HƯỚNG DẪN HỌC SINHPHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ KHỐI 8;9 - Pdf 34

phòng giáo dục và đào tạo vĩnh tờng
Trờng trung học cơ sở Thổ Tang

BO CO CHUYấN

Tờn chuyờn :
Hng dn hc sinh phng gii bi tp Vt Lý khi 8,9
Mụn: VT L
T b mụn:TON - L - TIN
Ngi thc hin: Lờ Th Ngc Thỳy.
in thoi: 087346284.
Email:

Vnh Tng, thỏng 3 nm 2016

MC LC
1


NỘI DUNG

TRANG

Phần I.Đặt vấn đề

3

I. Lý do chọn đề tài

3


7

II.Các giải pháp thực hiện

7

1.khảo sát thực tế

8

2.Tổ chức chuyên đề

8

2.1.Trình tự giải bài tập vật lý

9

2.2 Hai phương pháp suy luận để giải bài tập vật lý

10

2.3 Áp dụng phương pháp giải bài tập vật lý vào một số bài tập cơ
bản

13

3.Hướng dẫn học sinh học tập vật lý ở nhà

17

toán hoặc thực nghiệm dựa trên cơ sở những quy tắc Vật lí, phương pháp Vật lí
đã quy định trong chương trình học. Nhưng bài tập Vật lí lại là một khâu quan
trọng trong quá trình dạy và học Vật lí.
Việc giải bài tập Vật lí giúp củng cố đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ
bản của bài giảng, xây dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực
tiễn, là biện pháp quý báu để phát triển năng lực tư duy của học sinh, có tác dụng
sâu sắc về mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức hoc sinh. Vì thế trong việc giải bài tập
Vật lí mục đích cơ bản cuối cùng không phải chỉ tìm ra đáp số, tuy điều này cũng
quan trọng và cần thiết, mục đích chính của việc giải là ở chỗ người làm bài tập
hiểu được sâu sắc hơn các khái niệm, định luật Vật lí, vận dụng chúng vào những
vấn đề thực tế trong cuộc sống, trong lao động.
Qua thực tế giảng dạy Vật lí ở trường THCS nói chung bộ môn Vật lí 8, 9
nói riêng, tôi nhận thấy học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn lúng túng khi giải
các bài tập Vật lí, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
Vừa qua cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học chung của ngành giáo dục,
đồng thời bản thân cũng tự kiểm tra, tổng kết tình hình dạy học Vật lí, cùng với
việc tiếp thu các chuyên đề, thấy được tác dụng giáo dục rất lớn đối với học sinh
khi giải bài tập Vật lí. Từ đó vận dụng vào quá trình giảng dạy, tôi thấy có hiệu
quả hơn so với trước đây, chất lượng học sinh được nâng cao rõ rệt .
Việc dạy học Vật lí trong trường phổ thông hiện nay chưa phát huy được hết vai
trò của bài tập Vật lí trong thực hiện các nhiệm vụ dạy học. Dạy học sinh giải bài
tập Vật lí là một công việc khó khăn và ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người
giáo viên trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh.
Về vấn đề này đã có rất nhiều tài liệu tham khảo của nhiều tác giả khác nhau
dành cho học sinh, hầu hết đều đáp ứng được yêu cầu giúp học sinh rèn luyện kĩ
năng giải bài tập Vật lí, củng cố và nâng cao kiến thức Vật lí. Song nhìn chung
thường ghép với các chủ đề cụ thể.
3



- Điều tra gián tiếp bằng cách sử dụng phiếu điều tra.
3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Áp dụng đề tài vào dạy học thực tế từ đó thu thập thông tin để điều
chỉnh cho phù hợp.

4


PHẦN II.NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
1. Mục đích hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí 8,9
5


1.1 Bài tập Vật lí giúp cho học sinh ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức.
Trong giai đoạn xây dựng kiến thức học sinh đã nắm được cái chung cái
khái quát của các khái niệm, định luật và cũng là các khái niệm trìu tượng. Trong
các bài tập học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, trìu tượng đó vào
những trường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ thế mà học sinh nắm được những biểu
hiện rất cụ thể của chúng trong thực tế và phạm vi ứng dụng của chúng. Ngoài
những ứng dụng quan trọng trong kỹ thuật, bài tập Vật lí giúp cho học sinh thấy
được những ứng dụng muôn hình muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã
học.
Còn khái niệm, định luật Vật lí thì rất đơn giản nhưng biểu hiện của chúng
trong tự nhiên thì rất phức tạp. Do đó bài tập vật lí sẽ giúp luyện tập cho học sinh
phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp đó.
Bài tập vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động. Khi
giải bài tập vật lí học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng
tổng hợp các kiến thức của nhiều chương nhiều phần của chương trình.
1.2. Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn đến kiến thức mới.


Bài tập giải
thích hiện
tượng
Bài tập dự
đoán hiện
tượng

Bài tập
định tính

Bài tập
định lượng

Bài tập thí
nghiệm

Bài tập
đồ thị

Bài tập thí
nghiệm
2.2. Phân loại theo mức độ
Bài tập vật lí

Bài tập tập dượt

Bài tập tổng hợp

Bài tập sáng tạo

HS
tham
gia KS

Giỏi

khá

TB

Yếu-kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

8


26

48,1

7

13,0

2.TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ.
Ngoài việc nắm vững kiến thức, để có kỹ năng tốt trong việc giải bài tập
Vật lí đòi hỏi học sinh phải nắm vững phương pháp giải cũng như cách trình bày
lời giải, phải có kỹ năng phân loại được các dạng bài tập.
Vì vậy để giúp học sinh nắm vững phương pháp giải một bài tập vật lí,
trong năm học này tôi đã kết hợp với tổ chuyên môn tổ chức cho học sinh học
chuyên đề “Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập Vật lí khối 8,9”.
Trong chuyên đề này tôi chia thành 3 nội dung, hướng dẫn học sinh:
 Trình tự giải một bài tập vật lí.
 Hai phương pháp suy luận để giải các bài tập vật lí.
 Áp dụng phương pháp giải bài tập vật lí vào một số bài tập cơ bản.
2.1. Trình tự giải một bài tập vật lí.
- Phương pháp giải một bài tập Vật lí phụ thuộc nhiều yếu tố: mục đích
yêu cầu của bài tập, nội dung bài tập, trình độ của các em, v.v... Tuy nhiên trong
cách giải phần lớn các bài tập Vật lí cũng có những diểm chung.
- Thông thường khi giải một bài tập vật lí cần thực hiện theo trình tự sau
đây:
8


2.1.1.Hiểu kỹ đầu bài.
- Đọc kỹ dầu bài: bài tập nói gì? cái gì là dữ kiện? cái gì phải tìm?

2. 2.1. Giải bài tập bằng phương pháp phân tích.
- Theo phương pháp này, xuất phát điểm của suy luận đại lượng cần tìm.
Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết này có liên quan với những đại
lượng Vật lí nào khác và một khi biết sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành những
9


công thức tương ứng. Nếu một vế của công thức là đại lượng cần tìm còn vế kia
chỉ gồm những dữ liệu của bài tập thì công thức ấy cho ra đáp số của bài tập. Nếu
trong công thức còn những đại lượng khác chưa biết thì đối với mỗi đại lượng
đó, cần tìm một biểu thức liên hệ với nó với các đại lượng Vật lí khác; cứ làm
như thế cho đến khi nào biểu diễn được hoàn toàn đại lượng cần tìm bằng những
đại lượng đã biết thì bài toán đã được giải xong.
Như vậy cũng có thể nói theo phương pháp này, ta mới phân tích một bài
tập phức tạp thành những bài tập đơn giản hơn rồi dựa vào những quy tắc tìm lời
giải mà lần lượt giải các bài tập đơn giản này. Từ đó tìm dần ra lời giải của các
bài tập phức tạp nói trên.
 Thí dụ ta hãy dùng phương pháp phân tích để giải bài tập sau:
 Đề bài:
“ Người ta dùng một loại dây hợp kim đồng có tiết diện 10 mm 2 và có điện
trở suất là 0,4.10-4 Ω m để làm một lò sưởi điện sưởi ấm một gian phòng. Hỏi
cần phải lấy chiều dài của dây dẫn này là bao nhiêu để duy trì nhiệt độ của
phòng luôn luôn không đổi nếu mỗi giờ gian phòng này bị mất một nhiệt
lượng bằng 2 970 000J qua các cửa sổ và các bức tường. Biết nguồn điện
cung cấp cho lò sưởi có điện áp là 220V”.
 Hướng dẫn giải:
- Đại lượng cần tìm ở đây là chiều dài của dây hợp kim. Ta tìm mối liên hệ
giữa chiều dài của dây dẫn với các đại lượng khác trong bài.
- Ta biết rằng muốn nhiệt độ của phòng luôn luôn không đổi thì trong mỗi
giờ nhiệt lượng lò sưởi cung cấp phải bằng nhiệt lượng mà phòng mất đi. Nhiệt


(2)


c. Đại lượng mới chưa biết là cường độ dòng điện I thì liên hệ với các đại
lượng khác bằng định luật Ôm và bằng công thức biểu diễn năng lượng A do
dòng điện toả ra. Ta đã dùng định luật Ôm trong (2). Vậy mối liên hệ giữa I và A
là:
A = I.U.t
trong đó t là thời gian dòng điện chạy qua dây; từ đó suy ra:

A
I =
U .t

(3)

d. Trong công thức trên, điện năng tính ra Jun. Điện năng này tương đương với
nhiệt lượng Q mà dòng điện cung cấp (và với nhiệt lượng mà gian phòng mất đi)
trong thời gian t theo biểu thức:
Q =A
(4)
ở vế phải của biểu thức (4), tất cả các đại lượng đều đã biết. Bây giờ cần
thay thế biểu thức sau vào biểu thức trước và cứ thế đi dần từ biểu thức cuối lên
biểu thức đầu:
I=

Q
U .t



2202.3600.1,5.10−4
l=
= 220(m)
−4
2970000.0, 4.10
- Vậy chiều dài dây hợp kim đồng là 220m.
2.2.2 Giải bài tập bằng phương pháp tổng hợp.
11


Theo phương pháp này, suy luận không bắt đầu từ các đại lượng cần tìm
mà bắt đầu từ các đại lượng đã biết có nêu trong bài. Dùng công thức liên hệ các
đại lượng này với các đại lượng chưa biết, ta đi dần đến công thức cuối cùng
trong đó chỉ có một đại lượng chưa biết là đại lượng cần tìm.
Theo phương pháp tổng hợp, bài tập nêu trong ví dụ trên có thể giải như
sau:
a. Muốn nhiệt độ trong phòng luôn luôn không đổi thì nhiệt lượng do dòng
điện qua lò sưởi toả ra trong một thời gian t nào đó (ở đây là 1giờ) phải bằng
nhiệt lượng Q mà gian phòng mất đi trong thời gian đó.
Theo định luật Jun - Len xơ thì.
Q = I2.R.t
(1)
trong đó R là điện trở của dây dẫn của lò sưởi, I là cường độ dòng điện qua lò
sưởi.
b. Theo định luật Ôm, ta có:

U
R


- Từ đó rút ra:

l=

- Thay các đại lượng trên bằng trị số của chúng, ta được:
2202.3600.1,5.10−4
l=
= 220(m)
2970000.0, 4.10−4

- Vậy chiều dài dây hợp kim đồng là 220m.
Như vậy dùng phương pháp tổng hợp, ta cũng tìm được chiều dài của dây
lò sưởi như khi dùng phương pháp phân tích.
Nhìn chung, khi giải bất kỳ một bài toán vật lí nào ta đều phải dùng cả hai
phương pháp: phân tích và tổng hợp. Phép giải bắt đầu bằng cách phân tích các
điều kiện của bài tập để hiểu được đề bài. Phải có một sự tổng hợp kèm theo
ngay để kiểm tra lại mức độ đúng đắn của sự phân tích các điều kiện ấy. Muốn
12


lập được kế hoạch giải, phải đi sâu vào phân tích nội dung vật lí của bài tập.
Tổng hợp những dữ kiện đã cho với những quy luật vật lí đã biết, ta mới xây
dựng được lời giải và kết quả cuối cùng.
Như vậy ta có thể nói là trong quá trình giải bài tập vật lí ta đã dùng
phương pháp phân tích - tổng hợp.
2.3.Áp dụng phương pháp giải bài tập vật lí vào một số bài tập cơ bản.
2.3.1.BÀI TOÁN 1.
Bỏ một quả cầu đồng thau khối lượng 1 kg được nung nóng đến 100 o C
vào trong thùng sắt có khối lượng 500g đựng 2kg nước ở 20 o C. Bỏ qua sự trao
đổi nhiệt với môi trường .Tìm nhiệt độ cuối cùng của nước.

Q = mc ∆ t
-Với lưu ý rằng trong bài toán này nhiệt độ ban đầu của hai vật thu nhiệt
13


( thùng sắt và nước) là bằng nhau( t2 = t3).
- Trên cơ sở phương trình cân bằng nhiệt vừa lập được kết hợp với dữ
kiện đã cho của bài toán để suy ra đại lượng cần tìm (t).
*Bài giải.
- Nhiệt lượng do quả cầu bằng đồng thau toả ra khi hạ nhiệt độ từ 100 o C
đến to C (nhiệt độ khi có cân bằng nhiệt) là:
Q1 = m1.c1(t1 – t)
- Nhiệt lượng mà thùng sắt (Q2) và nước (Q3) thu vào để tăng nhiệt độ từ
o
20 C đến to C là:
Q2 = m2.c2(t – t2)
(1)
Q3 = m3.c3(t –t2)
(2)
- Áp dụng phương trình cân bằng nhiệt ta có:
Q1 = Q2 + Q3
(3)
từ (1),(2) và (3) ⇒ m1.c1(t1 – t) = m2.c2(t –t2) + m3.c3(t –t2)
⇔ t ( m1c1 + m2c2 + m3c3 ) = m1c1t1 + ( m2c2 + m3c3 ) t2


t=

m1c1t1 + ( m2 c2 + m3 c3 )t2
m1c1 + m2 c2 + m3 c3

t3 ? khi R1nt R2.
t4 ? khi R1//R2.
* Phân tích bài toán.
-Bài toán này xuất phát từ định luật Jun-len xơ với biểu thức:
Q =I2.R.t
(1)
trong đó nhiệt lượng mà nước thu vào bằng nhiệt lượng do các điện trở toả ra.
- Theo điều kiện đầu bài thì nếu sử dụng biểu thức (1) của định luật Junlen xơ, thì việc giải bài toán rất phức tạp hoặc không thực hiện được. Vậy ở bài
toán này mối liên hệ giữa các đại lượng để tìm cấu trúc công thức rất quan
trọng, đóng vai trò quyết định đến sự thành công.
- Như ta đã biết từ công thức (1). Ta có thể viết được một số biểu thức
tương đương trên cơ sở mối liên hệ của một số đại lượng trong công thức với
các đại lượng khác, để việc tính toán không làm bài toán phức tạp.
Thật vậy: vì
U = I.R nên (1) ⇔ Q = U.I.t
(2)
- Tóm tắt:

mặt khác theo định luật Ôm: I =

U
R

U2
.t
nên (2) ⇔ Q =
R

(3)


nước bằng nhiệt lượng mà dây điện trở của ấm toả ra.
15


U2
.t
Q=
R

- Áp dụng công thức:

(Theo công thức (3) )

cho các trường hợp ta có:
a. Chỉ dùng dây R1:

U2
t1
Q1 =
R1

(1)

Chỉ dùng dây R2:

U2
t2
Q2 =
R2





U2
U2
t1 =
t3
R1
R1 + R2



t3 =

(3)

R1 + R2
4+6
t1 =
.10 = 25( ph)
R1
4

c. Khi dùng R1 song song R2:
 1

1 

2
Q4 = U  + ÷t4



thức cũng như rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Do đó bên cạnh việc
tổ chức các chuyên đề thì một trong những biện pháp tốt nhất để rèn luyện kỹ
năng giải bài tập cho học sinh để học sinh có thể thường xuyên được luyện giải
nhiều dạng bài tập khác nhau, cũng như tiếp xúc với các dạng bài tập có tính chất
mở rộng và nâng cao, để từ đó học sinh có thể vận dụng một cách linh hoạt các
cách giải từng dạng bài tập đó là : “Hướng dẫn học sinh học tập vật lí ở nhà”
Việc học sinh tự học ở nhà có một ý nghĩa lớn lao về mặt giáo dục và giáo
dưỡng. Nếu việc học ở nhà của học sinh được tổ chức tốt sẽ giúp các em rèn
luyện thói quen làm việc tự lực, giúp các em nắm vững tri thức, có kỹ năng, kỹ
xảo. Ngược lại nếu việc học tập ở nhà của học sinh không được quan tâm tốt sẽ
làm cho các em quen thói cẩu thả, thái độ tắc trách đối với việc thực hiện nhiệm
vụ của mình dẫn đến nhiều thói quen
xấu làm cản trở đến việc học tập.
Công việc học tập của học sinh ở nhà có những đặc điểm riêng sau:
+ Tiến hành trong một thời gian ngắn, không có sự hướng dẫn trực tiếp của
giáo viên, mặc dù đấy là công việc do chính giáo viên giao cho học sinh phải tự
mình hoàn thành, tự kiểm tra công việc mình làm.
+ Công việc này được thực hiện tuần tự theo hứng thú, nhu cầu và năng lực
của học sinh.
+ Dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh khác.
Có thể coi quá trình học tập của học sinh ở nhà bao gồm các giai đoạn :
trước hết phải nhớ lại những điều đã học ở lớp sau đó rèn luyện sáng tạo. Mỗi
giai đoạn có một nội dung công việc cụ thể.
Việc học tập của học sinh ở nhà phụ thuộc phần lớn vào việc dạy học trên
lớp của giáo viên. Vì vậy giáo viên cần phải căn cứ vào tình hình tiếp thu kiến
thức của học sinh mà giao cho các em những công việc có tính chất bổ sung phục
hồi tài liệu đã học như : nghiên cứu sách giáo khoa, vẽ hình ….
Trong khi dạy về vần đề nào đó cần suy nghĩ việc giao cho học sinh các

Cụ thể thông qua khảo sát chất lượng học sinh sau khi “Hướng dẫn học
sinh phương pháp giải bài toán vật lý khối 8,9”tôi thu được kết quả như sau:
*Kết quả so sánh đối chứng
+Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài :
Khối

8

HS
tham
gia KS

Giỏi

khá

SL

%

SL

%

SL

%

SL



3

5,6

18

33,3

26

48,1

7

13,0

+Kết quả khảo sát sau khi thực hiện đề tài:
Khối

HS
tham
gia KS

Giỏi

Khá

TB


19

36,5

3

5,8

9

54

7

13,0

25

46,3

18

33,3

4

7,4

Qua so sánh đối chứng kết quả tôi thấy tỉ lệ điểm :khá , giỏi tăng; điểm
trung bình,yếu-kém giảm cụ thể là :

đó học sinh tự hình thành cho mình kỹ năng giải bài tập.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra được từ thực tế
qua quá trình giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS nói chung, cũng là kinh
nghiệm rút ra được sau khi thực hiện đề tài này nói riêng.
*Dạy học nhằm góp phần quan trọng để hình thành nhân cách con người lao
động mới, sáng tạo, thích nghi với xã hội ngày càng phát triển. Do vậy phương
pháp dạy học bộ môn phải thực hiện được các chức năng nhận thức, phát triển và
giáo dục, tức là lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn sao cho học sinh nắm
vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Đặc biệt Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi phát huy cao độ
tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Chính vì vậy lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn vật lí, người giáo viên cần
căn cứ vào phương pháp đặc thù của khoa học lấy hoạt động nhận thức của học
sinh làm cơ sở xuất phát.
*Phạm vi áp dụng đề tài “Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lý
khối 8,9”có thể áp dụng ở hầu hết các bài tập trong các phần vận dụng và các tiết
bài tập.Có thể áp dụng ở tất cả các đối tượng học sinh khối 8,9 ở các trường
THCS
2.Kiến nghị:
Hiện nay làm thế nào để học sinh hiểu và vận dụng tốt kiến thức đã học vào
giải bài tập là hết sức quan trọng, trong khi đó việc dạy và học vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn, do vậy để nâng cao chất lượng các giờ học của môn vật lý tôi
xin đưa ra một số kiến nghị sau:
* Đối với các cấp quản lí giáo dục.
- Cần trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trường lớp cho các trường đặc biệt là
thiết bị về công nghệ thông tin.
- Mở các lớp tập huấn cho giáo viên về việc áp dụng công nghệ thông tin
vào giảng dạy .
- Tạo mọi điều kiện để giáo viên tự học tập nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ cho bản thân .

4.Bài Tập chọn lọc và nâng cao vật lý 9 của Nguyễn Thanh Hải.
5.Bài tập vật lý THCS . NXB đại học quốc gia TP HCM.
6.Bài tập vật lý chọn lọc dành cho học sinh THCS của PTS Vũ Thanh Khiết và
PTS VũThị Oanh-Nguyễn Phúc Thuần .

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status