khái niệm dạy học tích hợp, lí do vận dụng phương pháp dạy học tích hợp trong giáo dục phổ thông - Pdf 34

MỤC LỤC

1.3.3. Tạo mối liên hệ giữa các môn học.......................................................7
9. Mối liên hệ giữa Hóa học với các môn học khác – Tai Lieu.VN ...........40
/>
1


MỞ ĐẦU
Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện, trang bị kiến
thức cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Để thực hiện mục
tiêu này, chương trình giáo dục phổ thông bao gồm nhiều môn học có nội dung và
nhiệm vụ khác nhau nhưng chúng có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chính đặc
trưng này của chương trình giáo dục phổ thông đã giúp phát triển toàn diện nhân cách
của học sinh, cũng là biểu hiện quan trọng của chất lượng đào tạo phổ thông. Tuy
nhiên trong thực tế dạy học các môn học nói chung cũng như môn hóa học nói riêng,
việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của môn học, khai thác mối liên hệ giữa các môn
học chưa được quan tâm đúng mức. Điều đó dẫn đến chất lượng giáo dục phổ thông
chưa đạt được hiệu quả cao, mà biểu hiện cụ thể là năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tế, năng lực giải quyết vấn đề còn hạn chế. Nhằm khắc phục những hạn chế này,
nhiều nước tiên tiến đã nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học tích hợp trong
giáo dục. Bài báo cáo này mong muốn làm rõ khái niệm dạy học tích hợp, lí do vận
dụng phương pháp dạy học tích hợp trong giáo dục phổ thông.

2


1.Khái niệm và phân loại
1.1. Khái niệm dạy học tích hợp
1.1.1. Khái niệm tích hợp.
Theo từ điển Tiếng Việt; “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương

- Người dạy sẽ học được từ học trò của mình rất nhiều kiến thức và kinh
nghiệm thực tế. Mối quan hệ thầy trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết
các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học.
Lợi ích đối với người học
- Khi giáo viên dạy học bằng phương pháp giảng dạy tích cực, người học thấy
họ được học chứ không bị học. Người học được chia sẻ những kiến thức và kinh
nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ
từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp. Từ đó học sinh phát huy tính năng
động sáng tạo trong quá trình dạy học.
- Cảm thấy quá trình học tập có ý nghĩa vì nó giải quyết được các vấn đề trong
thực tiễn cuộc sống.
Các lợi ích cơ bản khác của dạy học tích hợp:phát triển năng lực người học,tận
dụng kinh nghiệm người học,tạo mối quan hệ giữa các môn học [6]
1.3. Phát triển năng lực người học
Các NL chung
1. Năng lực tự học

Biểu hiện
a) Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ
động
b) Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề
nếp; thực hiện các cách học khoa học
c) Tự đánh giá bản thân

2. Năng lực giải quyết vấn
đề

a) Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện
và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập.
b) Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên

đích; nhận ra và có ứng xử phù hợp với những tình
huống không an toàn.
c) Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa
hợp lý của bản thân trong học tập và trong cuộc sống
hàng ngày.
d) Tự nhận xét được bản thân và có cách giải quyết hợp
lý.

5. Năng lực giao tiếp

a) Xác định mục tiêu giao tiếp và vai trò của giao tiếp.
b) Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận
ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối
tượng giao tiếp;
c) Diễn đạt ý tưởng một cách tự tin; thể hiện được biểu
cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp.

6. Năng lực hợp tác

a) Chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao
các nhiệm vụ.
b) Có trách nhiệm trong công việc được giao
c) Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành
viên cũng như kết quả làm việc nhóm; dự kiến phân
công từng thành viên trong nhóm các công việc phù
hợp;
d) Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được
giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia
sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm;
e) Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động

huống đơn giản hàng ngày; hình dung và có thể vẽ
phác hình dạng các đối tượng, trong môi trường xung
quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng.
c) Hiểu và biểu diễn được mối quan hệ toán học giữa
các yếu tố trong các tình huống học tập và trong đời
sống; bước đầu vận dụng được các bài toán tối ưu trong
học tập và trong cuộc sống; biết sử dụng một số yếu tố
của lôgic hình thức để lập luận và diễn đạt ý tưởng.
d) Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính; sử dụng được
máy tính cầm tay trong học tập cũng như trong cuộc
sống hàng ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính
toán trong học tập.

1.3.2. Tận dụng kinh nghiệm của người học
- Năng động, sáng tạo, chủ động chiếm lĩnh tri thức.
- Làm chủ hoạt động học tập.
- Kết hợp công nghệ thông tin vào học tập.
- Biết đoàn kết hợp tác phát huy tính làm việc nhóm.
- Biết tự giải quyết các tình huống có vấn đề.
- Biết tận dụng vốn hiểu biết về thực tiễn phối hợp với vốn hiểu biết về các môn
học khác một cách hợp lí.

6


1.3.3. Tạo mối liên hệ giữa các môn học
Mối liên hệ giữa Hóa học với các môn học khác: Trong vài chục năm gần đây,
lí luận dạy học đã phát hiện ra hiện tượng thiếu mối liên hệ giữa các môn học ở
trường THPT.
Những hiểu biết về cùng một loại hiện tượng của tự nhiên, nhưng do


Đối với học sinh:
+ Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu này,
đặc biệt là thế hệ HS hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy
lạ lẫm và khó bắt kịp.
+ Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy
định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh kém
mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ).
1.5. Mức độ tích hợp trong chương trình phổ thông
Nhiều nhà chuyên môn đã phân chia các mức độ tích hợp như sau:
Theo Xavier Roegies chia làm 4 cấp độ, bao gồm:
- Tích hợp trong nội bộ môn.
- Tích hợp đa môn.
- Tích hợp liên môn.
- Tích hợp xuyên môn.
Theo Susan M Drake chia 5 cấp bậc, bao gồm:
- Tích hợp trong nội bộ môn.
- Tích hợp lồng ghép.
- Tích hợp liên môn.
- Tích hợp đa môn.
- Tích hợp xuyên môn.
2. Mục tiêu của dạy học tích hợp.
Theo [6] tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế
trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng
chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây dựng
trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học.
- Thực hiện môn học tích hợp, các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc
sống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh và được
liên hệ với các tình huống cụ thể, có ý nghĩa đối với học sinh. Khi đó học sinh được
dạy sử dụng kiến thức trong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy các kiến thức

lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong Dự thảo Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông cho sau
năm 2015 ở Việt Nam, phát triển năng lực người học là một định hướng quan trọng.
Theo định hướng này giáo dục không đơn thuần chỉ trang bị các kiến thức, kĩ năng cho
học sinh, mà còn chú ý hơn vào việc phát triển năng lực người học
Như vậy, việc lựa chọn các nội dung các bài học/chủ đề tích hợp phải hướng tới
việc phát triển những năng lực cần thiết của người lao động để đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước.

9


3.2. Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý
nghĩa với người học
Để đáp ứng yêu cầu đưa nước ta thành một nước công nghiệp hóa – hiện đại
hóa vào 2020, người lao động phải năng động, sáng tao có kiến thức và kĩ năng mang
tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Yêu cầu đối với người lao động
không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề mang tính
tổng hợp.
Việc lựa chọn nội dung bài học/chủ đề tích hợp cần tinh giản kiến thức hàn lâm
lựa chọn những tri thức thiết thực, có ý nghĩa và gắn bó với cuộc sống của người học,
đáp ứng được những thay đổi của xã hội trong giai đoạn toàn cầu hóa, tạo điều kiện
cho người học vừa thích ứng được với cuộc sống đầy biến động vừa có khả năng, nhạy
bén thu nhận kiến thức và học tập suốt đời trên cơ sở nền tảng của giáo dục phổ thông.
3.3. Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học kĩ
thuật, đồng thời vừa sức với học sinh
Xã hội hiện đại là một xã hội đầy biến động, phát triển rất nhanh chóng, luôn
luôn thay đổi.Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp vừa đòi hỏi phải đảm bảo tính
khoa học và vừa tiếp cận được những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật nhưng phải
phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh cũng như kế hoạch dạy học. Để làm

Các bài học/chủ đề tích hợp không chỉ được thực hiện giữa các môn học, giữa
các nội dung có những điểm tương đồng mà còn được thực hiện giữa các môn, giữa
các nội dung khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.
4. Cách tổ chức hoạt động trong dạy học tích hợp
Theo [6] tổ chức hoạt động trong dạy học tích cực gồm có 2 khâu: lựa chọn nội
dung dạy học tích hợp và xây dựng quy trình dạy học tích hợp.
4.1. Lựa chọn nội dung dạy học tích hợp
Lựa chọn nội dung dạy học tích hợp phải phù hợp với năng lực của học sinh,
nhằm giúp các em biết cách vận dụng những năng lực đó vào việc giải quyết các vấn
đề thực tiễn trong học tập và cuộc sống.
4.2. Xây dựng quy trình dạy học tích hợp
Quy trình xây dựng dạy học tích hợp
Bước 1: Rà soát chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy học
gần giống nhau có liên quan chặt chẽ với trong các môn học của chương trình, sách
giáo khoa hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địa phương, đất
nước để xây dựng bài học tích hợp.
Bước 2: Xác định bài học tích hợp, bao gồm tên bài học và thuộc lĩnh vực tự
nhiên hay xã hội, đóng góp của các môn vào bài học.

11


Bước 3: Dự kiến thời gian cho bài học tích hợp.
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức, kĩ năng,
thái độ, định hướng năng lực hình thành.
Bước 5: Xây dựng nội dung của bài học tích hợp. Căn cứ vào thời gian dự kiến,
mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung
cho phù hợp.
Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các phương pháp dạy
học nhằm phát huy tính tích cực của người học).

khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra, thi. Tuy vậy, ngày càng
có nhiều nội dung GD được tích hợp vào nội dung một số môn học ở trung học (dân số, môi
trường, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao
thông...) bằng phương thức lồng ghép. Việc dạy học các nội dung này bước đầu đã làm cho
GV có một số kinh nghiệm thực tiễn về tích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
dạy học tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa mới sau 2015.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu rõ: “…thực hiện đổi mới chương
trình SGK từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh”. Chương trình
hướng tới mục tiêu phát triển năng lực không chỉ dựa vào tính hệ thống, logic của khoa học
tương ứng khi xác định nội dung học tập mà còn gắn với các tình huống thực tiễn, chú ý đến
khả năng học tập và nhu cầu, phong cách học của mỗi cá nhân học sinh. Các yêu cầu này đòi
hỏi chương trình cần được phát triển theo định hướng tích hợp nhằm tạo điều kiện cho người
học liên tục huy động kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực môn học và hoạt động giáo dục
khác nhau để thực hiện các nhiệm vụ học tập. Qua đó, các năng lực chung cơ bản cũng như
năng lực chuyên biệt của người học được phát triển.
Theo báo cáo kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
trong Hội thảo “Dạy học tích hợp- Dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông”
vừa được Bộ GD-ĐT tổ chức vào tháng 12/2012, CTGDGPT sau 2015, “Dạy học tích hợp là
quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến
thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông
qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển những năng lực cần thiết”
Nhóm nghiên cứu Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2012). Định hướng tích hợp sẽ thực
hiện trong chương trình GDPT theo hình thức và mức độ tích hợp trong phạm vi hẹp và tích
hợp trong phạm vi rộng. Hai hướng tích hợp này phần nào tương thích với định hướng tích
hợp đa môn và tích hợp liên môn như đã đề cập ở trên. Phương án tích hợp đã được đề xuất
cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 ở cả ba cấp: tiểu học,
trung học cơ sở và trung học phổ thông như sau:
Ở tiểu học, tương tự như chương trình tiểu học hiện hành, tăng cường tích hợp trong
nội bộ môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội (các lớp 1, 2, 3) và lồng ghép
các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản…, vào

việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
4.4.1.2. Phân loại.
Dạy học dự án có thể được phân loại theo nhiều cơ sở khác nhau. Sau đây là
một số cách phân loại chính.[1]
Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.

14


- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.
Phân loại theo quỹ thời gian
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học nhất định, từ giới hạn 2 đến 6 giờ.
- Dự án trung bình: thực hiện trong một hoặc một số ngày (“ngày dự án”),
nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40
giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“tuần dự án”) hay cả năm học.
Phân loại theo nhiệm vụ
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình.
- Dự án thực hành: thực hiện những nhiệm vụ theo kế hoạch như trang trí,
trưng bày, biểu diễn, sáng tác...nhằm tạo ra kết quả tốt nhất.
- Dự án hỗn hợp: có nội dung kết hợp các dạng dự án trên.
4.4.1.3. Đặc điểm của dạy học dự án
Theo các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ 20, dạy học dự án có các đặc điểm sau:
Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn đời sống, xã hội. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù
hợp với trình độ và khả năng của người học.
Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong
nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực

4.4.1.4.Tiến trình
Có nhiều tác giả đề xuất cách phân chia tiến trình dạy học dự án. Tuy có sự
khác nhau về cách phân chia nhưng không khác nhau về sự mô tả của nội dung tiến
trình. Theo tác giả Nguyễn Văn Cường, tiến trình được chia theo các bước sau:
Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm
- Tìm đề tài có nội dung chương trình cơ bản liên quan, ứng dụng được vào
thực tế.
- Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống. Chú ý vào
những vấn đề lớn mà xã hội và thế giới đang quan tâm.
- Giáo viên phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất,
xác định tên đề tài. Giáo viên cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để người học
lựa chọn.
Bước 2: Xây dựng đề cương dự án
- Giáo viên hướng dẫn người học xác định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành,
thời gian thực hiện, mục tiêu học tập cụ thể bằng cách dựa vào chuẩn kiến thức và kĩ
năng của bài học/chương trình, những kĩ năng tư duy bậc cao cần đạt được.

16


- Việc xây dựng đề cương cho một dự án là công việc hết sức quan trọng vì nó
mang tính định hướng hành động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả và đánh
giá dự án.
Bước 3: Thực hiện dự án
- Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên. Các thành viên trong
nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra. Khi thực hiện dự án, các hoạt động trí tuệ và hoạt
động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau; kết quả là tạo ra sản
phẩm của dự án.
- Học viên thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và
tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc. Như vậy, các kiến thức mà người

đồng nghiệp và cơ hội để xây dựng mối quan hệ tốt với HS.
- GV cảm thấy yêu nghề hơn khi xây dựng được một dự án mang tính hiệu quả
cao và làm cho HS của mình thích thú, yêu môn học hơn.
*Nhược điểm của DHDA
- DHDA không phù hợp với những bài mang tính lí thuyết trừu tượng, kiến
thức hệ thống.
- Phương pháp này không hữu hiệu trong dạy HS tính toán, giải mã…
- DHDA không thể thay thế hoàn toàn mà là hình thức bổ sung khi cần thiết cho
các PPDH truyền thống.
- Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian của cả GV và HS khi thực hiện.
- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
4.4.2 .WebQuest- Khám phá trên mạng
4.4.2.1. Khái niệm
Năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đã
đưa ra khái niệm về WebQuest: Webquest là một dạng bài tập yêu cầu người học sử
dụng World Wide Web để tìm hiểu và (hoặc) tổng hợp kiến thức của mình về một chủ
đề cụ thể. Webquest đòi hỏi người học tổng hợp các kiến thức mới bằng cách hoàn
thành một "nhiệm vụ", thường để giải quyết một vấn đề giả thuyết hoặc giải quyết một
vấn đề tồn tại trong thế giới thực. Nhiệm vụ của một Webquest thường được thể hiện
dưới dạng yêu cầu người học giải quyết một hệ thống câu hỏi bằng cách sử dụng
nguồn tài liệu giáo viên cung cấp dựa trên trang web (Internet links).
Khái niệm về phương pháp dạy học WebQuest :
WebQuest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sở phương
tiện dạy học mới là công nghệ thông tin và Internet. Trong đó người học tự lực thực
hiện cá nhân hoặc theo nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình
huống thực tiễn. Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên

18



+ Kết luận: Từ những nguyên lý cơ bản và các tổng quát hóa đã có mà suy ra
những kết luận và điều kiện chưa được nêu ra.

19


+ Phân tích sai lầm : Nhận biết và nêu ra những sai lầm trong các quá trình tư
duy của chính mình hoặc của những người khác.
+Chứng minh : Xây dựng chuỗi lập luận để hỗ trợ hoặc chứng minh một giả thiết.
+Tóm tắt : Nhận biết và nêu ra đề tài hoặc kiểu mẫu cơ bản là cơ sở của những
thông tin.
+ Phân tích quan điểm: Nhận biết và nêu ra những quan điểm khác nhau đối với
một đề tài.
4.4.2.3. Quy trình thiết kế WebQuest
Các bước

Mô tả

Nhập đề

Giáo viên giới thiệu về chủ đề. Thông thường, một WebQuest
bắt đầu với việc đặt ra tình huống có vấn đề thực sự đối với người
học, tạo động cơ cho người học sao cho họ tự muốn quan tâm
đến đề tài và muốn tìm ra một giải pháp cho vấn đề.

Học sinh được giao các nhiệm vụ cụ thể. Cần có sự thảo luận
với học sinh để học sinh hiểu nhiệm vụ, xác định được mục tiêu
riêng, cũng như có những bổ sung, điều chỉnh cần thiết. Tính
Xác định nhiệm vụ
phức tạp của nhiệm vụ phụ thuộc vào đề tài và trước tiên là vào

20


4.4.3. Dạy học giải quyết vấn đề
4.4.3.1. Khái niệm
Theo [6] vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng
chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà
còn khó khăn, cản trở cần vượt qua.
Dạy học giải quyết vấn đề là một quá trình dạy học nhằm phát triển năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong một
tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đã giúp học sinh lĩnh hội tri
thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức.
4.4.3.2. Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề
Bước 1: Tìm vấn đề: Đưa ra các nhiệm vụ, tình huống và mục đích của hoạt động
Bước 2: Nghiên cứu vấn đề: Thu thập hiểu biết của học sinh, nghiên cứu tài liệu.
Bước 3: Giải quyết vấn đề: Đưa ra lời giải, đánh giá chọn phương án tối ưu.
Bước 4: Vận dụng: Vận dụng kết quả để giải quyết tình huống, vấn đề tương ứng.
4.4.3.3. Ưu – nhược điểm
* Ưu điểm
- Góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy cho HS.
- Học sinh sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác,
trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
- Giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức.
* Nhược điểm
- Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức,
phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề
và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện và
giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các phương pháp thông thường.
5. Một số ví dụ về dạy học tích hợp.


Các vấn đề giáo viên cần quân tâm khi dạy

1. Kiến thức
Công nghệ silicat gôm các ngành sản xuất thủy tinh, đồ gốm, xi măng từ những
hợp chất tự nhiên của silic và các hóa chất khác.

22


a. Thủy tinh
- Tính chất: thủy tinh không có cấu trúc tinh thể mà là chất vô định hình, nên
không có nhiệt độ nóng chảy xác định. Khi đun nóng nó mềm dần rồi mới chảy, do đó
có thể tạo ra những đồ vật và dụng cụ có hình dạng như ý muốn.
- Phân loại và ứng dụng:
+ Thủy tinh thông thường: là hỗn hợp Na 2O.CaO.6SiO2, được dùng làm cửa
kính, chai, lọ...Thủy tinh thông thường được sản xuất bằn cách nấu chảy một hỗn hợp
gồm cát trắng, đá vôi và soda ở 14000C
6 SiO2 + CaCO3 + Na2CO3 → Na2O.CaO.SiO2 + 2 CO2
+ Thủy tinh kali là hỗn hợp K 2O.CaO.6SiO2 có nhiệt độ nóng chảy và nhiêệt độ
hóa mềm cao hơn thủy tinh thông thường. Thủy tinh kali được dung làm dụng cụ thí
nghiệm, lăng kính, thấu kính...
+ Thủy tinh pha lê là thủy tinh chứa nhiều chì oxit dễ nóng chảy và trong suốt,
được dùng làm cốc, ly, bình hoa...
+ Thủy tinh thạch anh được sản xuất bằng cách nấu chảy silic dioxit tinh khiết.
b. Đồ gốm
- Nguyên liệu chủ yếu: đất sét và cao lanh.
- Phân loại: Gồm có gạch, ngói, gạch chịu lửa, sành, sứ và men
+ Gạch và ngói thuộc loại gốm xây dựng. Nguyên liệu gồm đất sét thường và cát,
được nhào với nước thành khối dẻo, sau đó tạo hình, sấy khô và nung ở 900-10000C.

Hoạt động 1: Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm cùng thảo luận về:
Nhóm1:
- Tính chất, nguyên liệu và phương thức sản xuất của thủy tinh.
- Nêu ứng dụng của thủy tinh trong cuộc sống
Nhóm 2: Đồ gốm có những loại nào? Cách sản xuất ra sao? Nêu những làng
nghề, nhà máy mà em biết.
Nhóm 3: Thành phần hóa học, quá trình đông cứng của xi măng.
Hoạt động 2: Giáo viên cùng học sinh tham gia vào việc:
+Tìm hiểu về các phụ phẩm đi kèm trong sản xuất hoặc các sản phẩm tạo ra gây
ô nhiễm môi trường của các làng nghề, nhà máy sản xuất vật liệu silicat.
+ Tìm hiểu về các biện pháp đã được áp dụng trong thực tế để hạn chế tác hại
của ô nhiễm môi trường. Phân tích cơ sở hoá học (nếu có).
+ Sử dụng kiến thức hoá học và các kiến thức liên môn khác, đề xuất các giải
pháp nhằm hạn chế tác hại của ô nhiễm môi trường.
Hoạt động 3: Tổng kết, đánh giá tiết học,

24


CHỦ ĐỀ 2:
TÍCH HỢP Ở MỨC ĐỘ HỘI TỤ - VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
PHÂN BÓN HÓA HỌC VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
I. Lí do chọn chủ đề
Phân bón hoá học có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người. Hơn 100
năm trước, quy trình Haber – Bosch được áp dụng rộng rãi trong sản xuất phân
đạm.Nhờ có quy trình này, nhân loại đã vượt qua được nạn đói.Tuy nhiên, nếu lạm
dụng phân bón hóa học sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng. Nền nông
nghiệp công nghệ cao vừa có năng suất, chất lượng cao, vừa an toàn cho môi trường,
đảm bảo sức khỏe của cộng đồng. Chủ đề tích hợp: “Phân bón hóa học và sức khỏe
cộng đồng” được lựa chọn để tổ chức dạy học cho học sinh lớp 9 Trung học cơ sở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status