SKKN một số giải pháp giúp học sinh lớp 6 trường THCS ba cụm bắc nâng cao kỹ năng làm văn miêu tả - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 TRƯỜNG THCS
BA CỤM BẮC NÂNG CAO KỸ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ"

1


1. Đặt vấn đê
“Văn học là nhân học”. Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát
triển tư duy của con người. Là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội.
Môn Ngữ Văn trong nhà trường là môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính
khoa học. Nó là chìa khóa để học sinh tiến vào mọi lĩnh vực khoa học, mọi hoạt động xã
hội. Nó có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệ của các em. Văn
học có tác động sâu sắc, mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người.
Có thể nói rằng, môn Ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ văn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học
khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các
môn học khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường
tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức
phong phú, sinh động của cuộc sống.
Đối tượng học sinh ở bậc Trung học cơ sở rất hồn nhiên trong trắng như vùng đất phù sa
màu mỡ phì nhiêu. Giáo viên cùng toàn xã hội phải có trách nhiệm gieo trồng những hạt
giống tốt để thu hoạch hoa thơm trái ngọt về cả tri thức và đạo đức. Với môn Ngữ văn thì
hạt giống tốt về kiến thức Văn học không chỉ riêng ý nghĩa sâu sắc từ mỗi bài học hay
một khái niệm Tiếng Việt nào đó mà học sinh cần phải có được những kỹ năng tốt để làm
2


một bài văn một cách thành thạo. Mặt khác, như chúng ta đã biết, Văn học từ lâu nay đã

Muốn miêu tả đựơc phải quan sát, tổ chức sắp xếp các chi tiết theo logic, lựa chọn từ
ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật... cốt để làm nổi bật cái thần, cái
hồn của đối tượng miêu tả.
Để làm được bài văn miêu tả, thông thường học sinh phải nhớ được các yêu cầu sau:
Trước hết, ngôn ngữ miêu tả là phải có tính chính xác. Ngôn ngữ miêu tả chính xác là
ngôn ngữ miêu tả sát đúng, cụ thể từng biểu hiện của sự vật, sự việc, con người (ngay cả
4


ý nghĩ, tư tưởng...). Bởi văn học phản ánh cuộc sống một cách chân thực, do đó "văn
muốn hay là phải đúng" (Lê Quý Đôn). Tả con mèo thì mắt phải tròn, tiếng kêu “meo
meo”, ngủ “lim dim”, đi “nhẹ nhàng”… Tả người thì tùy vào đối tượng đó là ai mà sử
dụng ngôn ngữ phù hợp, không thể tả mái tóc, nước da của em bé cũng giống như người
lớn được…
Thứ hai, tính hàm súc. Hàm súc nghĩa là súc tích, ít lời mà nhiều ý. Đây là đặc điểm nổi
bật đối với văn miêu tả bởi có thế thì đối tượng cần tả mới nổi bật, gợi cảm. Nhà văn Tô
Hoài tả: "Nhưng hai bên sườn núi trong các lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá xám
ngắt, không thấy đâu một chút vàng lúa chín" (Cứu đất cứu mường) qua đó mà đó lột tả
được cảnh núi rừng miền Tây Bắc.
Thứ ba, tính hình tượng. Ngôn ngữ miêu tả giàu hình tượng là ngôn ngữ giàu hình ảnh,
đường nét màu sắc, âm thanh, nhạc điệu... có khả năng gây ấn tượng mạnh, tác động sâu
xa trong trí tưởng tượng và cảm nhận của người đọc. Tả con đêm trăng thì “sáng vằng
vặc”, tả con suối thì màu “trắng xóa”, chảy “róc rách”…
Thứ tư, ngôn ngữ phải mang tính truyền cảm. Thông qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, nhà
văn phải bộc lộ những cung bậc tình cảm khác nhau, có thể là niềm vui hay nỗi buồn, yêu
thương hay giận hờn... trước đối tượng mình tả. Tứ đó mà hướng dẫn nhận thức và thôi
thúc hoạt động của con người. Hướng dẫn học sinh tả con vật thì phải sử dụng những từ
5



8


tin hiện đại: hoạt hình, truyện tranh, dịch vụ Internet tràn lan cuốn hút… Điều đó đương
nhiên làm nghèo nàn vốn ngôn từ nghệ thuật quý giá của văn học trong mỗi học sinh.
Trường THCS Ba Cụm Bắc là một trường vùng sâu, vùng xa, có nhiều học sinh là người
dân tộc Raclai nên việc tiếp thu kiến thức còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là khả năng
diễn đạt. Khi vào thực tế giảng dạy, tôi thấy phần lớn học sinh còn lúng túng, vụng về,
gặp nhiều khó khăn khi làm văn miêu tả nói chung văn tả cảnh nói riêng. Số học sinh làm
được một bài văn hay, có sáng tạo rất ít. Hầu hết khi miêu tả các em chỉ đưa ra những
nhận xét chung chung, câu văn thì rườm rà hoặc cộc lốc, diễn đạt ý thì lủng củng…
Xuất phát từ những cơ sở mang tính lý luận và thực tiễn như trên tôi nghĩ: quá trình
“nâng cao kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 6” là một việc làm thiết thực nên
làm và làm một cách cặn kẽ để có hiệu quả tốt nhất. Giúp các em biết cách diễn đạt, dùng
câu từ chính xác, dễ hiểu, ngắn gọn mà rõ ràng, xóa đi mặc cảm ngại học văn, tự tin, phấn
khởi và yêu thích văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn. Bên cạnh khơi dậy trong các
em tình yêu với môn học còn là tình yêu với con người, thiên nhiên, cảnh vật đồ vật xung
quanh.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đê
2.3.1. Cung cấp vốn từ, làm giàu vốn từ cho học sinh

9


Học sinh hiểu thêm một từ mới là hiểu thêm một khái niệm mới. Mà ngôn ngữ gắn chặt
với tư duy. Ngôn ngữ phát triển thì tư duy cũng phát triển theo. Làm giàu vốn từ cho học
sinh nhất là những từ tượng hình, tượng thanh, từ gợi tả màu sắc… để giúp các em viết
tốt thể loại văn miêu tả.
Có nhiều đề tài nhỏ để gợi cho học sinh tìm từ.
Ví dụ: Khi học văn tả người, giáo viên có thể cho học sinh tìm các từ miêu tả về hình

đối tượng miêu tả.
2.3.4. Hướng dẫn cách tìm ý cho bài văn miêu tả
11


Khi học sinh đã xác định đúng yêu cầu của đề, xác định chính xác đối tượng miêu tả
nhưng chắc chắn chưa thể định hình được hướng đi cho bài viết. Để giúp học sinh định
hình đúng hướng đi của bài viết văn miêu tả cần hướng dẫn cho học sinh bước tìm ý:
Nhất thiết phải theo một trình tự: tìm ý bao quát của cảnh chung không gian sẽ tả, sau đó
cụ thể sẽ có những cảnh nào? Cảnh như thế nào?
Bao quát không gian tả cảnh được coi là một thao tác sơ thảo của bức tranh miêu tả. Vậy
học sinh cần phải nắm được cách viết phần bao quát cảnh không gian như thế nào? Thực
tế cho thấy học sinh thường viết cộc lốc, cụt ngủn, có khi chỉ được một, hai câu cho phần
tả bao quát. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh:
Để tả cảnh bao quát, trước hết phải có câu xác định vị trí miêu tả khái quát. Thường là
một vị trí cao hơn, xa cảnh trung tâm để có thể chụp được toàn cảnh miêu tả vào tầm mắt
của người quan sát một cách tương đối trọn vẹn.
Sau câu văn giúp được người đọc biết được vị trí của người quan sát là những lời văn
nhận xét, đánh giá khái quát đầy nghệ thuật về cảnh chung đó. Nên lưu ý học sinh: lời
nhận xét đánh giá là những lời văn sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ sao cho cảnh nổi
lên sống động, tự nhiên, hồn hậu, trong sáng… sát với yêu cầu của đề.
Ví dụ: đứng trên đỉnh đèo, ngắm nhìn toàn cảnh làng quê, em như đang dắm mình trong
chốn bồng lai tiên cảnh của một miền quê yên bình, trù phú giữa chờn vờn sương sớm….
12


2.3.5. Rèn kỹ năng diễn đạt
Tìm được đặc điểm tiêu biểu của cảnh sẽ tả đã là một bước quan trọng song chưa phải là
đã tả cảnh. Miêu tả cảnh là dựng lại được một cách sống động, chân thực, nghệ thuật.
Qua chấm bài văn của học sinh, tực tế đáng buồn là vốn ngôn từ của các em rất nghèo

Ví dụ:
Dòng sông quê em dưới đêm trăng mềm mại như một áng tóc trữ tình.
Cổng trường đang dang rộng vòng tay đón chúng em vào lớp.
14


Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm tỏa hương thơm
Các bạn sinh đang nô đùa trên sân trường tựa như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn
2.3.6. Rèn luyện kỹ năng dựng đoạn văn
Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý, logich, chặt
chẽ, mạch lạc. Học sinh thường lúng túng không biết tả cảnh cụ thể là cảnh gì? Tả như
thế nào? Theo trình tự từ đâu? Chính vì điều này nên trong bài viết của các em thường sa
vào kể lể, liệt kê cảnh một cách tràn lan, không làm nổi bật được những đặc trưng của
cảnh, không tạo được ấn tượng cho người đọc về cảnh được tả. Để khắc phục tình trạng
này giáo viên nên hướng cho học sinh hình dung mỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một
đoạn văn trọn vẹn. Trong đoạn văn đó sẽ đi từ khái quát đến cụ thể. Bao giờ câu đầu đoạn
cũng là câu miêu tả khái quát cảnh đó.
Ví dụ: Tả khái quát cảnh dòng sông: dưới chân em là dòng sông hiền hòa chảy như một
tấm lụa mềm mại trải dài xa tít.
Sau câu tả khái quát là các câu miêu tả cụ thể theo trình tự từ gần đến xa theo tầm mắt.
Ví dụ: Mùa này sông lưng chừng nước, nước sông trong xanh in bóng mây trời sâu thẳm.
Trên mặt sông có những chiếc lá như chiếc thuyền tý hon dập dềnh trên sóng nước bao
la.
15


Trong quá trình miêu tả cụ thể giáo viên lưu ý cho học sinh trình tự miêu tả cho phù hợp
với vị trí quan sát kết hợp lời văn so sánh, lời văn nhận xét, đánh giá và sự liên tưởng,
tưởng tượng phong phú. Ý câu trước và câu sau logich với nhau tạo độ kết về mặt nghĩa,
những câu đoạn cuối thường là những câu có ý nghĩa sâu sắc, làm đậm nét cho bức tranh

một vài câu văn, câu thơ, một nhận xét nào đó để đi vào đối tượng cần tả hoặc nêu lại
một kỷ niệm, một cảm xúc đã gắn bó với mình…
Ví dụ: Cứ mỗi lần nghe câu hát “quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày,
quê hương là đường đi học, con về rợp bướm vàng bay...” là trong lòng em lại xốn xang
một cảm giác nhớ quê đến lạ kỳ! Quê hương em – một vùng đất yên bình, tươi đẹp…

17


Sau khi luyện cho học sinh cách viết mở bài, giáo viên tiếp tục luyện cho các em cách
viết kết bài.
Kết bài không những đủ ý chốt của bài viết mà còn tạo nên độ lắng cho nốt trầm xao
xuyến vang vọng trong tâm hồn người đọc. Thông thường kết bài phải bộc lộ rõ suy nghĩ,
cảm nhận về đối tượng cần tả.
Ví dụ: Ánh mặt trời dần buông. Đêm đến, bầu trời như mặc một chiếc áo nhung đính
những hạt kim cương lấp lánh. Cả làng quê chìm vào giấc ngủ - quê hương em, nơi in
đậm ký ức tuổi thơ.
2.3.9. Rèn cho học sinh có ý thức sưu tầm, tích lũy các hình ảnh văn học:
Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh có một “sổ tay văn học”. Qua các tiết giảng văn, qua việc
đọc thêm các bài văn, bài thơ ngoài sách giáo khoa, giáo viên giúp học sinh phát hiện và
ghi lại những “lời hay ý đẹp” vào quyển số cá nhân của mình. Bởi vì sưu tầm, tích lũy,
ghi chép những câu văn hay, những câu thơ giàu hình ảnh, cảm xúc… lâu dần sẽ thấm
hình ảnh văn học được tích lũy giống như nguyên vật liệu thì “ tòa lâu đài văn học” của
các em càng to, càng đẹp. Điều này sẽ làm tăng vốn từ của các em giúp các em mau tiến
bộ để từ đó có kỹ năng viết tốt.
Ví dụ: Sau khi học xong bài “Cô Tô” (Nguyễn Tuân), giáo viên hướng dẫn học sinh chọn
và chép ra đoạn văn hay nhất tả cảnh mặt trời mọc trên biển: “Sau trận bão, mặt trời nhú
18





2.4. Hiệu quả của SKKN
Qua quá trình thực hiện, tôi nhận thấy rằng với những giải pháp cơ bản nêu trên đã
mang lại hiệu quả đáng kể.
Học sinh bước đầu đã biết viết bài văn miêu tả đúng yêu cầu.
Một số bài viết có ngôn ngữ khá hay, sinh động, khả năng dùng từ, diễn đạt câu, chuyển
ý linh hoạt, nhịp nhàng.
Điều đáng mừng là đã phá bỏ được mặc cảm của học sinh với môn Văn trừu tượng là
môn ngại nghĩ, ngại viết và không biết viết thế nào cho đúng. Đã có một số em sáng tạo
được những tác phẩm “bé con” giá trị của mình thể hiện trong các bài viết định kỳ.
Bài viết Tập làm văn miêu tả số 05 không có điểm giỏi. Cụ thể số điểm như sau:

Tổng số: 71 HS
Khối Điểm giỏi

6

0

Điểm khá

10

Điểm trung Điểm yếu

Điểm

bình



kém

25

17

22

08


1.

Kết luận

Niềm vui của mỗi giáo viên Ngữ văn đứng lớp không chỉ là chất lượng tính bằng con số
của mỗi năm, mà chính là những ánh mắt long lanh vì đã hiểu bài, những bàn tay tự viết
ra được những lời văn óng ánh, những nụ cười thiện cảm với môn Văn từ phía học sinh.
Đó là điều vô cùng quý giá.
Kỹ năng viết bài Tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề
bài đã cho. Bài viết Tập làm văn là sự kết tinh nhiều mặt của kỹ năng: kỹ năng phân tích
đề; kỹ năng tìm ý, chọn ý; kỹ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài; nâng cao năng
lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh. Viết tốt một bài văn sẽ dần dần nâng cao vốn sống,
vốn hiểu biết của học sinh.
Ngữ văn là môn học quan trọng trong nhà trường. Là môn học vừa hình thành nhân
cách vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển rất
nhanh, môn Ngữ văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác nhân văn để
con người tìm đến với con người, trái tim hòa nhịp đập trái tim. Với sáng kiến kinh
nghiệm này, kết quả học tập môn Ngữ văn (phân môn Tập làm văn) của học sinh có tiến


Ba Cụm Bắc, ngày 10 tháng 4 năm 2013
XÁC NHẬN CỦA BGH

Người viết

NGUYỄN THỊ MAI HOA

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status