ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI – THỰC TIỄN TẠI
VIỆT NAM
Ngành:
Luật Kinh tế
Chuyên ngành: Luật Hợp đồng
Niên khóa:
2011-2015
`
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: VÕ THỊ SÁU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TH.S NGUYỄN THỊ HÀ
THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành đến quý Thầy Cô giáo tại Đại học Luật - Đại học Huế đã tận tình
giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt bốn năm học qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo Th.S
Nguyễn Thị Hà – Người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và tận tình giúp
đỡ em với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển
1
2
3
4
5
Bộ Công thương
Bộ Thương mại (2004)
Hồ Hữu Hoành (2008)
Infornet (2014)
Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị
Bích Thọ, Dương Anh Sơn
(2005)
Nguyên Nga (2013)
Nguyễn Đông Phong (2009)
Linh San (2014)
Trần Ngọc Sơn (2009)
Nguyễn Thanh Tâm (2007)
Nguyễn Khánh Trung (2012)
Nguyễn Khánh Trung (2008)
Lý Qúi Trung (2013)
Lý Qúi Trung (2007)
Lý Qúi Trung (2006)
Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh
tế quốc tế (2006)
VTC (2013)
Website Burger King Việt Nam
Website KFC Việt Nam
Website Metro Việt Nam
Website Phở 24
26
27
28
Trang
Khóa luận
Tần suất
trích dẫn
01
01
02
01
01
01
01
01
01
01
01
01
01
02
01
01
01
01
01
01
01
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
1. Phụ lục 2.1: Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động NQTM
2. Phụ lục 2.2: Số lượng công ty nước ngoài đã đăng ký hoạt động NQTM tại
Việt Nam từ năm 2014 đến nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là các quốc gia phải hợp
tác, liên kết với nhau để cùng phát triển. Trong rất nhiều hình thức hợp tác kinh
doanh giữa các doanh nghiệp của các quốc gia như liên doanh, độc quyền, nhượng
quyền thương mại (NQTM)...thì hình thức NQTM được áp dụng nhiều hơn cả.
NQTM mang lại thành công cho nhiều doanh nghiệp ở nhiều nơi, đem lại cho nền
kinh tế thế giới hàng nghìn tỷ USD mỗi năm.
Để có thể tiến hành hoạt động NQTM vượt ra ngoài biên giới quốc gia thành
công, đòi hỏi các doanh nghiệp trên thế giới phải nắm rõ các quy định của pháp luật
quốc tế cũng như pháp luật trong nước về NQTM. Sự phát triển mạnh mẽ của
phương thức NQTM hiện nay, rất cần sự điều chỉnh một cách thống nhất và đầy đủ
của hệ thống pháp luật quốc tế để tạo cơ sở cho hoạt động này ngày càng phát triển.
Tại Việt nam, NQTM đã du nhập hơn 15 năm qua nhưng vẫn còn nhiều
người chưa hiểu về hình thức kinh doanh này cũng như không thấy được những lợi
ích có được khi kinh doanh theo mô hình nhượng quyền, do đó họ vẫn chưa mạnh
dạn đầu tư. Trong khi Việt Nam là mảnh đất giàu tiềm năng, lại có được lợi thế của
người đi sau, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi từ các nước tiên
phong đi trước để tăng tốc, phát huy hiệu quả của loại hình kinh doanh này. Mặc
khác, nền kinh tế phát triển nhanh chóng cộng với việc gia nhập WTO khiến Việt
Nam trở thành điểm lý tưởng cho các nhà đầu tư. Với những điều kiện kinh tế - xã
lý luận và thực tiễn" của tác giả Đinh Thị Thu Hà; khóa luận "Hợp đồng NQTM có
yếu tố nước ngoài - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị
Hương Ly. Các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến pháp luật NQTM có yếu tố
nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam chứ chưa đề cập đến pháp luật
quốc tế về NQTM.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích của tác giả nhằm:
• Nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế về NQM.
2
• Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về NQTM tại Việt
Nam trên cơ sở pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam; nêu ra những mặt hạn
chế, tồn tại trong các quy định pháp luật hiện hành về NQTM cũng như hoạt
động NQTM tại Việt Nam.
• Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
thi của pháp luật NQTM ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tập hợp các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
NQTM.
• Nghiên cứu cơ sở lý luận NQTM trong các tài liệu.
• Thu thập số liệu về tình hình hoạt động NQTM ở nước ta trong những
năm gần đây.
• Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NQTM tại Việt Nam
• Đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định pháp luật về NQTM tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
• Nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế về NQTM.
- Phương pháp thống kê để thấy được số lượng một số hệ thống NQTM
tại Việt Nam;
- Phương pháp điều tra, khảo sát để làm rõ các hoạt động NQTM tại Việt
Nam;
6. Cơ cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận được chia thành
2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại theo pháp
luật quốc tế
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về nhượng quyền
thương mại tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện
4
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT QUốC TẾ
1.1. Một số vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại (Franchise)
1.1.1. Lịch sử và các quan điểm về nhượng quyền thương mại
1.1.1.1. Lịch sử nhượng quyền thương mại
Thuật ngữ "Nhượng quyền - Franchise" có nguồn gốc tiếng Pháp
"Francis" có nghĩa là đặc quyền, ưu đãi. Mặc dù không có nguồn gốc tiếng Anh
nhưng các quan hệ franchise đầu tiên được sử dụng phổ biến một cách rộng rãi
không phải ở châu Âu lục địa mà là ở Hoa Kỳ [9, tr. 226]. Tuy nhiên, theo
nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của phương thức kinh doanh nhượng
quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII tại châu Âu.
Ở Đức, vào những năm 1840, một số nhà sản xuất rượu bia lớn đã cấp quyền
cho một số quán rượu kinh doanh độc quyền rượu bia của họ, đây chính là khởi
nguồn của khái niệm NQTM mà hiện nay chúng ta đang nói đến. Trong giai đoạn
Ngày nay, NQTM là một lĩnh vực được quy định chặt chẽ và đã xuất hiện ở
hầu hết các quốc gia. Nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ phát triển, hỗ trợ và
quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập, điển hình là hội đồng Franchise
thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994 với các thành viên là các
hiệp hội franchise của nhiều quốc gia. Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động
có ích cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế các quốc gia đã được thực hiện như: Tổ
chức các hội chợ franchise quốc tế; xây dựng niên giám franchise khu vực và trên
thế giới; hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành; xây dựng các Website để
cung cấp thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise.
1.1.1.2. Các quan điểm về nhượng quyền thương mại
6
Các trường phái trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về NQTM
nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh
NQTM đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh
tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia nên các khái niệm này có sự khác biệt.
Theo từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ học thì franchise là "Cho phép ai
đó chính thức được bán hàng hóa hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực cụ thể
nào đó". Còn theo từ điển Webster của Anh thì định nghĩa "Franchise là một đặc
quyền được trao cho một người để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thương
hiệu" [23]. Qua hai định nghĩa trên, chúng ta thấy cả hai định nghĩa đều đã nêu
được nội dung cơ bản của NQTM nhưng lại quá ngắn gọn nên chưa diễn tả hết nội
dung của từ franchise. Do đó, để tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm NQTM, chúng ta
nghiên cứu một số khái niệm khác về NQTM.
Theo Hiệp hội NQTM quốc tế thì "NQTM là một mối quan hệ hợp đồng giữa
bên nhượng quyền và bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền cung cấp và có
nghĩa vụ duy trì sự quan tâm liên tục đến việc kinh doanh của bên nhận quyền trên các
lĩnh vực như bí quyết kinh doanh và đào tạo; còn bên nhận quyền sẽ hoạt động dưới
tên thương mại chung, phương thức và/hoặc cách thức kinh doanh do bên nhượng
mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của các thương nhân thông qua việc chia sẻ
quyền kinh doanh trên một thương hiệu cho một thương nhân khác. Hay nói cách
khác, NQTM chính là việc nhượng quyền kinh doanh kèm theo đó là uy tín, nhãn
hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh cũng như các kiến
thức, bí quyết kinh doanh, dây chuyền thiết bị công nghệ cho một thương nhân
khác. Quan hệ này được tạo lập bởi ít nhất hai chủ thể: bên nhượng quyền (là bên
có quyền sở hữu đối với "quyền thương mại") và bên nhận quyền (là bên độc lập,
muốn kinh doanh bằng "quyền thương mại" của bên nhượng quyền). Theo đó, bên
nhượng quyền trao cho bên nhận "quyền thương mại" bao gồm sử dụng mô hình, kỹ
thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới thương hiệu của mình và nhận lại một
khoản phí trong một khoảng thời gian nhất định; bên nhận quyền sử dụng "quyền
thương mại" của bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng phải
chấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa ra.
1.1.2. Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
Hoạt động NQTM có một số đặc trưng riêng biệt, có thể phân biệt dễ dàng
9
với một số hoạt động thương mại cùng loại khác.
Thứ nhất, về chủ thể
Chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
Bên nhượng quyền phải có một hệ thống và cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh
trên thị trường. Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải nghiệm thị trường đủ để tạo
ra một giá trị "quyền tài sản" hợp lý và tạo niềm tin cho bên nhận quyền. Bên nhận
quyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, tài chính với bên nhượng quyền,
đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra để thực hiện việc tham gia vào hệ
thống nhượng quyền của bên nhượng quyền.
Thứ hai, về đối tượng
Đối tượng của NQTM là quyền thương mại. Nội dung của quyền thương mại
có thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại hình NQTM và sự thỏa thuận giữa các
Trong tất cả các hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền đều phải trả phí cho
bên nhượng quyền để được quyền tham gia vào hệ thống NQTM. Phí nhượng quyền
bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí định kỳ (thường được tính trên tỷ lệ doanh
thu hoặc một khoản phí cố định), phí dịch vụ, phí cấp phép, phí quảng cáo, các loại
phí khác về cung cấp các dịch vụ cho bên nhận quyền có thể được thỏa thuận giữa hai
bên.
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản của NQTM, tùy theo từng hình thức
nhượng quyền cụ thể mà quan hệ NQTM còn có thể có các đặc điểm khác.
1.1.3. Các loại hình nhượng quyền thương mại
Từ khi NQTM ra đời cho đến nay, hoạt động này có rất nhiều cách phân loại
như: phân loại theo bản chất, phân loại theo cách thức nhượng quyền của chủ thương
hiệu, phân loại theo lĩnh vực kinh doanh...Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận này
người viết chỉ xin đề cập đến ba cách phân loại dựa trên các căn cứ sau: căn cứ theo
bản chất của hoạt động NQTM, căn cứ theo cách thức tiến hành nhượng quyền của chủ
thương hiệu cho bên nhận quyền, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ. Cụ thể:
Một là, căn cứ theo bản chất của hoạt động NQTM
Căn cứ vào nội dung của hoạt động NQTM, học thuyết về NQTM ở các
nước phát triển như Hoa Kỳ, Tây Âu cho rằng có hai hình thức NQTM: Nhượng
quyền phân phối sản phẩm và nhượng quyền phương thức kinh doanh.
11
Thứ nhất, nhượng quyền phân phối sản phẩm (product distribution
franchise)
Nhượng quyền phân phối sản phẩm là hình thức NQTM trong đó bên
nhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyền nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ, logo của
mình, dịch vụ quảng cáo trên phạm vi quốc gia và quan trọng nhất là sản phẩm. Bên
nhượng quyền không cung cấp cho bên nhận quyền cách thức điều hành kinh doanh
[3, tr. 15]. Hay nói cách khác đây là hình thức NQTM theo hệ thống nhượng quyền
nhằm mục đích phân phối một sản phẩm hay một tập hợp các sản phẩm. Hình thức
áp dụng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực như:
nhà hàng, ăn uống (KFC, McDonald's), bán lẻ (Blockbuster Video,The Ethelete's
Food),...Tại Việt Nam, Phở 24 và Kinh Đô Bakery là hai hệ thống áp dụng thành
công hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh.
Hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh phức tạp hơn nhượng quyền
phân phối sản phẩm nhưng những tiêu chí nghiêm ngặt trong nhượng quyền mô
hình kinh doanh giúp đảm bảo được tính đồng bộ về chất lượng của cả hệ thống
nhượng quyền, hạn chế được các vi phạm về bản quyền và thương hiệu. Chính vì
vậy, trên thế giới, hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh được ưa chuộng
hơn và thực tế loại hình này cũng phát triển hơn nhượng quyền phân phối sản phẩm.
Hai là, căn cứ theo cách thức tiến hành nhượng quyền của chủ thương hiệu
cho bên nhận quyền
Dựa vào tiêu chí này có thể chia NQTM thành nhượng quyền cho từng cơ sở
(Singer-unit franchise) và nhượng quyền đa cơ sở (multiple-unit franchise).
Thứ nhất, nhượng quyền cho từng cơ sở (Singer-unit franchise)
Nhượng quyền cho từng cơ sở là cách thức NQTM trong đó bên nhượng quyền
tiến hành nhượng quyền trực tiếp cho từng đối tác riêng rẻ để mở một cơ sở kinh doanh
duy nhất trong một khu vực địa lý nhất định. Điểm lợi thế của hình thức này là chủ thương
hiệu có thể làm việc trực tiếp và sâu sát với bên nhận quyền, tuy nhiên khi số lượng người
nhận quyền quá lớn sẽ rất khó khăn cho người nhượng quyền trong việc kiểm soát toàn bộ
hệ thống. Một số hệ thống nhượng quyền theo hình thức này là: Hilton Hotel, Phở 24...
Thứ hai, nhượng quyền đa cơ sở (multiple-unit franchise)
Đây là cách thức NQTM thông qua đó thiết lập nhiều hơn một cơ sở kinh doanh
13
theo phương thức NQTM [31, pg. 15]. Hình thức NQTM đa cơ sở có hai dạng:
- Nhượng quyền phát triển khu vực (area development franchise)
Nhượng quyền phát triển khu vực là hình thức nhượng quyền theo đó, bên
nhận quyền có quyền mở nhiều hơn một cửa hàng nhượng quyền tại một khu vực cụ
bởi lẽ bên nhận quyền cũng chính là nhà nhượng quyền thứ cấp. Tuy nhiên, hai loại
hình này có nhược điểm là hạn chế phần nào quyền chủ động của chủ thương hiệu,
khó đảm bảo tính đồng bộ và chuẩn mực của hệ thống. Do vậy, để chủ động và đạt
hiệu quả tốt hơn trong việc chuyển nhượng mô hình kinh doanh mẫu, chủ thương
hiệu thường lựa chọn hình thức nhượng quyền trực tiếp.
Ba là, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có hai loại nhượng quyền là NQTM trong nước
và NQTM quốc tế.
Thứ nhất, NQTM trong nước
NQTM trong nước là quan hệ nhượng quyền trong phạm vi một quốc gia, do
pháp luật quốc gia điều chỉnh. Ví dụ: Cà phê Trung Nguyên nhượng quyền phân
phối sản phẩm cho công ty An Bình tại thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, NQTM quốc tế
NQTM quốc tế là quan hệ NQTM có yếu tố nước ngoài, do pháp luật quốc gia,
các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế điều chỉnh. Ví dụ: Phở 24 NQTM tại Nhật Bản.
1.1.4. Lợi ích của phương thức nhượng quyền thương mại
Qua lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời, hình thức NQTM đã ngày
càng khẳng định được vị thế của nó trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
NQTM là sự lựa chọn hàng đầu cho nhiều doanh nghiệp, bởi đây là phương thức
kinh doanh có lợi cho cả ba bên: bên nhượng quyền; bên nhận quyền; xã hội và
người tiêu dùng.
1.1.4.1. Đối với bên nhượng quyền
Thứ nhất, phát triển thương hiệu và nhân rộng mô hình kinh doanh, nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trường
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng muốn ngày càng phát triển thương hiệu
và nhân rộng mô hình kinh doanh của mình khi đã thành công. Một khi mô hình
kinh doanh của doanh nghiệp đã được thành công và nhân rộng một cách nhanh
15
Trong hoạt động NQTM, bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh doanh
nên đây là động lực để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn, vì khi đó người nhận quyền là
chủ nên họ làm việc có trách nhiệm hơn. Ngoài ra, bên nhận quyền có thể tiếp cận
những địa điểm mà bên nhượng quyền không thể tiếp cận được. Do đó, bên nhượng
quyền sẽ tận dụng được nguồn nhân lực không nhỏ từ phía bên nhận quyền mà
không phải tốn nhiều chi phí. Hơn nữa, sau khi bên nhượng quyền đào tạo cho bên
nhận quyền thứ nhất, bên nhận quyền này lại có thể tiếp tục đào tạo cho bên nhận
quyền thứ hai sau mình. Với hình thức như vậy bên nhượng quyền không chỉ tận
dụng được nguồn nhân lực của bên nhận quyền mà còn tiết kiệm được khá nhiều
chi phí trong công tác đào tạo.
1.1.4.2. Đối với bên nhận quyền
Thứ nhất, giảm thiểu rủi ro
Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ thất bại
cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới bước
vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các
đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng
quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt kinh nghiệm quản
lý, bí quyết thành công của mô hình kinh doanh mà bên nhượng quyền đã tích lũy
được từ những lần trải nghiệm trên thị trường. Bên nhận quyền không phải trải qua
giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu, do vậy sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, được sử dụng thương hiệu có uy tín
Đây có thể coi là lợi ích cơ bản nhất mà bên nhận quyền có được từ bên
nhượng quyền khi tham gia vào hệ thống NQTM. Khi đó, họ sẽ không phải mất thời
gian để xây dựng thương hiệu mà có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường và ngay
lập tức có được uy tín về chất lượng sản phẩm/dịch vụ, chiến lược marketing...của
bên nhượng quyền.
Thứ ba, nhận được sự hỗ trợ từ phía bên nhượng quyền
Khi các doanh nhiệp tham gia hoạt động NQTM kinh doanh có lãi, họ sẽ đóng
góp một phần thu nhập đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế. Vì
vậy, hình thức kinh doanh NQTM sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, tránh lãng phí
18
tiền của vì tỷ lệ phá sản của hình thức này rất thấp. Bên cạnh đó, nhờ vào khả năng
thành công cao nên mô hình NQTM giúp giảm thiểu tổn thất cho nền kinh tế.
Thứ hai, góp phần chuyển giao công nghệ, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm và
phương kinh doanh từ các nước phát triển
Thông thường các thương hiệu lớn trên thế giới có xu hướng nhượng quyền để
phát triển và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đến các nước và khu vực đang phát triển.
Vì vậy, thông qua việc nhận quyền, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển sẽ có cơ
hội tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý của các nước
phát triển. Do đó, các doanh nghiệp ở các quốc gia sẽ có cơ hội hợp tác, học hỏi và nhân
rộng mô hình kinh doanh đã chứng minh thành công trên thương trường.
Thứ ba, giúp người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận và tiêu dùng sản phẩm của
các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới với chất lượng đồng đều
Các cửa hàng nhượng quyền đều phải đảm bảo tính đồng nhất do nhà
nhượng quyền đề ra, vì vậy người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới đều có cơ hội
sử dụng những sản phẩm chính hãng, đảm bảo chất lượng mà không phải đi ra nước
ngoài. Mặt khác, tính đồng bộ và chuẩn mực của hệ thống nhượng quyền là nhân tố
đảm bảo chất lượng cho sản phẩm, dịch vụ, giúp giảm rủi ro cho người tiêu dùng.
Thứ tư, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội
Hầu hết các doanh nhiệp mới mở ra dưới hình thức NQTM đều có nhu cầu
tuyển dụng nhân công, vì thế sẽ giải quyết được vấn đề việc làm cho một lượng lao
động trong xã hội, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp của nhiều quốc gia.
1.1.5. Những yếu tố cấu thành mô hình nhượng quyền thương mại
Trước khi tiến hành NQTM, cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền cần
phải xác định các yếu tố cấu thành mô hình NQTM. Đây là việc làm rất quan trọng,