Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 34

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá

1


MỤC LỤC
Lời mở đầu
A. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu trong nước……………………………5

1.1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………….…………...….5
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước………………………………………….…….6
2.
3.
4.
5.
6.

Nội dung đề tài nghiên cứu………………………………………………………..…7
Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu……………………………………..7
Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………..8
Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………...……..8
Kết cấu bài báo cáo nghiên cứu…………………………………….……………….8
B. Nội dung bài nghiên cứu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa……………………………………………………...……..9
1.1. Một số vấn đề lý luận chung………………………………………………………..9
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá……………………………………….9
1.1.2. Lịch sử hình thành hợp đồng mua bán hàng hoá………………………...………..12

3.2.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể………………………..56
3.2.2. Kiến nghị xây dựng Luật hợp đồng thống nhất…………………...………………58
C. Kết luận

Tài liệu tham khảo
Lời cảm ơn

LỜI MỞ ĐẦU

3


A.

Tổng quan về đề tài nghiên cứu

1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu trong nước:
4


1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các giao dịch kinh
doanh diễn ra ngày càng sôi động đặc biệt việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
các thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng. Thực tiễn
trên đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các quy định điều chỉnh chi tiết và phù hợp cho quá
trình thiết lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Mặt khác, hợp đồng mua bán
hàng hóa có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của hoạt động thương mại
hàng hóa nói riêng cũng như trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung.
Không chỉ giữ vai trò là cơ sở thực để các bên thực hiện việc mua bán hàng hóa, hợp
đồng mua bán hàng hóa còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ

khoa học quan tâm nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau. Trên thực tế đã có nhiều
luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ… nghiên cứu các đề tài liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hóa, như đề tài: “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” - luận án phó tiến sỹ khoa học luật học năm 1996 của TS.Phạm Hữu
Nghị; “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
-Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp
luật Việt Nam” - luận văn Thạc sỹ năm 2012 của Trương Thị Bích; “Hiệu lực của hợp
đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” - luận án tiến sỹ luật học năm 2010 của Lê
Minh Hùng; “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” - luận văn
Thạc sỹ năm 2010 của Nguyễn Thị Hường.
Ngoài ra còn có sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, các giáo trình có đề cập
đến các khía cạnh pháp lý của hợp đồng như: Giáo trình Luật kinh tế Việt Namm(2001),
Giáo trình Luật Thương Mại (năm 2002) của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo
trình pháp luật kinh tế (2005) của khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân; Giáo trình
Luật kinh tế của đại học Luật Hà Nội; “Chế định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt
Nam” của TS.Nguyễn Ngọc Khánh (2007); “Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình
luận bản án” của TS. Đỗ Văn Đại (2010); “Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không
tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh (2005); Thống nhất Luật hợp đồng ở Việt Nam, Đinh
Thị Mai Phương, NXB Tư Pháp (2005).
Cùng với các công trình nghiên cứu và các sách, giáo trình nêu trên, đã có nhiều bài
báo khoa học đăng trên các tạp trí, như: “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ
6


luật dân sự 2005” của tác giả Trần Thị Huệ, tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng
6 (255) năm 2013. “Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những vấn đề đặt ra
khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005” của tác giả Phạm Văn Bằng, tạp chí dân chủ và
pháp luật Số định kỳ tháng 4 năm 2013…
Tất cả các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, các luận
án, luận văn nêu trên đều có những thành công nhất định về một số khía cạnh pháp lý của

sót của Luật thương mại 1997 và ngày càng tiếp cận được với pháp luật quốc tế về mua
bán hàng hóa nói chung, đồng thời trong quá trình thực hiện cũng đã phát hiện ra những
bất cập gì cần được sửa chữa, bổ sung… Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nghiên cứu
và kiến thức còn hạn hẹp, bài nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu về hợp đồng mua
bán hàng hóa cũng như việc thực hiện hợp đồng trong lãnh thổ nước Việt Nam, không có
yếu tố nước ngoài.
5.
-

Phương pháp nghiên cứu:
Chương 1:
Chương 2:
Chương 3:Phương pháp mô tả, tổng hợp, so sánh, phân tích.

6. Kết cấu bài báo cáo nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, kết cấu của luận văn được chia làm 3
chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
1.1. Một số vấn đề lý luận chung:
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa:
a. Khái niệm:


bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận

9


thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hóa theo thỏa thuận.
b. Đặc điểm:

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trước hết mang những đặc điểm của
hợp đồng mua bán tài sản nói chung. Đó là:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là sự thỏa thuận nhằm xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong mua bán hàng hóa.
Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng song vụ, bên mua
và bên bán có quyền và nghĩa vụ. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược
lại. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và có quyền yêu cầu bên mua trả
tiền mua hàng hóa, ngược lại bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao hàng hóa
và có nghĩa vụ trả tiền mua hàng hóa cho bên bán.
Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng ưng thuận - tức là
nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc
bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của
hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.
Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có tính đền bù - bên bán khi
thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương
đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.
Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng song vụ - mỗi
bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia,
đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và

có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật của một nước
thứ ba…

-

Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại: Hợp đồng mua bán hàng
hoá qua sở giao dịch hàng hoá và Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch
hàng hoá.
1.1.2. Lịch sử hình thành hợp đồng mua bán hàng hóa:
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng của hợp đồng kinh tế. Do đó, lịch sử của
hợp đồng mua bán hàng hóa phải xuất phát từ lịch sử ra đời của pháp luật hợp đồng kinh
tế.
a. Hợp đồng kinh tế (HĐKT) trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (KHHTT):
11


HĐKT trong nền KHHTT: Theo điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT theo Nghị định
04/TTG ngày 4/6/1960 thì HĐKT là hợp đồng về sản xuất, vận tải và xây dựng bao thầu.
Từ đó rút ra bằng điều lệ tạm thời mới khái quát được một vài lĩnh vực cụ thể của hợp
đồng kinh tế mà chưa nêu ra được khái niệm chung về HĐKT. Sau đó điều lệ về chế độ
HĐKT được ban hành theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 mới đưa ra định nghĩa về
HĐKT: HĐKT là công cụ kinh tế pháp lý của nhà nước trong việc xây dựng và phát triển
kinh tế quốc dân XHCN. Nghị định này đã xây dựng khá rõ mối quan hệ XHCN giữa các
bên có liên quan dấn đến việc kí kết và thực hiện HĐKT đã kí kết đồng thời cũng quy
định nghĩa vụ và chịu trách nhiệm của từng bên đối với nhau, bảo vệ lợi ích của các bên
tham gia kí kết, định hướng cho các bên bằng những kế hoạch cụ thể giúp các thành viên
thực hiện được mục tiêu ban đầu đặt ra. Từ những đặc điểm kinh tế và những quy tắc,
những quy định về HĐKT trên rút ra được kết luận sau: HĐKT trong nền kinh tế
KHHTT có những đặc điểm sau: HĐKT là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tính
chất kế hoạch - Mục đích của HĐKT là việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước

HĐKT bao gồm 3 loại điều khoản chủ yếu sau:
-

Điều khoản thường lệ là những điều khoản mà nội dung của nó được quy định trong các
văn bản quy phạm pháp luật, nếu các bên không ghi nhận trong hợp đồng thì coi như mặc

-

nhiên thừa nhận và phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đó.
Điều khoản chủ yếu là những điều khoản căn bản bắt buộc phải có trong HĐKT.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được đưa vào hợp đồng căn cứ và khả năng,
nhu cầu và sự thỏa thuận của mỗi bên khi quy định của Nhà nước chưa có hoặc đã có quy
định của Nhà nước nhưng các bên được vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh thực tế của
mình và không trái pháp luật.
HĐKT vô hiệu khi HĐKT đó kí kết trái với quy định của pháp luật. Có hai loại hợp
đồng vô hiệu là HĐKT vô hiệu từng phần và HĐKT vô hiệu toàn bộ. Tòa án là cơ quan
có thẩm quyền quyết định HĐKT vô hiệu. Trong những văn bản được pháp luật ban hành
và xây dựng sau khi Đảng và Nhà nước ta khởi xướng chính sách đổi mới thì PLHĐKT
được coi là một trong những bước đi lập pháp tiên phong, một trong những phản ứng
nhanh chóng trước đòi hỏi của kinh tế. Điểm thành công nhất trong số những thành công
ít ỏi của Pháp lệnh là khẳng định nguyên tắc tự do hơp đồng bằng quy định kí kết HĐKT
là quyền của các đơn vị kinh tế, không cơ quan, cá nhân, tổ chức nào được áp đặt ý chí
của mình cho các tổ chức, cá nhân khi kí kết các HĐKT. Pháp lệnh đặt dấu chấm hết cho
sự tồn tại của cơ chế KHHTT trong lĩnh vực hợp đồng nơi mà các chủ thể phải được tự
13


do tự nguyện thể hiện ý chí của mình. Tuy nhiên, PLHĐKT còn tồn tại một số bất cập
sau:
-

quyền giao kết có những sự khác nhau nhất định. Theo BLDS 1995, các chủ thể của hợp
đồng dân sự gồm: cá nhân (có năng lực cá nhân và năng lực hành vi dân sự), pháp nhân,
14


tổ hợp tác, hộ gia đình. Trong Điều 5 LTM 1997 cũng quy định chủ thể của hợp đồng
trong lĩnh vực thương mại là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng kí kinh
doanh hoạt động thương mại.
Thứ hai, về hình thức hợp đồng BLDS 1995 là LTM 1997 đều quy định hình thức hợp
đồng có thể bằng văn bản, lời nói, hành vi cụ thể. Các chủ thể khi giao kết hợp đồng
được tự do lựa chọn hình thức cả kể fax, email… mà vẫn đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp
luật. Như vậy, với những quy định mở rộng về chủ thể giao kết và hình thức hợp đồng
mà BLDS 1995 và LTM 1997 đã phần nào giải quyết mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên
suốt của PL HĐKT 1997 về tự do hợp đồng với các quy định của nó.
Tuy nhiện hệ thống pháp luật đang tồn tại đó ngày càng nổi lên nhiều bất cập. Đó là,
trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng, chúng ta thấy có ba khái niệm
cùng tồn tại: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại. Một mặt các
hợp đồng này có những điểm đặc trưng của hợp đồng nhưng nó lại có điểm thiếu sót như:
sự trùng lặp, thiếu nhất quán và không đồng bộ gây ra không ít sự vướng mắc, sự lúng
túng trong việc áp dụng pháp luật để tiến hành giao kết hợp đồng và giải quyết tranh
chấp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, pháp luật hợp đồng Việt Nam
chưa tương thích với pháp luật và tập quán thương mại.
Với thực trạng pháp luật về hợp đồng như vậy thì việc duy trì khái niệm hợp đồng
kinh tế và hệ thống các văn bản pháp luật quy định riêng về nó là không cần thiết trong
khi có nguy cơ nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xây dựng và áp dụng BLDS
1995 và các văn bản về hợp đồng chưa giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng
với điều lệ, quy chế của doanh nghiệp cũng như các điều kiện giao dịch mà các doanh
nghiệp tự ban hành. Các tiêu chí phân định hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng
thương mại không rõ ràng, vì vậy thường xuyên xuất hiện những quan hệ “giáp ranh”
không biế thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 1995 hay LTM 1997. Một yêu cầu cấp

đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, các
bên thỏa thuận càng rõ rang bao nhiêu thì càng thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng bấy
nhiêu. Pháp luật không hạn chế điều khoản thỏa thuận của các bên. Điều 402 BLDS 2005
cũng chỉ quy định các bên “có thể thỏa thuận” mà không đòi hỏi bắt buộc phải thỏa thuận
những nội dung nào. Luật thương mại 2005 cũng không quy định bắt buộc phải có những
16


nội dung gì trong hợp đồng mua bán. Theo đó, các bên tự do thỏa thuận với nhau. Khi
thực hiện hợp đồng tiến hành theo những thỏa thuận đó cũng như khi xảy ra tranh chấp
dựa vào những thỏa thuận đó để giải quyết. Tuy nhiên, luật cũng dự liệu trước trường
hợp các bên không thỏa thuận đối với những nội dung cơ bản, do đó khi thực hiện hợp
đồng cũng như khi xảy ra tranh chấp, đối với những nội dung không được các bên thỏa
thuận trước sẽ dựa vào quy định của pháp luật để thực hiện và giải quyết.
Trên cơ sở các thỏa thuận trong thực tế, các quy định trong BLDS 2005 và LTM
2005, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán trong thương mại, có thể thấy
những nội dung quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối tượng, chất
lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm giao nhận hàng, bảo hành hàng
hóa, thời điểm chuyển rủi ro, thời điểm chuyển quyền sở hữu…
a. Đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa:

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, còn bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Từ định nghĩa đó, ta có thể thấy rằng trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là
một hàng hóa nhất định là điều khoản không thể thiếu được. Hàng hóa là sản phẩm lao
động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của con
người. Hàng hóa có thể là vật hoặc là sức lao động của con người, là quyền tài sản.Trong
hợp đồng phải nêu rõ tên hàng bằng những danh từ thông dụng nhất (tiếng phổ biến) để
các bên trong hợp đồng và cơ quan hữu quan đều có thể hiểu được.

lượng hàng hóa đó.
c. Chất lượng hàng hóa:
Trong Luật thương mại không quy định rõ ràng về chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên
chất lượng hàng hóa cũng là một điều khoản vô cùng quan trọng. Chất lượng hàng hóa
giúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận với
những yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy cách, kích thước, công suất,hiệu quả… xác
định chất lượng cụ thể của hàng hóa cũng là một tiêu chí để định giá hàng hóa đó. Do đó
mà các bên trong hợp đồng cần phải ghi rõ chất lượng của hàng hóa, tùy từng loại hàng
hóa mà các bên có thể thỏa thuận về các điều kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp.
Bởi luật chuyên ngành là Luật thương mại 2005 không quy định rõ về chất lượng
hàng hóa do đó chúng ta sẽ quay về quy định của luật chung là BLDS 2005. Theo Điều
18


430 BLDS 2005, trước hết cũng tôn trọng thỏa thuận của các bên, sau đó là đối với các
đối tượng đặc biệt được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước thì chất lượng của hàng hóa được
xác định theo các tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nươc có
thẩm quyền. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy
định về chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng
và chất lượng trung bình của vật cùng loại.
d. Giao và nhận hàng hóa:
Giao hàng là điều khoản về nghĩa vụ của bên bán, bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho
bên mua; nhận hàng là điều khoản về nghĩa vụ của bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận
hàng khi bên bán giao hàng. Trong các điều khoản này phải xác định trách nhiệm của
người bán phải thông báo cho người mua về việc hàng đã chuẩn bị xong để giao hàng,
ngoài ra bên bán còn phải những chứng từ giao hàng mà người bán phải giao khi nhận
hàng. Theo Điều 34 Luật thương mại 2005 quy định nghĩa vụ của bên bán, bên bán phải
giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp không có thỏa thuận cụ
thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật này.
Điều 37 Luật thương mại 2005, bên bán cũng phải giao hàng đúng thời điểm giao hàng

kháng. Điều 52 Luật thương mại 2005 cũng quy định đối với trường hợp các bên không
thỏa thuận về giá, không có thỏa thuận về phương pháp xác định giá.
Phương thức thanh toán là cách thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo đó bên
mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo một phương thức nhất định. Việc
chọn phương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa
các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Sự lựa chọn phương thức
thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức thanh toán và phí tổn cho
việc thanh toán.
f. Nghĩa vụ bảo hành:
Bảo hành là nghĩa vụ của bên mua trong những trường hợp hàng hóa có bảo hành. Về
nguyên tắc, những hàng hóa có tính năng kĩ thuật, người sản xuất phải có trách nhiệm
bảo hành trong một thời gian nhất định, đồng thời họ phải làm giấy hướng dẫn sử dụng
cần thiết cho loại hàng đó, nhất là hàng dược liệu, mĩ phẩm và phương tiện kĩ thuật. Tuy
nhiên Luật thương mại 2005 không quy định rõ ràng về điều này, Điều 49 Luật thương

20


mại 2005 chỉ quy định bên bán có nghĩa vụ bảo hành hàng hóa theo nội dung và thời hạn
đã thỏa thuận.
1.2.3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, huỷ bỏ hợp đồng, chấm dứt
hợp đồng:
a. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:

Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán nói riêng có hiệu lực là hợp đồng được
pháp luật thừa nhận có giá trị ràng buộc các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
đã được thoả thuận. Pháp luật hiện hành không có những quy định riêng về những điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại. Song căn cứ vào Điều 122 Bộ luật dân sự
2005 và các quy định có liên quan cho thấy, một hợp đồng trong thương mại có hiệu lực
phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

xuất, tiêu thụ hàng giả; mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung ứng dịch vụ bị cấm thực
hiện; dịch chuyển tài sản trái phép hay những thỏa thuận gây thiệt hại cho lợi ích của
người thứ ba… Theo cách hiểu thông thường, nội dung hợp đồng gồm toàn bộ cam kết
của các bên được thể hiện dưới dạng điều khoản. Nhưng khi xem xét về nội dung của hợp
đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không, cần lưu ý điều khoản đối tượng của
hợp đồng. Khi nội dung của điều khoản này vi phạm điều cấm của pháp luật làm hợp
đồng vô hiệu toàn bộ thì các điều khoản hợp pháp khác của hợp đồng cũng sẽ bị vô hiệu
theo. Để xác định nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không,

-

cần lưu ý các quy phạm cấm trong các văn bản pháp luật.
Vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật dân sự 2005): khi các bên giao kết hợp đồng một
cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp
đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo

-

quy định của pháp luật.
Vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật dân sự 2005): một bên có lỗi vô ý làm cho bên
kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giao kết, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu
cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị

-

nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Vô hiệu do lừa dối (Điều 132 Bộ luật dân sự 2005): lừa dối là hành vi cố ý của một bên
hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã giao kết hợp đồng đó. Khi một bên giao kết


song có thể suy ra trường hợp vô hiệu này từ các quy định về điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng. Một trong các bên kí kết hợp đồng không có đăng kí kinh doanh theo quy định
của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng sẽ làm cho hợp đồng
vô hiệu. Việc không đăng ký kinh doanh để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp
đồng thể hiện chủ thể hợp đồng không có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa vụ hợp
đồng trong kinh doanh. Tuy nhiên, đăng ký kinh doanh chỉ đòi hỏi bắt buộc với chủ thể
là thương nhân. Vì vậy nếu pháp luật quy định chủ thể trong một hợp đồng mua bán hàng
hóa phải có đăng ký kinh doanh mà bên đó không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng đó
bị coi là vô hiệu toàn bộ.
Pháp luật dân sự cũng không quy định trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô
hiệu do được kí kết bởi người đại điện không đúng thẩm quyền. Song trường hợp này có
thể áp dụng quy định về đại diện và phạm vi đại diện để xác định hiệu lực của hợp đồng.
Khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng, sẽ không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ đối với bên được đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp
23


của bên được đại diện chấp thuận. Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt
quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối
với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được
đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Người đã giao dịch với người không có
quyền đại diện (hoặc vượt quá phạm vi đại diện) có quyền đơn phương chấm dứt thực
hiện hoặc hủy bỏ giao dịch (hoặc đối với phần vượt quá phạm vi được đại diện) đã xác
lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc
không có quyền đại diện và việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
Tùy thuộc vào mức độ của sự vô hiệu hợp đồng, hợp đồng vô hiệu trong các trường
hợp nói trên được phân chia thành: Hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng
phần. Hợp đồng vô hiêu toàn bộ là hợp đồng mà tất cả các nội dung của hợp đồng không
có giá trị pháp lý, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ và cũng không được hưởng các
quyền theo hợp đồng. Hợp đồng vô hiệu từng phần là những hợp đồng có nội dung nào


Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp

-

đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các
phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
Về căn cứ áp dụng, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng khi xảy ra vi phạm hợp
đồng thuộc một trong các trường hợp: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận
là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng, một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Việc huỷ bỏ hợp đồng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý, đó là:

-

Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện
các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau

-

khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp
đồng. Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện hợp
đồng. Trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải

-

hoàn trả bằng tiền.
Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với việc áp dụng chế tài
hủy bỏ hợp đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status