Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
MỤC LỤC
TH C TR NG TÌNH HÌNH T CH C QU N LÝ VÀ S D NGỰ Ạ Ổ Ứ Ả Ử Ụ 25
V N L U NG T I CÔNG TY TNHH S N XU T Ố Ư ĐỘ Ạ Ả Ấ 25
VÀ TH NG M I TÂN Á.ƯƠ Ạ 25
2.1. T ng quan v công ty TNHH SX & TM Tân Á.ổ ề 25
2.1.1. Khái quát v quá trình hình th nh v phát tri n c a công ty.ề à à ể ủ 25
T ng c ngổ ộ 39
T i s nà ả 40
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
1
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn luôn được xem là một yếu tố quan trọng hàng đầu của mọi quá
trình sản xuất kinh doanh và là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu lâm
vào tình trạng khủng hoảng như hiện nay thì giải quyết tình trạng thiếu vốn
đang là một trong những vấn đề nan giải nhất. Từ đó đòi hỏi bất cứ doanh
nghiệp nào cũng vậy muốn tồn tại và phát triển được thì trước hết phải quan
tâm đến việc tạo lập, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhằm đem lại lợi
nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, nếu vốn
cố định được ví như là xương cốt của một cơ thể sống, thì vốn lưu động lại
được ví như là huyết mạch trong cơ thể đó mà cơ thể ở đây chính là doanh
nghiệp, bởi đặc điểm vận động tuần hoàn liên tục gắn với chu kỳ hoạt động
sản xuất kinh doanh. Do đó, quản lý vốn lưu động luôn được xem là một
trong những công tác quản lý hàng đầu trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trước đây cơ chế tập trung bao cấp đã kìm hãm sự phát triển của các
doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Các doanh nghiệp đều
không quan tâm cũng như không có biện pháp thích hợp quản lý việc sử dụng
đồng vốn có hiệu quả mà đa phần ỷ lại Nhà nước gây ra hiện tượng Ngân
sách nhà nước bội chi diễn liên tục trong nhiều năm. Bước sang nền kinh tế
Chương II: Thực trạng công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu
động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại Tân Á- Nhà
máy Tân Á Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả tổ
chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH sản xuất và thương
mại Tân Á- Nhà máy Tân Á Hà Nội.
Do thời gian thực tập không nhiều, điều kiện nghiên cứu và trình độ
kiến thức còn hạn chế nên mặc dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng đề tài
nghiên cứu này khó có thể tránh khỏi sự thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận
được sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài nghiên
cứu được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo, tiến sỹ Vũ
Văn Ninh- giảng viên khoa Tài chính doanh nghiệp- Học viện tài chính, cùng
tập thể cán bộ công nhân viên phòng tài chính- kế toán và các phòng ban có
liên quan đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2009.
Sinh viên thực hiện:
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
3
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Nguyễn Thị Huyền Trang
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1 Vốn lưu động.
1.1.1. Khái niệm,đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối
tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được những yếu tố này đòi hỏi
doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều
lợi.Để hình thành nên các tài sản lưu động này doanh nghiệp phải có đủ tiền
vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của tài sản lưu động, khiến cho các
hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Do đó có thể nói:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài
sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
được thực hiện thường xuyên, liên tục.Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ
giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng
chu chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi
các đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các
đặc điểm sau:
- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu
hiện
- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá trị
sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm,
hàng hóa, cung ứng dịch vụ thu được tiền về.
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh
doanh.
Từ khái niệm, đặc điểm vốn lưu động ta có nội dung quản lý vốn lưu
động như sau:
- Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá
trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thu tiền bán hàng về. Do vậy nhiệm vụ
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
5
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
của công tác quản lý vốn lưu động là phải thu hồi lại lượng vốn lưu động đó.
Ngay khi có tiền bán hàng thu về ở cuối kỳ phải trích ngay một lượng vốn để
tái lập lượng vốn lưu động ban đầu đảm bảo sức mua, đảm bảo cho chu kỳ
sản xuất tiếp theo.
đánh giá cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp mình đã hợp lý hay chưa và
xây dựng các biện pháp quản trị thích hợp đối với từng loại vốn. Đồng thời
cách phân loại này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá
mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh
doanh:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Đây là bộ phận vốn lưu
động cần thiết nhằm lập nên các khoản dự trữ vật tư, hàng hóa đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục bao gồm: Vốn nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất: Là số vốn lưu động dự
trữ kể từ khi xuất vật tư dùng vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm hoàn
chỉnh, bao gồm: Vốn sản phẩm đang chế tạo và vốn về chi phí trả trước
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm: Vốn thành phẩm, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá
được mức độ đầu tư vốn lưu động vào các giai đoạn của quá trình sản xuất
hợp lý hay không để có định hướng điều chỉnh kịp thời. Hơn nữa, nó còn giúp
cho các nhà quản lý thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra các biện
pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý,
tăng được tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
1.2. Tổ chức đảm bảo vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1.1. Chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên bắt đầu
từ việc mua sắm, dự trữ vật tư cần thiết đến sản xuất tạo ra sản phẩm, bán sản
phẩm, cung ứng dịch vụ và thu được tiền bán hàng về. Quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục tạo thành chu kỳ kinh doanh.
gian nhất định doanh nghiệp mới thu được tiền làm hình thành khoản nợ phải
thu từ khách hàng, doanh nghiệp đã cung cấp vốn cho người mua và chỉ khi
nào doanh nghiệp thu được tiền bán hàng về thì doanh nghiệp mới thu hồi
được số vốn lưu động đã ứng ra.
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
8
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Như vậy, trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu
vốn lưu động. Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là thể hiện số vốn tiền
tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ
hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng
của nhà cung cấp.
Ta có công thức xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp như sau:
Nhu cầu vốn = Mức dự trữ + Khoản phải thu - Khoản phải trả
lưu động hàng tồn kho từ khách hàng nhà cung cấp
1.2.1.2 Phân loại nhu cầu vốn lưu động:
Căn cứ vào tính chất cũng như thời gian sử dụng vốn lưu động, người
ta chia nhu cầu vốn lưu động thành 2 loại:
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết: Là nhu cầu vốn lưu
động tính ra phải đủ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một
cách liên tục nhưng đồng thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp
lý. Nghĩa là tương ứng với mỗi quy mô kinh doanh, với điều kiện về mua sắm
dự trữ hàng hóa, vật tư và tiêu thụ sản phẩm đã được xác định đòi hỏi doanh
nghiệp phải thường xuyên có một lượng vốn lưu động nhất định.
- Nhu cầu vốn lưu động có tính chất tạm thời: Trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp thường có thể phát sinh những nhu cầu cần thiết phải
tăng thêm dự trữ về vật tư hàng hóa hoặc sản phẩm dở dang do tính chất thời
vu, do nhận thêm đơn đặt hàng, do biến động vật tư tăng giá…Điều đó đòi hỏi
doanh nghiệp phải tăng thêm lượng vốn lưu động ứng vào cho quá trình kinh
doanh.
mẫu mã phong phú và trên khía cạnh nào đó doanh nghiệp chỉ cần ứng ra
một lượng vốn lưu động ít hơn nhưng đem lại hiệu quả cao hơn. Vì vậy nếu
tài sản cố định của doanh nghiệp càng được trang bị hiện đại sẽ góp phần
giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng lãng phí, ứ đọng vật tư trong quá
trình sản xuất dẫn tới nhu cầu vốn lưu động sẽ giảm. Bên cạnh đó, nếu quy
trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm càng ít và đơn giản thì nhu cầu vốn lưu
động càng thấp và khả năng thu hồi vốn nhanh hơn những sản phẩm có quy
trình sản xuất phức tạp.
* Những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm:
- Khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng vật tư hàng hóa:
Nếu khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng vật tư hàng hóa mà xa
thì số lần cung ứng vật tư sẽ ít hơn thông thường, tuy nhiên số lượng mỗi lần
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
cung ứng lại lớn, dẫn đến số lượng hàng tồn kho thường nhiều cho nên nhu
cầu vốn lưu động lớn. Điều này cũng tương tự với khoảng cách giữa doanh
nghiệp với thị trường bán hàng.
- Sự biến động về giá cả của các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp
sử dụng trong sản xuất kinh doanh: Nếu giá cả của các loại vật tư ổn định thì
nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp cũng ổn định. Nhưng nếu giá cả của
các loại vật tư mà thường xuyên biến động tăng thì doanh nghiệp có xu hướng
mua nhiều vật tư để dự trữ. Vì vậy, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
cũng biến động tăng lên.
- Điều kiện và phương tiện vận tải: Trong điều kiện khó khăn, phương
tiện vận tải thiếu thì nhu cầu vốn lưu động cao hơn so với mức bình thường.
* Chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ
chức thanh toán: Chính sách về tiêu thụ sản phẩm và tín dụng của doanh
nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kỳ hạn thanh toán, quy mô các khoản phải
phải thu. Do đó, việc tổ chức tiêu thụ, thực hiện các thủ tục thanh toán và tổ
∑∑
= =
=
k
i
n
i1 1
Vnc
Mij x Nij
Trong đó: V
nc
: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của doanh
nghiệp
M Mức tiêu dùng bình quân một ngày của loại vốn cần tính
toán
N : Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán.
i: Các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh: Dự trữ- sản
xuất- tiêu thụ( i=1,k; k=3).
j: Loại vốn sử dụng trong từng khâu( j=1,n).
Nhu cầu vốn lưu động được xác định theo phương pháp này tương đối
sát và phù hợp với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên,
phương pháp này có hạn chế là việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng
tính toán nhiều và mất thời gian. Vì vậy, phương pháp này thường ít được
doanh nghiệp sử dụng. Thay vào đó các doanh nghiệp thường sử dụng
phương pháp gián tiếp hơn.
b) Phương pháp gián tiếp
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
* Nội dung của phương pháp: Dựa vào số vốn lưu động bình quân và
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa
các yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, nợ phải thu từ
khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua
để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng
tỷ lệ chuẩn này để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.
* Trình tự tiến hành phương pháp:
- Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động
trong năm báo cáo.
- Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo
cáo. Từ đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động (T
d
) so với doanh thu thuần.
T
d
= % Hàng tồn kho + % Nợ phải thu từ - % Nợ phải trả nhà
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
13
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
khách hàng nhà cung cấp.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch.
V
nc
= T
d
x Doanh thu thuần dự kiến
1.2.2 Nguồn tài trợ vốn lưu động.
1.2.2.1 Theo phạm vi huy động vốn.
- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn lưu động được hình thành từ số vốn
điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
trong việc đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, đảm bảo cho
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra ổn định và liên tục.
- Nguồn vốn lưu động tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn
hạn( dưới 1 năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính
chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này thường bao gồm: vay ngắn hạn ngân hàng vá
các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Tùy theo từng đặc điểm, tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp và từng
giai đoạn phát triển khác nhau trong chu kỳ sống của doanh nghiệp, cũng như tình
hình nền kinh tế mà cách thức phối hợp các nguồn tài trợ để đáp ứng nhu cầu vốn
lưu động là không giống nhau. Và việc tổ chức nguồn tài trợ đảm bảo nhu cầu vốn
lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần được xem xét trong
tổng thể chiến lược chung về tổ chức hoạt động vốn của doanh nghiệp.
1.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động trong
doanh nghiệp.
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn
lưu động trong doanh nghiệp.
1.3.1.1 Xuất phát từ vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những
biện pháp quản lý hợp lý về kỹ thuật, tổ chức sản xuất cũng như quản lý toàn
bộ các hoạt động khác của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển.
Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng trong tổng vốn kinh doanh.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
15
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
quá trình khai thác sử dụng vốn lưu động với lượng vốn lưu động mà doanh
nghiệp bỏ ra.
16
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
doanh thu. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn lưu động sẽ mang lại hiệu quả kinh
tế không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội. Doanh nghiệp có đủ điều
kiện trang trải chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh thu tiêu thụ, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường và hoàn thành
nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
1.3.1.3. Xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh
nghiệp hiện nay.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp không còn được bao cấp về
vốn như trước đây, doanh nghiệp phải tự trang trải chi phí và tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Vì vậy, Phấn đấu nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng là một trong
những vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mực tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động
cũng như chưa xây dựng được các biện pháp thích hợp nhằm quản lý và sử
dụng vốn lưu động. Do đó, vẫn còn tồn tại hiện tượng thất thoát, lãng phí vốn
lưu động trong các giai đoạn sản xuất kinh doanh cùng với việc xác định nhu
cầu vốn lưu động không đúng đắn đã làm cho hiệu quả sử dụng đồng vốn
kinh doanh chưa cao.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
1.3.2.1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở
tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu
động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo
bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển(L) và kỳ luân chuyển vốn lưu động(K).
- Số lần luân chuyển vốn lưu động: Là chỉ tiêu phản ánh số lần luân
chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được
trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Công thức xác định như sau:
M: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động ở trong kỳ
VLĐ: Số vốn lưu động bình quân sử dụng ở trong kỳ.
Theo công thức trên ta thấy, kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ nghịch với
số lần luân chuyển của vốn lưu động. Vòng quay vốn càng nhanh thì kỳ luân
chuyển vốn càng được rút ngắn và việc sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả.
Số vốn lưu động bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình
quân số vốn lưu động trong từng quý hoặc tháng. Công thức tính như sau:
Hay:
Trong
đó:
VLĐ: Vốn lưu động bình quân trong năm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
VLĐ =
V
đq1
+ V
cq1
+ V
cq2
+ V
cq3
+
V
cq4
2 2
4
18
V
q1
+ V
Là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu thuần về
tiêu thụ sản phẩm. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
vốn lưu động và được tính bằng cách lấy số vốn lưu động bình quân trong kỳ
chia cho tổng doanh thu thực hiện trong kỳ. Công thức xác định như sau:
Hàm lượng vốn lưu động =
VLĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
1.3.2.3. Mức tiết kiệm vốn lưu động:
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng
tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh( kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc(kỳ
báo cáo). Công thức xác định như sau:
)(
360
)(
01
1
KK
M
V
TK
−×=±
hoặc
0
1
1
1
)(
L
M
L
Số VLĐ bình quân trong kỳ
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
19
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế (sau thuế).
1.3.2.5. Một số chỉ tiêu khác.
* Số vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay
hàng tồn kho
=
Giá vốn hàng bán
Trị giá hàng tồn kho bq
Chỉ tiêu này phản ánh số lần mà hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ. Số
vòng hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá là tốt.
* Số ngày một vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày trong kỳ
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình một vòng quay hàng tồn kho.
* Số vòng quay khoản phải thu:
* Số vòng quay
khoản phải thu
=
Doanh thu (có thuế)
Số dư bình quân khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
mặt của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy tốc độ thu hồi các
khoản phải thu nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn và ngược lại.
* Kỳ thu tiền trung bình:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ bằng tiền
và các loại chứng khoán ngắn hạn dễ dàng chuyển đổi thành tiền.
1.3.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức quản lý và sử
dụng vốn lưu động.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trong
môi trường kinh tế nhất định. Do đó, việc quản lý và sử dụng vốn lưu động
luôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố cả tích cực lẫn tiêu cực. Để phát huy
những nhân tố tích cực đồng thời hạn chế các nhân tố tiêu cực, đề ra phương
hướng, biện pháp nhằm nâng cao công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu
động nhất thiết người quản lý phải nắm bắt và hiểu rõ những nhân tố này.
1.3.3.1. Nhân tố khách quan:
- Lạm phát: Do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của
đồng tiền bị giảm sút làm cho vốn lưu động của doanh nghiệp bị giảm dần
theo tốc độ trượt giá của tiền tệ.
- Rủi ro: Khi tham gia kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, doanh nghiệp luôn phải chịu một mức độ rủi ro nhất định như: thị
trường tiêu thụ hàng hóa bất ổn, giá cả vật tư thường xuyên biến động…
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải gánh chịu nhiều rủi ro do thiên tai gây ra
như: lũ lụt, hỏa hoạn…
- Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Sự thay đổi chính sách về hệ
thống pháp luật, thuế,…gây ảnh hưởng không nhỏ tới điều kiện hoạt động
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
21
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tất yếu sẽ ảnh hưởng đến vốn của
doanh nghiệp.
1.3.3.2. Các nhân tố chủ quan:
- Việc xác định nhu cầu vốn lưu động: Việc xác định nhu cầu vốn lưu
động thiếu chính xác sẽ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn lưu động trong
quá trình sản xuất kinh doanh ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả sử dụng vốn
kiện để tăng nhanh vòng quay và hiệu suất hoạt động của vốn lưu động vừa là
điều kiện đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thông
suốt, trôi chảy mà không có sự ứ đọng vốn.
* Quản lý tốt quá trình sử dụng vốn lưu động:
- Quản trị vốn bằng tiền: Doanh nghiệp phải chủ động lập kế hoạch cân
đối các khoản thu chi bằng tiền cho từng tháng, quý, năm để vừa đảm bảo cho
khả năng thanh toán của doanh nghiệp vừa tối thiểu hóa lượng tiền mặt tại
quỹ. Thông qua kế hoạch đó, trên cơ sở xem xét các dòng tiền vào và dòng
tiền ra, doanh nghiệp thấy được sự thiếu hụt hay dư thừa vốn bằng tiền để có
biện pháp xử lý kịp thời, phù hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp phải xây dựng hệ
thống kiểm soát vốn bằng tiền theo kế hoạch ngân quỹ đã xây dựng.
- Quản lý tốt công tác thanh toán và công nợ: Đối với Các khoản phải
thu, doanh nghiệp phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý, xác
minh phẩm chất tín dụng của khách hàng, lập bảng phân loại thời gian các
khoản nợ phải thu của khách hàng để có những biện pháp cần thiết nhằm thu
hồi nợ. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải chủ động phòng ngừa rủi ro bằng các
biện pháp như lập quỹ dự phòng phải thu khó đòi, mua bảo hiểm. Còn đối với
Các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thanh toán các khoản phải trả đúng
hạn, cần thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải trả với khả năng
thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi
đến hạn, đồng thời cần lựa chọn các hình thức thanh toán phù hợp an toàn và
hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp.
- Quản lý tốt vốn tồn kho dự trữ: Doanh nghiệp phải có biện pháp
xác định đúng đắn mức dự trữ vật tư, hàng hoá hợp lý, đảm bảo đúng chất
lượng đáp ứng nhu cầu cho quá trình sản xuất. Muốn vậy, doanh nghiệp
phải xác định được mức tiêu hao nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ,… để
sản xuất một đơn vị sản phẩm; kết hợp với kế hoạch được lập trong kỳ (về
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
23
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Sản xuất và thương mại Tân Á. Qua mười lăm năm xây dựng và phát triển
Công ty Tân Á đã có những bước phát triển và đạt được những thành công
nhất định và nhãn hiệu Tan a, Rossi, sunflower đã nổi tiếng từ nam vào bắc
trong lĩnh vực hàng cơ khí tiêu dùng.
Năm 1993: Công ty bắt đầu đi vào sản xuất ổn định hai sản phẩm chính
là Bồn Chứa Nước bằng INOX và Bồn Nhựa Đa Chức Năng.
Năm 2001: Nghiên cứu sản phẩm ống INOX, Bình Nước Nóng Năng
Lượng Mặt Trời và đầu tư máy móc, thiết bị xây dựng nhà xưởng tại KCN
Vĩnh Tuy và trụ sở chính của Công ty.
Năm 2002: Cho ra đời sản phẩm ống INOX.
Năm 2003: Đầu tư xây dựng nhà máy tại tỉnh Hưng Yên để mở rộng
sản xuất, cho ra đời sản phẩm mới.
Năm 2004: Chế tạo thành công sản phẩm mới: Bình Nước Nóng Năng
Lượng Mặt Trời mang nhãn hiệu Sunflower- Hoa Hướng Dương.
Năm 2005: Tháng 6 năm 2005, Nhà Máy Tân Á - Hưng Yên chính thức
đi vào sản xuất. Nhà máy Tân Á - Hưng Yên được Công ty Tân Á đầu tư xây
dựng từ năm 2003 với diện tích 40.000m
2
, với tổng số vốn đầu tư trên 54 tỷ
đồng tại Thị trấn Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Và Tháng 8 năm 2005, Nhà Máy
TÂN Á - Hưng Yên đã sản xuất thành công hai sản phẩm mới: Chậu Rửa
Inox Rossi và Bình Nước Nóng Rossi sản xuất theo tiêu chuẩn công nghệ
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: CQ43/11.02
25