DANH MỤC NHỮNG TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
VIẾT TẮT
Ý NGHĨA
1
THCS
Trung học cơ sở
2
HS
Học sinh
3
BGH
Ban giám hiệu
4
SGK
Sách giáo khoa
-
Đơn vị công tác: Trường THCS Vĩnh Hòa.
-
Chức vụ hiện nay: Giáo viên.
-
Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ văn.
-
Lĩnh vực công tác: Giảng dạy.
II/ Tên sáng kiến:
“ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 ĐỌC- HIỂU TỐT VĂN
BẢN VĂN HỌC ”
III/ Lĩnh vực: Phân môn Văn học Ngữ Văn lớp 6
IV/ Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Trong nhà trường phổ thông , môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng giáo dục. Theo kết quả thăm dò ý kiến, trao đổi với các thầy cô
giáo dạy văn ở Trường THCS Vĩnh Hòa nơi tôi giảng dạy và các trường bạn , chất
lượng học văn những năm gần đây ngày càng giảm sút. Tình trạng học sinh không
còn hứng thú học Văn bản trở thành hiện tượng phổ biến trong nhà trường. Nhiều
giáo viên dạy Văn phàn nàn, khổ tâm vì học sinh không chịu học văn. Hiện tượng
ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về giáo dục nhà trường,
vị là giáo viên trực tiếp giảng Ngữ văn 6 nhiều năm qua cũng đã nhận thấy điếu đó,
chính vì thế việc đưa ra : “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 6 Đọc - hiểu tốt văn
bản Văn học” là một điều hết sức cần thiết.
3. Các phương pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
a. Các phương pháp tiến hành:
Thực hiện ñề tài, tôi sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp:
- Nghiên cứu tư liệu, phân tích, so sánh ñối chiếu
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
3
- Trao ñổi, thảo luận với ñồng nghiệp
- Khảo sát chất lượng và thăm dò ý kiến HS
b. Thời gian tạo ra các giải pháp:
Từ tháng 10 năm 2013 ñến tháng 05 năm 2014
4. Những giải pháp trong dạy học văn bản Văn học:
Xây dựng đề tài này, tôi xin nêu ra cách dạy văn hiệu quả thông qua một số hình
thức học tập trong dạy đọc- hiểu văn bản Văn học lớp 6 nhằm đáp ứng yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng
giáo dục.
* Cách tổ chức hình thức học tập thể hiện tính mới của đề tài
Bức tranh cuộc sống hiện thực và diện mạo tinh thần con người trong Văn học bao
giờ cũng chứa đựng sự đánh giá của nhà văn về cuộc sống. Sự đánh giá hiện thực
cuộc sống thể hiện cách nhìn riêng, quan điểm riêng của người nghệ sĩ. Bằng tác
phẩm của mình, người nghệ sĩ thường gợi lên ở người đọc những suy nghĩ và tình
cảm về cuộc sống. Hiểu được điều người nghệ sĩ muốn nói, muốn gửi gắm là điều
không đơn giản và dễ dàng, nhất là với học sinh lớp 6. Theo kết quả thăm dò ý kiến
và khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh lớp 6 trong nhà trường, môn học các
bài mới. Mỗi giờ học Văn học, tôi chuẩn bị số bông hoa tương ứng với số nhóm
(mỗi bông hoa một màu trong đó có một bông hoa may mắn). Sau phần kiểm tra bài
cũ, tôi cho các nhóm bốc thăm. Nhóm nào ñược bông hoa may mắn nhóm đó ñược
quyền giới thiệu bài. Hoặc khi kiểm tra bài cũ, nhóm nào có học sinh trả lời bài cũ
tốt nhất thì nhóm đó ñược ưu tiên giới thiệu bài mới.
a1. Giới thiệu bài bằng cách tự ñặt câu hỏi
* Khi dạy văn bản “Buổi học cuối cùng” : Học sinh giới thiệu, học sinh
dẫn:Người dẫn tự ñặt câu hỏi và giới thiệu bài: Bạn hiểu thế nào là ngôn ngữ dân
tộc? Khi một dân tộc mất đi tiếng nói của mình thì dân tộc đó sẽ như thế nào?
Để hiểu rõ vấn ñề này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu văn bản “Buổi học cuối
cùng”.
a2. Giới thiệu bài bằng hình thức ñối thoại
* Khi dạy văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da ñỏ”
- Một học sinh của nhóm ñặt câu hỏi cho các nhóm khác ñể dẫn vào bài như sau:
+ Các bạn cho biết loài người trên thế giới có những màu da nào? Họ sống chủ
yếu ở châu lục nào?
- Học sinh của nhóm khác sẽ trả lời: da vàng chủ yếu ở châu Á, da trắng ở châu
Âu, da ñen ở châu Phi, da ñỏ ở châu Mĩ. Học sinh dẫn vào bài: Loài người trên thế
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
5
giới có nhiều màu da khác nhau. Dù là màu da gì thì loài người đều phải sống
chung với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên. Nhưng cách đối xử với thiên nhiên có
giống nhau không? Chúng ta hãy tìm hiểu văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”.
- Hoăc hai học sinh của nhóm dẫn giới thiệu: Tôi là người châu Á, bạn tôi là người
châu Âu. Đại diện nhóm dẫn hỏi học sinh nhóm khác: Các bạn là người châu lục
nào? Sau câu trả lời của các nhóm, học sinh dẫn vào bài: Chúng tôi và các bạn sống
ở những châu lục khác nhau. Dù ở đâu thì loài người chúng ta ñều phải sống chung
Hình ảnh hàng tre (bức tranh 1) là hình ảnh quen thuộc ta bắt gặp trên các đường
quê, trẻ em thả diều (bức tranh 2), cánh diều tre bay bổng biểu tượng cho cuộc sống
yên bình là kỉ niệm đẹp của tuổi thơ trong cuộc đời mỗi con người, hình ảnh (bức
tranh 3) gợi nghĩ về cậu bé làng Gióng nhổ tre làm vũ khí ñể đánh giặc cứu nước.
Đại diện nhóm được giới thiệu bài bắt theo mạch trả lời của bạn và nói tiếp: Muốn
biết rõ cây tre có đặc điểm như thế nào? Thông qua hình ảnh cây tre ñể nói ñến ai?
Mời các bạn đến với văn bản “Cây Tre Việt Nam”của nhà văn Thép Mới thì sẽ rõ
hơn.
a6. Giới thiệu bài mới thông qua mẫu chuyện ngắn
Khi áp dụng cách này, tôi yêu cầu các em chú ý lựa chọn những mẫu chuyện
ngắn gọn, gần gũi, sát với nội dung bài học, tránh lan man dài dòng.
- Văn bản “Lòng yêu nước”cho học sinh kể về tấm gương hi sinh anh dũng
của Lê Văn Tám, Bế Văn Đàn, Võ Thị Sáu...
- Văn bản “Đêm nay Bác không ngủ” kể một mẫu chuyện nhỏ về tình yêu
thương của Bác dành cho nhân dân Việt Nam. Từ câu chuyện vừa kể, người dẫn
giới thiệu bài mới.
* Hiệu quả:Với cách đã làm này rèn cho học sinh ý thức tự học ở nhà: học bài cũ,
chuẩn bị bài mới. Để cho học sinh tự giới thiệu bài sẽ phát huy được tính tích cực,
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
7
chủ động của học sinh, lôi cuốn nhiều em tham gia tập trung bài học, tạo cho các
em ý thức đọc văn bản, tìm hiểu kĩ nội dung bài học mà tác giả gửi gắm. Đây cũng
là biện pháp gây ấn tượng, tạo sự hứng thú, tạo tâm thế học tập, bước đầu giúp các
em tự tin để cảm thụ văn bản Văn học.
b.Tổ chức ghi“Nhật kí đọc”
Con ñường ñi vào cảm thụ văn bản nhất thiết phải từ ñọc, gắn liền với việc ñọc.
Tổ chức ñọc văn bản là hoạt đọc trước tiết học, diễn ra ở nhà và trong tiết học. Đây
hơn trong quá trình tiếp nhận văn bản ở lớp.
c. Sử dụng sơ đồ, tranh ảnh sáng tạo trong phần đọc, tóm tắt truyện
Trong chương trình Ngữ Văn lớp 6, học sinh chỉ học 3 văn bản thơ, còn lại chủ
yếu là văn bản truyện. Để học tốt văn bản truyện, tôi hướng dẫn kĩ, giao việc cụ thể
về nhà cho từng cá nhân, từng nhóm chuẩn bị trước khi học văn bản ở lớp. Sự
chuẩn bị kĩ của học sinh sẽ quyết định thành công giờ học.
c1.Lập sơ đồ tóm tắt truyện
Thể loại văn tự sự là thể loại đầu tiên và chủ yếu trong chương trình Ngữ văn lớp
6. Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được giá trị nội dung và nghệ thuật
của văn bản tự sự, khâu quan trọng là phải tóm tắt được nội dung cốt truyện. Tóm
tắt nội dung cốt truyện là yêu cầu có tính chất tạo nền là cơ sở để từ đó tìm hiểu các
vấn đề khác của tác phẩm. Thế nhưng việc tóm tắt truyện của học sinh quá yếu, các
em rất lười đọc truyện, kĩ năng tóm tắt, diễn đạt lại hạn chế nên khâu tóm tắt truyện
các em thường bỏ qua, cảm thấy lo sợ khi giáo viên yêu cầu tóm tắt. Vì vậy, để các
em có giờ học nhẹ nhàng, thoải mái, tôi đã ñịnh hướng cho học sinh trước khi tóm
tắt truyện cần:
- Đọc kĩ văn bản
- Xác định nội dung, chọn sự việc, nhân vật chính.
- Sắp xếp sự việc chính theo trình tự hợp lí.
- Dùng lời văn của mình để tóm tắt truyện.
Để dễ nhớ các tình tiết, diễn biến của truyện, tôi yêu cầu các em phải xây dựng sơ
đồ tóm tắt. Sử dụng sơ đồ tóm tắt truyện trong dạy học văn không phải là cách làm
mới, lâu nay thầy cô chúng ta vẫn làm nhưng chưa thường xuyên, chủ yếu là tóm tắt
miệng. Sơ đồ chúng ta làm chỉ mới dừng lại ở sơ ñồ hình khối vuông, chữ nhật, vẽ
sơ đồ nhánh. Để tăng phần hứng thú, kích thích niềm ñam mê học tập của học sinh,
tôi hướng dẫn cho các em tóm tắt truyện bằng những sơ đồ với nhiều hình dạng,
màu sắc thể hiện khả năng sáng tạo của các em. Tôi cho thực hiện theo nhóm, vẽ
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
lòng nhân hậu của người em.
c2. Sử dụng tranh ảnh trong kể, tóm tắt truyện
Chúng ta biết rằng thời đại công nghệ thông tin phát triển, chỉ cần bấm nút là
hình ảnh các em muốn tìm lại hiện ra. Vì vậy, trẻ em ngày nay không còn hấp dẫn
với tranh vẽ, không thấy hứng thú để tự mình vẽ tranh. Đó cũng điều thầy cô dạy
Mĩ thuật hay phàn nàn. Học vẽ nhưng khả năng sáng tạo lại hạn chế, nét ngây thơ
ngộ nghĩnh của các em qua từng nét vẽ dường như rất hiếm. Hạn chế đó một phần
là do giáo viên chúng ta chưa tạo điều kiện để các em được thể hiện. Khi dạy văn
bản, giáo viên cũng cho học sinh vẽ tranh nhưng thường cho về nhà vẽ sau khi đã
học văn bản nên giáo viên không kiểm tra, vì thế học sinh không thực hiện yêu cầu
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
11
của giáo viên. Để giờ học sinh động, hấp dẫn, để phát huy trí tưởng tượng, khả năng
sáng tạo của các em, tôi cho các em nhớ và tái hiện lại nội dung cốt truyện bằng
tranh do chính các em vẽ.
-
Khi dạy văn bản “Ếch ngồi đáy giếng”, giáo viên sẽ mời học sinh treo tranh đã
vẽ và dựa vào tranh tóm tắt lại truyện.
* Tóm tắt: Một con ếch sống trong giếng đã lâu ngày, xung quanh nó là những
con vật bé nhỏ. Nó cứ nghĩ mình thì oai như chúa tể, còn bầu trời chỉ bằng chiếc
vung. Đến khi mưa to, nước dâng lên đưa ếch ra khỏi giếng. Nó đi lại nghênh
ngang, không thèm để ý đến xung quanh nên bị một con trâu giẫm bẹp.
* Khi dạy văn bản “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” tương tự học sinh cũng treo
tranh đã vẽ và dựa vào tranh tóm tắt.
tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề
xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp, giải quyết vấn đề.
Ví dụ: Tìm hiểu ý nghĩa tư tưởng, rút ra bài học của truyện “Bức tranh của em gái
tôi”:
Giáo viên cho học sinh quan sát 2 đoạn văn SGK (đoạn 1: anh tự ti, mặc cảm, cáu
gắt với em - đoạn 2: ngỡ ngàng, hãnh diện, xấu hổ nhận ra hạn chế). HS thảo luận,
phát hiện vấn đề: Sự thay đổi trong tâm trạng của người anh. Học sinh nêu vấn đề:
Vì sao người anh lại thay đổi tâm trạng? Lần lượt các thành viên trong nhóm nêu
lên các giả thuyết về nguyên nhân thay đổi tâm trạng vào bảng phụ, gắn lên bảng.
Đại diện mỗi nhóm nêu lí lẽ bảo vệ giả thuyết của nhóm mình, bác bỏ giả thuyết
nhóm khác. Cuối cùng học sinh nêu được nguyên nhân làm thay đổi tâm trạng
người anh là do tâm hồn trong sáng và lòng nhân hậu của em gái. Từ đó, học sinh sẽ
rút ra bài học của truyện: “Trước thành công hay tài năng của người khác, mỗi
người cần phải vượt qua lòng mặc cảm, tự ái, tự ti. Tình cảm yêu thương và sự độ
lượng sẽ giúp con người tự vượt lên được bản thân mình, đạt được thành công
trong cuộc sống”.
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
14
đ. Liên hệ thực tế, giáo dục tư tưởng, tình cảm, kĩ năng sống cho học sinh
Tránh câu hỏi rập khuôn, sáo mòn khi liên hệ. Luôn làm mới hình thức liên hệ
như cho HS nhập vai nhân vật, nêu gương, dùng tranh ảnh, đối thoại.
Tùy nội dung bài học, giáo viên đặt tên cho hoạt động: Cuộc sống xanh, Vì một
ngày mai, Tình yêu biển đảo… để lôi cuốn học sinh tham gia, học sinh cảm thấy
thoải mái, mong muốn được giải bày, chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc.
Ví dụ: - Khi dạy truyện “Con hổ có nghĩa”, giáo viên hoặc cho học sinh các nhóm
đặt câu hỏi: Tưởng tượng nếu con hổ trán trắng nhờ bạn viết một dòng chữ lên mộ
32
8
11
7
4
1
5
15
11
95
15
45
23
12
4
VII. Kết luận
Việc đọc – hiểu văn bản, cảm thụ tác phẩm bằng các giải pháp trên, được thực
hiện dưới nhiều hình thức như dùng tranh ảnh, sơ đồ tóm tắt đã đem lại những kết
quả khả quan. Học sinh biết dựa vào sản phẩm của mình để tóm tắt tác phẩm một
cách dễ dàng, ngoài ra các em cò biết chọn đọc những đoạn văn bản minh họa cho
các nhiệm vụ học tập một cách chính xác. Học sinh có năng lực phán đoán nhanh
nhạy những dữ liệu ngôn ngữ hiểu được mục đích của các văn bản. Đặc biệt các em
đã biết liên hệ giữa những điều có trong tác phẩm với thế giới bên ngoài. Trong
những lời phát biểu, những bài kiểm tra các em đã thực sự hiểu và vận dụng tác
phẩm một cách linh hoạt.
Trên đây, là những giải pháp được tôi rút ra từ thực tế giảng dạy ở trường
THCS Vĩnh Hòa, có thể vẫn còn nhiều hạn chế. Vậy tôi rất mong được tiếp thu ý
kiến đóng góp của BGH, Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học của
Phòng giáo dục – Đào tạo để từ đó có thể trao đổi, rút kinh nghiệm giúp tôi nâng
cao chất lượng giảng dạy ở bộ môn và thu hút học sinh yêu thích bộ môn Ngữ Văn
hơn.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Vĩnh Hòa ngày 01Tháng 12 năm 2015
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến.
Người viết sáng kiến
Lương Thị Diệu Hiền
GV thực hiện: Lương Thị Diệu Hiền
17