Luận văn tốt nghiệp
Mục lục
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
1
Luận văn tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Qua quá trình gần bốn năm tu dưỡng rèn luyện và học tập tại lớp CQ
46/11.02 chuyên ngành tài chính doanh nghiệp của Học viện Tài chính, tôi đã
tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích và lí thú về những vấn đề kinh tế tài
chính tổng quát. Đặc biệt nhờ vào thời gian thực tập cuối khoá tại công ty
TNHH Sản xuất và Thương mại Bình Quân tôi còn học hỏi được nhiều kiến
thức và kĩ năng công việc của một nhà tài chính trong thực tế. Vận dụng kiến
thức tiếp thu được trên giảng đường cũng như những kĩ năng học hỏi được tại
công ty thực tập, tôi đã mạnh dạn phát triển một vấn đề tài chính mà tôi vốn
rất tâm huyết thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình: đó là việc sử dụng
đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp thực tế trong nỗ lực nâng cao lợi ích
cho chủ sở hữu. Luận văn của tôi sẽ khó có thể hoàn thành nếu thiếu đi sự
hướng dẫn nhiệt tình của các bác, các anh chị trong công ty thực tập, thầy
giáo hướng dẫn của bộ môn cũng như các thầy cô và các bạn trong học viện,
tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ban lãnh đạo cty TNHH SX &
TM Bình Quân, đặc biệt là các bác, các chị trong phòng kế toán tài chính, tới
thầy giáo hướng dẫn TS Vũ Văn Ninh và toàn thể các thầy cô, bạn bè trong
khoa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tuy nhiên do đây là
mảng đề tài khá mới trong nền kinh tế VN cũng như trong học viện và điều
kiện thời gian, trình độ, kiến thức có hạn nên luận văn vẫn còn nhiều sai sót
động sản xuất và kinh doanh không ngừng gia tăng, Công ty TNHH sản xuất
và thương mại Bình Quân chính là một trong những doanh nghiệp đang tích
cực sử dụng chính sách huy động nguồn vốn vay để tăng cường quy mô
nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên do chính sách sử dụng đòn
bẩy tài chính mới được doanh nghiệp sử dụng trong những năm gần đây nên
hiệu quả chưa thực sự cao, vì vậy qua đề tài này tôi muốn đi sâu nghiên cứu
và phân tích cũng như đóng góp một số ý kiến về việc nâng cao và hoàn thiện
việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty:
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
3
Luận văn tốt nghiệp
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH & NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐÒN BẨY TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI BÌNH QUÂN
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua bài luận văn của mình tôi hi vọng có thể áp dụng được
những kiến thức tiếp thu được trên giảng đường vào công việc của một doanh
nghiệp cụ thể trong thực tế. Qua đó phân tích đánh giá được một cách cụ thể
chi tiết nhất về tình hình sử dụng đòn bẩy tài chính và hiệu quả của việc sử
dụng đòn bẩy tài chính tại đơn vị thực tập của mình. Từ đó có thể đưa ra
những ưu nhược điểm và đóng góp một số ý kiến giải pháp cho ban lãnh đạo
cũng như phòng tài chính kế toán, để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
đòn bẩy tài chính tại công ty Bình Quân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng như hiệu quả của việc sử dụng đòn
bẩy tài chính tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Bình Quân.
5
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
TỚI GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Đòn bẩy tài chính là gì? Các công thức xác định? Vai trò và tác dụng
của đòn bẩy tài chính lên hoạt động tài chính của một doanh nghiệp? Các chỉ
tiêu, hệ số được sử dụng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài
chính? Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính? …
Phần này sẽ nêu lên nền tảng cơ sở lí thuyết và khoa học để cung cấp cho
người đọc những hình dung tổng quát nhất về vấn đề đòn bẩy.
1.1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH:
1.1.1
Khái niệm đòn bẩy tài chính và độ lớn đòn bẩy tài chính:
1.1.1.1
Khái niệm đòn bẩy tài chính :
Nhà vật lí học Accimes đã có câu nói nổi tiếng “Hãy cho tôi một điểm
tựa tôi có thể nâng cả trái đất lên”. Thật vậy, xuất phát từ khái niệm trong vật
lí học thuần tuý, ta coi đòn bẩy là một công cụ nhằm khuếch đại một lực từ
lực lớn thành lực nhỏ với tác dụng di chuyển vật thể dựa trên cánh tay đòn và
Hệ số nợ
=
Tổng nguồn vốn
Các công cụ vay nợ thường được sử dụng trong DN:
Thông thường một doanh nghiệp có thể tiến hành vay nợ bằng các 2
phương thức chính: phát hành chứng khoán nợ, phổ biến như phát hành trái
phiếu… hoặc là vay nợ ở các định chế tài chính trung gian như vay nợ ở ngân
hàng...Mỗi phương thức đều có những ưu nhược điểm nhất định.
- Phát hành chứng khoán nợ: chứng khoán nợ được doanh nghiệp phát
hành và được mua bán bởi nhà đầu tư, vì vậy khi bạn mua trái phiếu của
doanh nghiệp hoặc chính phủ cũng đồng nghĩa là bạn đang cho doanh nghiệp
hoặc chính phủ vay tiền. Khi phát hành các chứng khoán này, doanh nghiệp
phải chịu chi phí bao tiêu cho các tổ chức bảo lãnh phát hành và các chi phí
trung gian, tiếp thị quảng cáo nếu cần. Tuy nhiên với các chứng khoán nợ thì
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
7
Luận văn tốt nghiệp
cho phép doanh nghiệp huy động được nhiều tiền hơn và có thời gian đáo hạn
dài hơn so các khoản vay thông thường khác.
- Vay nợ: vay nợ từ các ngân hàng hoặc các định chế tài chính trung
gian khác, thông thường các doanh nghiệp sử dụng các khoản vay ngân hàng
để thực hiện các nghĩa vụ phải trả đối với người bán, mua hàng tồn kho và các
trang thiết bị mới hoặc để duy trì một lượng tiền mặt tại quỹ ở mức an toàn.
Trong hầu hết các trường hợp thì, các khoản vay ngân hàng có thời gian đáo
hàng. Đây là những yếu tố thuận lợi giúp các DN dễ dàng huy động vốn vay
và tăng tác động của đòn bẩy tài chính.
Sự khác biệt khi sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính:
Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy kinh doanh
- Thể hiện ở tỷ trọng đầu tư vào chi
- Thể hiện ở hệ số nợ tức là mức độ
phí cổ định trong tổng chi phí SXKD
huy động vốn vay trong tổng nguồn
của DN.
vốn của DN.
- Tác động khuếch đại lợi nhuận
- Tác động khuếch đại tỷ suất lợi
trước lãi vay và thuế dưới sự thay đổi
nhuận vốn chủ hay thu nhập một cổ
doanh thu và sản lượng.
phần dưới sự thay đổi lợi nhuận trước
lãi vay và thuế.
Mức độ tác độ
=
của đòn bẩy tài chính
DFL =
Tỷ lệ thay đổi của EBIT
∆ROE (EPS) / ROE
∆EBIT / EBIT
Trường hợp doanh nghiệp không có cổ phiếu ưu đãi :
∆ROE =
∆NI
NI
∆NI (∆EBIT − ∆I ).(1 − t )
:
=
= ( EBIT − I ).(1 − t )
E
E
NI
Do ∆I = 0 nên
DFL =
∆ROE
∆EBIT
NS
∆EBIT (1 − t )
NS
∆EBIT (1 − t )
∆EPS
NS
=
( EBIT − I )(1 − t ) − PD
EPS
NS
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
10
Luận văn tốt nghiệp
=
∆EBIT (1 − t )
( EBIT − I )(1 − t ) − PD
Nên công thức tính độ bẩy tài chính được tính như sau:
∆EBIT (1 − t )
( EBIT − I )(1 − t ) − PD
DFL =
P
: giá bán một sản phẩm
V
: chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm
F
: tổng chi phí cố định kinh doanh
ROE
: tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
PD
: cổ tức chi trả cho cổ đông ưu đãi
NS
: số lượng cổ phiếu thường ( Number of Share )
Từ công thức 1.1 và công thức 1.2 ta có thể thấy độ bẩy của đòn bẩy tài
chính trong hai trường hợp: Có dùng vốn cổ phần ưu đãi và không dùng vốn
cổ phần ưu đãi trong cơ cấu nguồn vốn là khác nhau.
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
PD
EBIT −
(1 − t )
DFL (1.1) < DFL (1.2)
Từ công thức trên ta dễ dàng suy ra rằng độ bẩy của đòn bẩy tài chính
khi sử dụng vốn nợ và cổ phần ưu đãi trong cơ cấu vốn sẽ lớn hơn trong
trường hợp không sử dụng vốn cổ phần mà chỉ sử dụng nợ trong trường hợp
chi phí trả cổ tức lớn hơn phần tiết kiệm nhờ thuế do sử dụng nợ.
+ Nếu chi phí trả cổ tức cổ phần ưu đãi (PD) nhỏ hơn phần tiết kiệm
nhờ thuế do sử dụng nợ (1 - t).I thì ta có:
PD < (1 − t ) I ⇔ PD (1 − t ) < 1
⇔ EBIT +
PD
< EBIT + I
(1 − t )
⇔ EBIT − I < EBIT −
⇔
EBIT
>
EBIT − 1
PD
lại kết quả cao nhất: về doanh thu, sản lượng, lợi nhuận, tỷ suất sinh lời…. với
chi phí bỏ ra là thấp nhất.
Chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng đòn bẩy
tài chính theo quan điểm sau: Hiệu quả sử dụng đòn bẩy là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ, năng lực của doanh nghiệp trong việc sử dụng nợ và cổ
phần ưu đãi để đảm bảo cho việc khuyếch đại thu nhập trên vốn cổ phần
thường một cách lớn nhất trong mọi trường hợp. Kết quả thu được càng cao
so với chi phí tài chính bỏ ra thì hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính càng cao
điều này nó thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu về mức sinh lời trên vốn
chủ sở hữu, trên vốn cổ phần thường, và một số chỉ tiêu liên quan.
Tác dụng phân tích hiệu quả:
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
13
Luận văn tốt nghiệp
Việc phân tích hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính để nhanh chóng có
biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của
doanh nghiệp trong quá trình sử dụng đòn bẩy tài chính. Thông qua phân tích
hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ cung cấp thêm những kinh nghiệm
cũng như kỹ năng dự báo, sử dụng đòn bẩy cùng những những ưu điểm và
hạn chế trong công tác tài chính tại doanh nghiệp, từ đó giúp nhà tài chính của
DN đưa ra được chính sách huy động vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất cho
các kì tài chính sau.
Các nhóm tỷ số chỉ mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính :
Tỷ số nợ trên tài sản hay Hệ số nợ (Debt Ratio) – Hd
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tương tự nhóm chỉ tiêu dùng để xác định mức độ đi vay hay mức độ sử
dụng đòn bẩy tài chính của DN người ta còn sử dụng thêm một số chỉ tiêu
như:
Để loại trừ tác động của các khoản vay nợ ngắn hạn như: phải trả
ngắn hạn và tín dụng thương mại phi lãi suất, người ta xác định
mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên qua chỉ tiêu:
Nợ dài hạn
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần
Để xác định mức độ đi vay còn có chỉ tiêu:
Tổng tài sản
Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần (vốn CSH)
Nhìn chung ở nhóm chỉ tiêu này: Hệ số nợ càng lớn làm cho độ bẩy tài chính
và rủi ro tài chính của DN càng tăng lên.
Chỉ tiêu xác định độ nghiêng của đòn bẩy tài chính:
DFL =
∆EPS
∆EBIT
Chỉ tiêu độ nghiêng của đòn bẩy tài chính nó thể hiện khả năng khuyếch
đại của đòn bẩy tài chính. Chỉ tiêu này càng lớn thì thể hiện sức mạnh của đòn
bẩy càng lớn, chỉ cần thu nhập trước thuế và lãi vay thay đổi một lượng nhỏ
thì cũng tạo nên một sự thay đổi lớn hơn nhiều trong thu nhập trên vốn cổ
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
15
Chỉ tiêu này cho biết 100đ tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
16
Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu – Return On Equity Ratio
(ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
x 100(%)
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết 100đ vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Đây là các chỉ tiêu thời kì.
Bằng cách tính toán và so sánh với chỉ tiêu kì trước hoặc với các DN
cùng ngành có quy mô tương đương hoặc trung bình ngành ta có thể đánh giá
chung về hiệu quả sử dụng vốn của DN. Nếu các chỉ tiêu này cao và ngày
càng tăng qua các năm thì chứng tỏ DN có tình hình làm ăn tốt, đạt lợi nhuận
cao. Đặc biệt khi so sánh giữa ROA và ROE ta có thể thấy được tác dụng và
hiệu quả của việc sử dụng nợ vay hay đòn bẩy tài chính với DN. Nếu ROE >
ROA chứng tỏ các chủ sở hữu nhận được nhiều lợi ích hơn so với lợi nhuận
tổng tài sản sinh ra hay đòn bẩy tài chính đã phát huy tác dụng khuếch đại
tăng ROE. Ngược lại nếu ROE < ROA chứng tỏ việc sử dụng nợ vay làm hao
hụt lợi nhuận của chủ sở hữu so với việc không sử dụng, khi đó đòn bẩy tài
có thể. Mặc dù cùng được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính nhưng hai chỉ tiêu này có một chút khác biệt. Với chỉ tiêu tỷ suất sinh
lời trên vốn chủ sở hữu nó phản ánh mức sinh lợi trên vốn cổ phần thường và
vốn cổ phần ưu đãi, còn với chỉ tiêu thu nhập trên vốn cổ phần thường thì lại
chỉ xét khả năng sinh lợi trên vốn cổ phần thường. Trong khi sử dụng vốn cổ
phần ưu đãi cũng tạo nên độ bẩy cho thu nhập trên vốn cổ phần thường.
Chính vì sự khác biệt này nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính thì chỉ tiêu thu nhập trên vốn cổ phần thường là chỉ tiêu quan trọng hơn.
Tuy nhiên với các công ty không cổ phần ta hay sử dụng chỉ tiêu ROE để
đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro khi sử dụng đòn bẩy tài chính :
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn :
Tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
18
Luận văn tốt nghiệp
Trong đó: + Tài sản lưu động bao gồm cả các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn (hay chính là tài sản ngắn hạn của DN).
+ Số nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phải trả
người bán, thuế các khoản phải trả nhà nước, phải trả người lao động, nợ dài
hạn đến hạn trả, các khoản phải trả có thời hạn dưới 12 tháng.
Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán lãi vay – Times interest earned
Ratio:
Lãi vay hàng kì là khoản chi phí tài chính cố định và ta muốn biết công
ty sẵn sàng trả khoản vay này tới mức nào hay liệu số vốn vay có được sử
dụng tốt, tạo ra bao nhiêu lợi nhuận để bù đắp lại khoản lãi vay. Tỷ số này
dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn có đảm bảo trả lãi
vay hàng năm hay không. Chỉ tiêu này rất quan trọng do nó có ảnh hưởng trực
tiếp đến quyết định xem xét có cho vay hay không của các chủ nợ.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ( EBIT )
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả trong kì.
Trong đó: + Lãi vay phải trả: bao gồm cả lãi vay cho các khoản ngắn hạn và
dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu DN.
Đây là một chỉ tiêu thời kì và cho biết EBIT của DN tạo ra trong kì có
khả năng thanh toán bao nhiêu lần lãi vay của DN. Nó thể hiện đòn bẩy tài
chính là đòn bẩy tài chính âm hay dương, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 tức là
doanh nghiệp có được đòn bẩy tài chính dương, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1
tức là doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính âm. Chỉ tiêu này được đánh giá
thông qua sự so sánh với 1, và với các năm trước đó, nếu càng lớn thì kết hợp
với các chỉ tiêu ở trên sẽ có thể kết luận được là việc sử dụng đòn bẩy tài
chính của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Ngoài ra một số DN còn sử dụng chỉ tiêu khả năng thanh toán các
chi phí tài chính cố định:
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
20
Luận văn tốt nghiệp
với công ty cổ phần mục tiêu chính khi sử dụng đòn bẩy tài chính là khuếch
đại tỷ suất sinh lời vốn cổ phần (EPS hay ROE). Đối với các công ty TNHH,
công ty liên doanh, liên kết… và các đối tượng không phát hành cổ phiếu nói
chung chính là gia tăng tối đa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu hay ROE và vẫn
đảm bảo an toàn tài chính cho công ty.
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
21
Luận văn tốt nghiệp
1.1.3.2
Vai trò của đòn bẩy tài chính đối với doanh nghiệp:
- Khái niệm đòn bẩy tài chính rất hữu dụng cho phân tích, hoạch định
và kiểm soát tài chính. Các chi phí tài chính cố định được sử dụng tạo rất
nhiều thuận lợi trong việc quản lý tài chính. Việc nghiên cứu về đòn bẩy tài
chính còn giúp cho các nhà quản trị tài chính có thể có thêm công cụ để gia
tăng lợi nhuận trên cổ phần thường, giúp có thêm các thông tin để hỗ trợ cho
việc quản lý nợ, vốn chủ sở hữu… của doanh nghiệp
- Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng đạt được
lợi nhuận cao hơn các định phí của nợ và cổ phần ưu đãi, từ đó gia tăng lợi
nhuận cho cổ đông thường. Tuy nhiên đòn bẩy tài chính là con dao hai lưỡi vì
nó cũng làm tăng tính khả biến hay rủi ro trong lợi nhuận của cổ đông thường.
Đối với các giám đốc tài chính, việc nghiên cứu đòn bẩy tài chính làm sáng tỏ
nguyên tắc đánh đổi lợi nhuận và rủi ro của nhiều loại quyết định tài chính
khác nhau.
- Bất cứ khi nào một doanh nghiệp dùng các chi phí tài chính cố định
hình và tất cả tài sản khác thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
- Xác định giá trị doanh nghiệp: được hiểu và thừa nhận một cách rộng
rãi là việc: điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác
định giá trị hiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp.
Đối tượng cần xác định giá trị doanh nghiệp: Các công ty:
- Đã và đang chuẩn bị Cổ phần hóa
- Dự kiến sẽ có những thay đổi đáng kể về quyền sở hữu hoặc cơ cấu
vốn của công ty: sáp nhập, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng vốn, mua bán
công ty hoặc nhượng quyền kinh doanh…
- Chuẩn bị phát hành trái phiếu lần đầu tiên ra công chúng
- Đang trên đà phát triển và mở rộng qui mô hoạt động, hoặc có sự thay
đổi về tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu.
Tại sao phải tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp?
- Cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình
hiện tại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng
- Các cơ hội và tiềm năng phát triển cho tương lai, đặc biệt là các khoản
nợ ngoài dự kiến, ví dụ: các vấn đề về thuế, các nguy cơ tiềm ẩn về kiện tụng,
tranh chấp,…
- Chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng lần đầu (IPO).
Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính
23
Luận văn tốt nghiệp
- Cải thiện tình hình hoạt động chung của công ty trước thực trạng hoạt
động kém hiệu quả.
Tác dụng của việc xác định giá trị doanh nghiệp :
Luận văn tốt nghiệp
Một dự án xác định giá trị DN toàn diện và thành công sẽ đem lại
những hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những
khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp
phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và
chủ DN.
1.2.2
Cách xác định giá trị doanh nghiệp:
Hiện nay, để xác định giá trị doanh nghiệp, người ta thường dùng các
phương pháp sau:
- Phương pháp giá trị tài sản thuần
- Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức
- Phương pháp chiết khấu lợi nhuận
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền
- Phương pháp hệ số giá trên thu nhập (P/E)
Tuy nhiên, hiện nay, tại nước ta có 3 cách hình dung về giá trị (toàn bộ)
tài sản của một doanh nghiệp.
1. Một là xem “thị giá” doanh nghiệp là tổng giá trị doanh nghiệp.
Thị giá của một doanh nghiệp = Giá tham chiếu của cổ phiếu x Khối lượng cổ
phiếu niêm yết.
Trong đó: + Giá tham chiếu của cổ phiếu là giá đóng cửa của ngày giao dịch
gần nhất trước đó.
Giả sử công ty có 10 triệu cổ phiếu đang lưu hành với giá đóng cửa của
phiên giao dịch gần nhất (chẳng hạn ngày 20/5/2008) là 100 nghìn đồng một
cổ phiếu (mệnh giá khi phát hành là 10 nghìn đồng) thì giá trị thị trường (thị
giá) của công ty này là 1.000 tỷ đồng.
Như vậy, thị giá một doanh nghiệp chỉ có khi DN đã có mặt trên thị trường
chứng khoán và thị giá thay đổi từng ngày theo giá chứng khoán.