Hoàn thiện hệ thống pháp luật biển và công tác bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của việt nam - Pdf 34

A . ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có bờ biển dài 3.260km và diện tích các vùng biển thuộc chủ
quyền, quyền chủ quyền rộng trên 1 triệu ki lô mét vuông. Vùng biển nước
ta có vị trí quan trọng về an ninh - quốc phòng và nhiều điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế biển. Trong năm nay, biển đảo và đặc biệt là vấn đề
bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển, đảo đã trở thành chủ đề được quan
tâm ở trong nước, nhất là khi tình hình Biển Đông đang "nóng lên" trước
các hoạt động ngày càng mạnh bạo của hải quân Trung Quốc. Vậy vấn đề
bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam hiện nay như thế nào?
Còn tồn tại vấn đề gì? Và hướng khắc phục ra sao? Phạm vi nghiên cứu của
bài viết sẽ đề cập đến những yếu tố quan trọng này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị, pháp lí của quốc gia bao
gồm hai nội dung là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của
mình và quyền độc lập của quốc gia khi tham gia vào quan hệ quốc tế. Lãnh
thổ quốc gia được giới hạn bởi đường biên giới quốc gia.
2. Chủ quyền trên biển của quốc gia
Chủ quyền trên biển là quyền tối cao của quốc gia đối với vùng biển
nằm bên trong đường biên giới quốc gia trên biển bao gồm vùng nội thủy và
vùng lãnh hải;
Đường biên giới quốc gia trên biển được xác định là đường gianh giới
phía ngoài của lãnh hải mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất
của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải.
Đường biên giới quốc gia trên biển của nước CHXHCN Việt Nam
được xác định là đường gianh giới phía ngoài của lãnh hải mà mỗi điểm ở
trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng
12 hải lí.
II. THỰC TIỄN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC VÙNG BIỂN
CỦA VIỆT NAM

quyền trên biển:
Để cụ thể hóa Hiến pháp và từng bước chuyển hóa các quy định của
công ước Luật biển năm 1982 vào trong các quy định tương ứng của pháp
luật Việt Nam, pháp luật về bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển của Việt
Nam, nhà nước đã ban hành một hệ thống VBPL quan trọng về tổ chức và
hoạt động của lực lượng bảo vệ chủ quyền biển cụ thể như sau:
- Nghị định 30/CP ngày 29/01/1980 về quy chế pháp lí cho tàu thuyền
nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam.
Theo đó, việc kiểm soát trên các vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam
được giao cho các lực lượng sau: Hải quân nhân dân Việt Nam và các đơn
vị quân đội nhân dân Việt Nam; Cảnh sát nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ
tuần tra trên biển; Bộ đội biên phòng Việt Nam, các lực lượng nửa vũ trang
trên các tàu thuyền vận tải và tàu thuyền đánh cá của Việt Nam; Các lực
lượng kiểm soát chuyên môn của các ngành Hải quan, y tế, kiểm dịch của
Việt Nam...
2


- Luật an ninh quốc gia năm 2004 quy định trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam
trên biển
- Pháp lệnh dân quân tự vệ năm 1996 quy định về tổ chức và hoạt
động của lực lượng dân quân tự vệ
- Pháp lệnh bộ đội biên phòng năm 1997 quy định về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ đội biên phòng;
- Pháp lệnh cảnh sát biển năm 1998 quy định về chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn, phạm vi hoạt động và cơ cấu tổ chức của lực lượng cảnh sát biển
Việt Nam
- Nghị định 41/2001/NĐ-CP ngày 24/07/2001 của Chính phủ ban
hành quy chế phối hợp thực hiện quản lí nhà nước về hoạt động của lực

vùng biển của Việt Nam thì phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Quy chế hoạt
động của tàu thuyền theo pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đề cập tới các
biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật Việt Nam trong trường hợp tàu
thuyền có vi phạm, như Nghị định số 92/NĐ-CP ngày 04/09/1999 quy định
các hình thức xử phạt vi phạm hành chính như cảnh cáo, phạt tiền; tước
quyền sử dụng bằng, giấy phép, giấy chứng nhận, tịch thu tang vật....
Tàu thuyền nước ngoài ra vào phải xin phép và phải đáp ứng các điều
kiện về neo đậu, đi qua theo pháp luật Việt Nam. Những vi phạm của tàu
dân sự nước ngoài được áp dụng các biện pháp mang tính chất chế tài như:
Buộc tàu thuyền nước ngoài thể hiện rõ tư cách pháp lí của tàu; can thiệp
cần thiết vào lịch trình của tàu để kiểm tra khám xét nếu có dấu hiệu khả
nghi xâm phạm đến chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam; lập biên
bản bắt giữ tàu thuyền và người vi phạm; khi cần thiết có thể sử dụng biện
pháp quân sự đối với tàu vi phạm; thực hiện quyền truy đuổi đối với tàu vi
phạm bỏ trốn; áp dụng các hình phạt như cảnh cáo, thu hồi giấy phép, trục
xuất…
Lực lượng cảnh sát biển là lực lượng có thẩm quyền xử phạt tại các
vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và cả thềm lục địa của Việt
Nam. Quyền xử phạt hành chính của cảnh sát biển Việt Nam được đặt ra
trong các lĩnh vực an linh trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn
lợi thủy sản hay tài nguyên khoáng sản hoặc đối với việc chống các hành vi
buôn lậu.
2.2 Tổ chức lực lượng bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Việt
Nam
Lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam hiện nay bao
gồm: hải quân, cảnh sát biển, dân quân tự vệ. Ngoài ra, khu vực ven biển từ
đường cơ sở trở vào còn có biên phòng và kiểm ngư... Quy chế phối hợp
các lực lượng sẽ giao cho Bộ Quốc phòng xây dựng.
Dân quân tự vệ biển tổ chức và trang bị tương tự như đất liền, nhưng
có đặc thù khác là phải gắn hoạt động kinh tế với việc bảo vệ biển.Ví dụ,

hải Việt Nam và hầu hết những vùng đánh bắt cá xa bờ của ngư dân. Ngoài
việc giúp phòng tránh thiên tai, cứu hộ cứu nạn cho ngư dân, đây còn là
hành động khẳng định chủ quyền biển của Việt Nam.
Ngoài ra, Quốc hội và Chính phủ cũng đang xem xét việc tăng cường
đầu tư kinh phí cho bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển và thành lập các
đội dân quân tự vệ biển, xây dựng và ban hành luật dân quân tự vệ.
Đối với tranh chấp chủ quyền trên các vùng biển đặc biệt là tranh chấp
trên biển Đông, Việt Nam luôn khẳng định chủ quyền của mình đối với các
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển liên quan; Việt Nam đã
đưa ra các chứng cứ lịch sử và dẫn chiếu các quy định pháp luật của công
ước luật Biển quốc tế năm 1982 để chứng minh chủ quyền quốc gia đối với
Hoàng Sa và Trường Sa. Quan điểm của Việt Nam là phải kiên quyết bảo vệ
chủ quyền quốc gia, khi xảy ra tranh chấp với các nước trong khu vực, phải
5


giải quyết qua ngoại giao, thương lượng hòa bình, tránh sử dụng sức mạnh
quân sự .
III.NHỮNG TỒN TẠI
1. Trong lĩnh vực pháp luật
Cho đến nay, chúng ta chưa có một văn bản pháp quy nào chính thức
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực biển nói chung và
bảo vệ chủ quyền vùng biển nói riêng. Như đã đề cập ở phần trên, hầu hết
các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này đều được điều chỉnh dựa trên các
nguyên tắc cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 và Tuyên
bố ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) mà không phải là một Luật
biển của riêng nước ta. Điều này dẫn đến một hệ quả là các vấn đề riêng của
quốc gia chỉ có thể được giải quyết dựa trên việc áp dụng các nguyên tắc
chung, trong đó có nhiều trường hợp không phù hợp với tính chất riêng của
vùng biển .

Thực tiễn xét xử trong những năm gần đây, qua tài liệu báo cáo sơ kết
hàng năm của TANDTC, chế tài hình sự chưa được áp dụng đối với các
hành vi xâm phạm các cùng đánh bắt hải sản hoặc thực hiện quyền tài phán
hình sự đối với một ngoài nước ngoài trên một con tàu đang đi qua vô hại
trong lãnh hải Việt Nam bởi vì hiện nay, Việt Nam chưa có quy định hướng
dẫn việc xét xử các hành vi vi phạm trên từng vùng biển và các loại tội
phạm trên biển như các loại tội phạm về điều khiển phương tiện hàng hải,
tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên
nhiên, các tội gây ô nhiễm môi trường biển…
2. Trong các hoạt động cụ thể về bảo vệ chủ quyền trên các vùng
biển
Thời gian qua, chúng ta đang tập trung nguồn lực cho phát triển kinh
tế, nên chưa đầu tư nhiều cho quốc phòng - an ninh. Đối với các lực lượng
vũ trang, bảo vệ chủ quyền trên biển thì tinh thần xả thân chiến đấu có thừa,
nhưng trang thiết bị thì chưa đồng bộ, có nơi thiếu thốn, công tác đào tạo
nhân sự trong quản lí biển cũng chưa thật sự đạt được hiệu quả cần thiết.
Đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo nguồn nhân lực biển hiện còn thiếu về số
lượng và trong một số trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Do
vậy, nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về
biển còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của chiến lược vươn ra biển mà
Đảng và Nhà nước ta đề ra.
Hiện tại công tác quản lí vùng biển của chúng ta chưa thống nhất, còn
chung chung. Chúng ta chưa xây dựng được một kế hoạch quản lý vùng ven
biển tổng quát, xác định quyền sử dụng tài nguyên đất và nước thống nhất
trong cả nước, do vậy trong phạm vi vùng ven biển của mỗi tỉnh thành phố,
mỗi địa phương tự điều chỉnh chương trình quản lý vùng ven biển phù hợp
với bối cảnh và nhu cầu của địa phương mình.
Thông tin về biển, đảo và các vùng chủ quyền trên biển còn thiếu cập
nhật, công tác tuyên truyền về lĩnh vực này còn những hạn chế, chưa được
tiến hành một cách đồng bộ, thường xuyên, liên tục. Nội dung, hình thức

phải được hưởng.
Tranh chấp các khu vực khai thác tài nguyên thiên nhiên trên vùng
biển chung đang diễn biến phức tạp và chưa đi đến một thỏa thuận chung.
Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động khai thác cũng như
vảo vệ chủ quyền của nước ta. Đơn cử như khu vực tranh chấp biển Đông
mà Trung Quốc hiện nay đã tuyên bố về “đường lưỡi bò”, đưa phương tiện
thăm dò dầu khí vào khu vực biển Đông trên vùng biển thềm lục địa của
Việt Nam. Tuyên bố và động thái này đã dẫn đến việc tài nguyên dầu khí tại
thềm lục địa của nước ta chịu sự đe dọa từ phía Trung Quốc. Chúng ta
không những không có quyền khai thác tài nguyên mà hoạt độnh bảo vệ
quyền chủ quyền còn bị ảnh hưởng. Do vậy, giải quyết tranh chấp về quyền
lợi của các bên liên quan tại các khu vực biển là một vấn đề cấp bách hiện
nay.
8


IV. HƯỚNG HOÀN THIỆN
Từ những phân tích về các hạn chế của công tác bảo vệ chủ quyền trên
các vùng biển của Việt Nam, nhóm chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp
nhằm khắc phục những hạn chế đó:
1. Trong lĩnh vực pháp luật
Về mặt pháp lý, cần phải sớm có Luật biển Việt Nam mang tầm quốc
gia, xây dựng trên cơ sở Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc, để tuyên
bố với thế giới về các vùng biển của nước ta. Khi đã có luật, cần tiến tới ký
hiệp định với các quốc gia chung vùng biển với Việt Nam, nhất là Trung
Quốc, Philippines..., xây dựng bộ nguyên tắc ứng xử trên biển Đông.
Phải tổ chức rà soát, hệ thống hoá toàn bộ các văn bản pháp luật về
biển để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các văn bản đã quá đỗi lỗi thời; ban
hành các văn bản pháp luật mới về biển mang tầm quốc gia nhằm từng bước
tiến hành xây dựng cho được một hệ thống đồng bộ các luật, văn bản quy

biển bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp trên trường quốc tế.
* Thành lập dân quân bảo vệ chủ quyền biển, tình hình biển Đông
đang có diễn biến phức tạp, cần phải tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền
và lợi ích của Việt Nam, nhất là lợi ích của ngư dân.
Bảo vệ biên giới quốc gia phải dựa vào dân, trực tiếp là đồng bào các
dân tộc ở biên giới. Xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận biên
phòng toàn dân vững mạnh để quản lí, bảo vệ biên giới quôc gia đặc biệt là
biên giới quốc gia trên biển. Vận động quần chúng nhân dân ở khu vực biên
giới tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới; bảo vệ an ninh trật tự khu
vực biên giới, biển, đảo của tổ quốc;
Cần thường xuyên cập nhật các thông tin về các vùng biển đảo của
Việt Nam; tiến hành xây dựng kế hoạch tuyên truyền một cách đồng bộ,
thường xuyên, liên tục, đổi mới về Nội dung và hình thức tuyên truyền sao
cho hấp dẫn, hướng về cơ sở, đến tận người dân, nhất là khu dân cư vùng
biển, đảo và ven biển.
* Thực tế hiện nay nước ta có một số tranh chấp về chủ quyền ở vùng
đảo Hoàng sa, Trường sa. Nhưng vụ việc tranh chấp này vẫn chưa được giải
quyết. Xuất phát từ lịch sử, kinh tế, chính trị của nước ta mà nước ta cần có
những chiến lược khôn khéo, tránh giải quyết tranh chấp bằng những xung
đột mà nước ta lên giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà bình, và cần
đưa vụ việc tranh chấp ra toà án quốc tế. Đồng thời chúng ta cũng không
ngừng kêu gọi sự đồng tình ủng hộ của Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế.
C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên, nhận thấy rằng công tác bảo vệ chủ quyền
trên các vùng biển của Việt Nam tuy đã đạt được những ưu điểm và thành
tựu bước đầu, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế và bất hợp lí.
Hy vọng những giải pháp mà nhóm chúng tôi đưa ra sẽ đóng góp tích cực
vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật biển và công tác bảo vệ chủ quyền
trên các vùng biển của Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status