với mọi thứ có trong
môi trường xung quanh. Bà gọi đó là “thời kỳ nhạy cảm”. Người lớn có thể
nhận thấy dấu hiệu của thời kỳ nhạy cảm của trẻ bằng việc quan sát những
đặc điểm của trẻ. Nếu trẻ có những dấu hiệu như: trẻ thể hiện mình muốn làm
gì? Trẻ rất có hứng thú với điều gì đó? Trẻ luôn tích cực tự giác, tìm tòi với
điều gì đó mà trẻ thích.... Và người lớn nên tận dụng cơ hội này để hình thành
tính tự lập cho trẻ.
* Ví dụ: có những đứa trẻ rất thích được gieo hạt và chăm sóc cây, có
những đứa trẻ lại thích được chăm sóc các con vật. Người lớn nên tận dụng cơ
hội này để tạo điều kiện cho trẻ được làm việc mình thích và phát triển tính tự
lập cho trẻ.
Quá trình hình thành tính tự lập đòi hỏi phải có thời gian lâu dài, không
phải ngày một ngày hai mà thành. Việc hình thành tính tự lập càng phải được
hình thành càng sớm càng tốt. Bởi vì cuối tuổi mẫu giáo về cơ bản nhân cách
của trẻ đã hoàn thiện. Nếu để qua giai đoạn tuổi mầm non thì việc hình thành
tính tự lập cho trẻ sẽ trở nên vất vả hơn rất nhiều.
Việc hình thành tính tự lập của trẻ 5- 6 tuổi diễn ra như sau:
Tính tự lập của trẻ bắt đầu được hình thành từ nhu cầu tự khẳng định mình
Trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ ở giai đoạn 5- 6 tuổi nói riêng có nhu
cầu tự khẳng định mình rất lớn. Lúc này, trẻ bắt đầu muốn tách mình ra khỏi
người khác. Ở giai đoạn này, trẻ hiểu được mình là người như thế nào, có
những phẩm chất gì? Những người xung quanh đối xử với mình ra sao và tại
sao mình lại có những hành động như vậy? Trẻ có khả năng tự đánh giá nhận
xét mình, trẻ biết mình thành công hay thất bại.
Trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo đã có khả năng điều khiển hành vi của mình
sao cho phù hợp với những chuẩn mục và quy tắc xã hội. Trẻ thực hiện các
hành động đã có mục đích hơn, hành vi của trẻ cũng mang tính xã hội hơn.
Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thường được thể hiện rõ nét. Điều này thúc đẩy cho
các quá trình tâm lý phát triển mang tính chủ định rõ ràng. Có thể coi sự phát
triển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, khiến cho
nhân cách của trẻ được khẳng định.
Ở giai đoạn này trẻ đã hiểu mình cần phải làm gì và tại sao mình cần phải
làm như vậy. Phần lớn trẻ đã hiểu những việc đúng thì nên làm còn việc gì sai thì
13
13
không nên làm. Trẻ tự ý thức được để thay đổi hành động của mình sao cho phù
hợp với yêu cầu của người lớn. Người lớn cần tận dụng cơ hội này để gieo vào
1.2.3.
trong trẻ sự tự lập, tích cực, chủ động và sáng tạo trong hoạt động.
Biểu hiện tính tự lập của trẻ 5- 6 tuổi
Biểu hiện của tự lập rất phong phú. Nó được thể hiện qua những hành
vi từ rất nhỏ cho đến những hành vi lớn lao. Một người nếu có ý thức tự lập
cao thì ngay từ nhỏ đã có khả năng tự phục vụ, tự giải quyết những nhiệm vụ
trong khả năng của mình mà không cần sự giúp đỡ của người lớn.
Chúng ta có thể nhận thấy những biểu hiện tính tự lập của trẻ 5- 6 tuổi
như sau:
trong lúc trẻ tham gia hoạt động vui chơi với các bạn. Trong khi trẻ tham gia
các vai chơi trẻ sẽ tự phân công vai chơi, nhiệm vụ chơi. Trẻ 5- 6 tuổi có khả
năng tham gia các trò chơi đóng vai theo chủ đề rất tốt. Trong lúc chơi trẻ sẽ
biểu hiện rất rõ khả năng làm chủ các vai chơi và các hành động của mình.
Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, được người lớn giao cho
nhiều việc nhỏ… Trẻ dần dần đã xác định rõ mục đích của hành động. Tính
mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc.
Tính kế hoạch theo đó cũng xuất hiện.
Thứ hai: Trẻ có kĩ năng tiến hành các hành động
Một đứa trẻ tự lập sẽ có khả năng thực hiện hành động khá tốt vì trẻ
luôn muốn tự mình được trải nghiệm, tự mình giải quyết nhiệm cụ của bản
thân. Chính vì vậy, trẻ cũng được rèn luyện nhiều và kĩ năng thực hiện hành
động của trẻ sẽ tốt hơn so với những bạn luôn dựa dẫm, ỷ lại vào người khác.
Đứa trẻ tự lập là đứa trẻ biết tự giải quyết nhiệm vụ của bản thân mình
bằng những hành động cụ thể. Trẻ luôn tìm tòi khám phá mọi cách để có thể
giải quyết được nhiệm vụ trước mắt.
Đứng trước những hoạt động cụ thể, đứa trẻ tự lập luôn biết mình cần
phải làm gì, trẻ tiến hành hoạt động rất thành thạo và nhanh chóng đạt được
hiệu quả cao. Ngược lại những trẻ không có tính tự lập sẽ không biết mình
cần phải làm gì khi đứng trước một hoạt động cụ thể. Trẻ chỉ đứng tại chỗ
•
quan sát mà không biết mình nên làm gì.
Ví dụ: Khi giáo viên giao nhiệm vụ cho cả lớp chăm sóc góc thiên nhiên.
Nếu trẻ nào nhanh chóng biết lấy các dụng cụ như: bình tưới, khăn lau,
cuốc, xẻng và sử dụng thành thạo những dụng cụ đó để chăm sóc góc thiên
nhiên thì trẻ đó có khả năng tự lập cao. Ngược lại những trẻ chỉ biết đứng
Ví dụ: Khi cô giao cho các bạn tưới cây trong sân trường, số lượng bình tưới
chỉ có hạn đòi hỏi các bạn tự tìm ra cách để có thể có dụng cụ tưới cây. Nếu
bạn nào thấy hết bình tưới biết tự đi tìm các loại chai, lọ, hộp… để tưới thì
bạn đó biết khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Ngược lại có những
bạn khi thấy hết bình tưới sẽ thôi không làm nữa, đứng nhìn các bạn khác làm
hoặc bỏ đi chơi.
Thứ tư: Trẻ có khả năng tự đánh giá kết quả của hoạt động
Trẻ 5 - 6 tuổi ý thức bản ngã đã được hình thành, trẻ có khả năng so
sánh mình với lứa tuổi khác. Trẻ đã nhận biết được giới tính của mình và biết
phải thể hiện như thế nào sao cho phù hợp với giới tính. Trẻ có thể lĩnh hội
các khái niệm sơ đẳng, có các lập luận và kết luận chính xác hơn.
16
16
Do khả năng tập trung chú ý của trẻ lâu hơn, bền vững hơn, ghi nhớ của
trẻ có chủ định hơn nên khả năng khám phá sự vật hiện tượng ở trẻ cũng tốt
hơn làm cho khối lượng tri thức về sự vật hiện tượng của trẻ ngày càng phong
phú. Đây là cơ sở để trẻ có thể tiến hành các thao tác so sánh những đặc điểm
giống và khác nhau của một vài đối tượng, phân nhóm dấu hiệu theo một hay
vài dấu hiệu rõ nét. Nhờ vậy, khả năng tổng hợp khái quát những dấu hiệu
bên ngoài của sự vật, hiện tượng của trẻ thực hiện tương đối tốt.
Trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo bắt đầu có khả năng đánh giá về việc mình
làm. Trẻ biết mình làm như thế có đúng hay không và bắt đầu hiểu vì sao nên
hay không nên làm việc đó. Trẻ đã nhận ra bạn làm việc đó là đúng hay sai và
•
phục vụ, giúp đỡ người lớn những việc trong khả năng của mình. Điều đó, là
một yếu tố rất quan trọng giúp cho trẻ có được tương lai thành đạt.
Ngay khi trẻ bắt đầu lớn và đi mẫu giáo, cha mẹ có thể lập một thời
gian biểu cho trẻ, bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như dạy đúng giờ, tự đánh
răng, lựa chọn quần áo… Việc để trẻ tự làm các công việc vệ sinh cá nhân mà
không cần đến sự giúp đỡ của bố mẹ cũng sẽ khiến trẻ biết tự lập, lo cho
chính bản thân mình, không chời đợi, ý lại vào người khác.
Tính tự lập là một đức tính vô cùng quan trọng mà trẻ cần có, vì không
phải lúc nào cha mẹ, bạn bè và thầy cô cũng ở bên cạnh họ để giúp đỡ trẻ.
Nếu không có tính tự lập, khi lớn lên sẽ dễ bị vấp ngã, thất bại và dễ có những
hành động xấu, thiếu kiềm chế.
Tính tự lập giúp trẻ phát triển trí tuệ, lĩnh hội và tích lũy được nhiều vốn kinh
nghiệm.
Trẻ 5- 6 tuổi có nhu cầu khẳng đình mình rất lớn nên trẻ luôn có mong
muốn được độc lập trong hoạt động và trong quá trình trẻ tự hoạt động trẻ sẽ
khám phá, tìm tòi để đưa ra cách thức giải quyết hành động. Trẻ ở lứa tuổi
này con chưa có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên nếu trẻ chủ động giải quyết
nhiệm vụ của mình theo hướng thử và sai thì trẻ sẽ học được rất nhiều. Trẻ sẽ
lĩnh hội được nhiều kiến thức hơn sau quá trình thẻ tham gia hoạt động.
Không chỉ có vậy nhờ có tính tự lập trẻ sẽ tích cực và sáng tạo trong
các hoạt động. Sự tự lập sẽ tạo cho trẻ động lực để chủ động tìm kiếm để lĩnh
hội trí thức. Đứa trẻ tự lập sẽ luôn luôn mong muốn khám phá để nâng cao
hiểu biết của mình.
Trong những tình huống khó khăn trẻ tự lập trẻ chủ động và nghĩ ra các
phương án giải quyết sáng tạo.
18
xã hội.
Một đứa trẻ tự lập sẽ luôn thích tham gia và các hoạt động. Khi chủ
động tahm gia vào các hoạt động thì trẻ có cơ hội mở rộng các mối quan hệ
xã hội. Điều này góp phần rất nhiều vào việc hình thành xúc cảm tình cảm
của trẻ với mọi người xung quanh.
Khi tham tích cực tham gia vào các hoạt động, trẻ sẽ dần điều chỉnh
được hành vi của mình để sao cho phù hợp với tất cả các mối quan hệ xã
hội của mình. Trẻ dần lĩnh hội được chuẩn mực hành vi đạo đức từ những
19
19
người xung quanh mình. Trẻ sẽ quan tâm đến người khác nhiều hơn, biết
chia sẻ, hợp tác với các bạn cùng chơi, cảm thông với những bạn thiệt thòi
hơn mình…
Tự lập là một trong những chất vô cùng quan trọng giúp trẻ phát triển
nhân cách toàn diện. Trẻ sẽ trở lên chủ động, không phụ thuộc hay trông chờ
vào người khác. Điều này sẽ hình thành những đức tính tốt ở trẻ góp phần để
1.3.
1.3.1.
trẻ xứng đáng trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
Thí nghiệm khám phá thực vật và ưu thế của nó đối với sự phát triển
tính tự lập cho trẻ 5- tuổi.
Khái niệm “Thí nghiệm khám phá thực vật”
1.3.1.1. Khái niệm: “Thí nghiệm”
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thí nghiệm:
Theo từ điển hóa học: “thí nghiệm là công việc tiến hành nhằm mục đích
xác định một sự kiện chưa biết bằng cách quan sát tỉ mỉ trong những điều kiện
Đặc điểm của thí nghiệm khám phá thực vật
1.3.2.1. Khái niệm “Thực vật”
Thực vật là cơ thể sống có khả năng dinh dưỡng, hô hấp, sinh sản và
phát triển.
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “thực vật là những sinh vật
có khả năng tạo chất dinh dưỡng cho bản thân từ những hợp chất vô cơ đơn
giản và xây dựng thành những phân tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp.
Quá trình này sử dụng năng lượng ánh sáng được hấp thụ do yếu tố màu lục
(diệp lục) có trong các thực vật. Trong số đó, ngoại lệ có nấm không có chất
diệp lục, dinh dưỡng bằng các chất hữu cơ lấy từ các sinh vật khác hoặc từ
những mô chết. Đặc điểm của thực vật là vách tế bào bằng xenlulozơ không
có khả năng chuyển động tự do (trừ một số thực vật hiển vi) và thường phản
ứng rất chậm với kích thích”.
Thực vật là giới tự nhiên hữu sinh gồm các cơ thể tự dưỡng hay di
dưỡng thứ cấp. Tế bào có màng dày, thường bằng xenlulozơ, có lục lạp. Chất
dinh dưỡng ở dạng tinh bột gồm: tảo đỏ, tảo chính thức, thực vật bậc cao.
1.3.2.2. Đặc điểm của thực vật
Thực vật sống ở khắp mọi nơi trên trái đất, ở nhiều môi trường khác
nhau (trên cạn, dưới nước...), chúng có số lượng loài rất lớn. Thực vật tự tổng
21
21
hợp được chất hữu cơ, không có khả năng di chuyển và phản ứng chậm với
kích thích môi trường.
Thực vật được chia làm hai giới phụ:
- Thực vật hạ đẳng: bao gồm những thực vật có cấu tạo đơn giản, cơ
thể chưa phân hóa thành rễ, thân, lá. Thực vật hạ đẳng gồm các ngành:
Thực vật có ở khắp mọi nơi, nó rất gần gũi gắn bó với con người. Việc
sử dụng thực vật để tiến hành thí nghiệm thì sẽ dễ dàng.
Có những đặc tính của thực vật ta không thể quan sát trong điều kiện bình
thường được mà cần phải có nhưng tác động nhất định thì nó mới bộc lộ, ví dụ
như: nhu cầu nước, ánh sáng, chất dinh dưỡng….của thực vật. Chính vì vậy, việc
làm thí nghiệm để quan sát đặc điểm bên trong của thực vật là cần thiết.
Tuy nhiên khi làm thí nghiệm với thực vật, giáo viên cần lưu ý tác động
vừa phải đủ để trẻ quan sát được đặc điểm cần thiết. Tránh tác động quá làm
•
chết thực vật. Điều này sẽ có ảnh hưởng không tốt đến trẻ.
Ví dụ: Muốn biết cây cần nước thì khi cây có sự thay đổi khác so với lúc bình
thường, cần dừng lại và tưới nước cho cây để cây sống bình thường. Tránh
việc làm thí nghiệm mà để cây chết khô.
Có những thí nghiệm với thực vật cần chờ một khoảng thời gian nhất
định mới có thể xem được sự biến đổi của thực vật như: tính hướng sáng của
cây, cây cần ánh sáng, cây cần nước…Điều này tạo điều kiện kích thích sự tò
mò, chờ đợi ở trẻ. Trẻ sẽ tò mò về kết quả của thí nghiệm, giúp thu hút sự chú
ý của trẻ với thí nghiệm hơn.
Tùy vào những thí nghiệm nhất định mà cần chuẩn bị đối tượng, dụng
cụ làm thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm cũng khác nhau. Chính vì thế,
trước khi tổ chức thí nghiệm nào đó cho trẻ giáo viên cần tìm hiểu rõ đồ dùng,
cách thức tiến hành và phản ứng của từng thí nghiệm để cung cấp chính xác
•
đến cho trẻ.
Ví dụ: với thí nghiệm; “Sự đổi màu của bắp cải tím” thì cần chuẩn bị bắp cải
tím, xà phòng, chanh… còn với thí nghiệm: “Sự cháy của lá” thì lại cần chuẩn
Ví dụ: trẻ biết hoàn thành công việc để được cô khen, biết giúp đỡ mẹ quét
nhà để làm mẹ vui lòng…
Đến giai đoạn này trẻ đã biết lên kế hoạch cho từng hoạt động và bắt
đầu có tinh thần trách nhiệm với những nhiệm vụ mà mình được giao. Chính
vì thế, trẻ bắt đầu biết mình cần phải làm gì và làm như thế nào để hoàn thành
nhiệm vụ một cách tốt nhất cho cô giáo và cha mẹ vui lòng.
Mặt khác, ở giai đoạn này trẻ luôn tò mò, ham hiểu biết về mọi thứ
xung quanh. Mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú sự say
mê thích thú đối với trẻ. Chính vì đặc điểm này mà trẻ luôn muốn khám
phá mọi thứ xung quanh, thích được tự mình trải nghiệm và thích thú với
những điểu mới lạ.
Môi trường
24
24
Môi trường là yếu tố gắn bó và ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống với trẻ.
Để phát triển được tính tự lập thì trẻ không thể không có môi trường. Môi trường
là nơi để trẻ có những trải nghiệm và tham gia hoạt động một cách tích cực.
Hơn nữa, thực vật lại có rất nhiều ở trong môi trường. Khi trẻ tiến hành
thí nghiệm khám phá thực vật trẻ sẽ cần tiếp xúc rất nhiều với môi trường.
Môi trường là nơi giúp bé có thể tiến hành thí nghiệm một cách tích cực.
Nếu trẻ có một môi trường thuận lợi với nhiều yếu tố kích thích sự tò
mò, hứng thú của trẻ khi trẻ tham gia thí nghiệm thì sẽ giúp trẻ hình thành
tính tự lập một cách dễ dàng. Ngược lại nếu môi trường nghèo nàn không có
25