1
Đại học quốc gia Hà Nội
Khoa luật
==========
Nguyễn Thanh Huy Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại
- những vấn đề lý luận và thực tiễn Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
Luận văn thạc sĩ luật học
` Hà Nội - 2009 2
Đại học quốc gia Hà Nội
trên cơ sở những hiểu biết cá nhân, có tham khảo các tài liệu đã được công
bố. Kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thanh Huy 4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ THI HÀNH
QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 11
1.1. Khái quát về trọng tài và quyết định của trọng tài thƣơng mại 11
1.1.1. Lược sử hình thành và phát triển của trọng tài thương mại 11
2.3. Các điều kiện đảm bảo vận hành cơ chế thi hành quyết định trọng tài 73
2.3.1. Về đội ngũ cán bộ:. 73
2.3.2. Về quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan
hữu quan khác. 74
2.3.3. Về kinh phí, cơ sở vật chất 75
CHƢƠNG 3 - HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 77
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài
thƣơng mại tại Việt nam 77
3.2. Yêu cầu và phƣơng hƣớng hoàn thiện 79
3.2.1. Yêu cầu hoàn thiện 79
3.2.2. Phương hướng hoàn thiện 79
3.3. Giải pháp hoàn thiện 80
3.3.1. Đối với thi hành quyết định của trọng tài thương mại nước ngoài 80
3.3.2. Đối với thi hành quyết định của trọng tài thương mại việt nam 81
3.3.3. Các giải pháp chung 86
KẾT LUẬN 99 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (12/1986) đã đem lại những thành quả to
lớn về kinh tế và xã hội. Nền kinh tế nước ta sau hơn hai mươi hai năm đổi mới
và mở cửa đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại
ngày càng phát triển. Song cũng trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày
càng trở nên đa dạng và phức tạp, các tranh chấp thương mại là điều không thể
tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp thời.
Do vậy, để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con
đường trọng tài thực sự trở thành phương thức giải quyết tối ưu cho các bên
tranh chấp đòi hỏi các phán quyết của trọng tài phải được thực thi một cách
nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Điều đó cũng có nghĩa cần phải có một cơ chế
thi hành hợp lý và có hiệu quả.
Cơ chế thi hành các quyết định của trọng tài thương mại được hiểu là
các yếu tố cần thiết để thi hành, cơ chế đó bao gồm: Các văn bản pháp luật
điều chỉnh; các chủ trương, chính sách của nhà nước về thi hành các quyết
định của trọng tài; quyết định trọng tài; hệ thống cơ quan thi hành án, tòa án,
Viện Kiểm sát, đương sự…và mối tương quan giữa các yếu tố này.
Hiện nay, cơ chế thi hành các quyết định của trọng tài thương mại chưa
có được sự gắn kết cần thiết và đồng bộ, chưa thực sự có mối quan hệ hữu cơ,
đặt biệt là hệ thống pháp luật điều chỉnh và hệ thống cơ quan thi hành các
quyết định trọng tài thương mại.
Luận văn này với mong muốn sẽ làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng như
thực tiễn thi hành các quyết định của trọng tài thương mại tại Việt Nam, qua
8
đó có những đề xuất xây dựng một cơ chế thi hành quyết định trọng tài
thương mại phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Thi hành quyết định của trọng tài là vấn đề khá phức tạp và được nhiều
nhà nghiên cứu, luật gia trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là các chuyên
gia và những người làm công tác thực tiễn. Trong nước đã có nhiều công trình
nghiên cứu về trọng tài và giải quyết tranh chấp trọng tài, trong đó phải kể
đến: “Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước
ta” (Đề tài khoa học cấp trường của Bộ môn Luật kinh tế Trường Đại học luật
Hà Nội), Pháp luật giải quyết tranh chấp ở Việt Nam (đề tài nghiên cứu khoa
học trong khuôn khổ dự án VIE/94/003), Chuyên đề thông tin pháp lý về thực
trạng công tác thi hành án (Bộ Tư pháp năm 2000), các báo cáo tại Hội thảo
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp luật thực định và thực tế
việc thi hành quyết định trọng tài ở Việt Nam và quyết định trọng tài nước
ngoài tại Việt Nam.
Tromg quá trình nghiên cứu, việc phân tích các vấn đề khác về trọng tài
chỉ với mục đích làm sáng tỏ và có cái nhìn toàn diện hơn về đối tượng
nghiên cứu nói trên.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề thi hành quyết định của trọng tài
chúng tôi lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ
sở phương pháp luận để xem xét. Đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể
10
như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử,… làm sáng tỏ các
khía cạnh của vấn đề thi hành quyết định trọng tài ở Việt Nam
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trong Luận văn, tác giả nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống
cơ sở lý luận về thi hành quyết định trọng tài, phân tích thực trạng pháp luật
và cơ chế thi hành quyết định trọng tài ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở những
phân tích đánh giá này, kết hợp tham khảo quy định của một số nước trên thế
giới về thi hành quyết định trọng tài, Luận văn chỉ ra một số đặc thù trong thi
hành quyết định trọng tài để qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về thi hành quyết định trọng tài, nâng cao hiệu quả cơ chế thi hành quyết
định trọng tài tại Việt Nam, đảm bảo các quyết định của trọng tài thương mại
được thực thi một cách nghiêm túc trên thực tế.
Với kết quả như trên, luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu
phục vụ việc học tập và giảng dạy, cũng như tham khảo để hoàn thiện pháp
luật về thi hành quyết định trọng tài.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có nội dung được chia thành
3 chương, cụ thể như sau:
tắc tố tụng riêng và danh sách trọng tài viên cụ thể.
Quá trình đi từ trọng tài vụ việc đến trọng tài thường trực là quá trình
bổ sung, hoàn thiện các hình thức tổ chức của trọng tài. Các Trung tâm trọng
tài, với tính chất là một tổ chức thường trực xuất hiện đầu tiên phải kể đến là
Toà án Trọng tài Quốc tế London (LCIA) thành lập năm 1892, Toà án trọng
12
tài thường trực quốc tế (PCA) thành lập năm 1899, Toà án trọng tài quốc tế
của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) thành lập năm 1923…Ở khu vực Châu
Á, các trung tâm trọng tài xuất hiện muộn hơn: Trung tâm trọng tài Kuala
lumpur thành lập năm 1978, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông
(HKIAC) thành lập năm 1985, Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore thành
lập năm 1990…
Sự ra đời và phát triển của Trung tâm trọng tài thương mại diễn ra hết
sức đa dạng, phong phú phụ thuộc vào điều kiện phát trển kinh tế, xã hội nói
chung cũng như hoàn cảnh cụ thể của từng nước, từng khu vực.
Tổ chức trọng tài ở một số nước trên thế giới:
* Trọng tài Cộng hòa Liên bang Đức
Là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động trên nguyên tắc tự do thỏa
thuận của các bên về trọng tài.
Hình thức trọng tài: Có hai hình thức trọng tài đó là: trọng tài thường
xuyên (trọng tài quy chế) và trọng tài ad – hoc. Nước Đức có 6 tổ chức trọng
tài thường xuyên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau với tổ chức gọn nhẹ
gồm Ban Thư ký điều hành và một danh sách trọng tài viên.
Thủ tục tố tụng trọng tài được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và
các Điều lệ hoạt động của từng tổ chức trọng tài. Ngoài ra, các bên cũng có
quyền thỏa thuận riêng.
* Cộng hòa Pháp
Bên cạnh tòa thương mại, hình thức trọng tài thương mại cũng là hình
thức giải quyết phổ biến các tranh chấp kinh doanh. Mô hình trọng tài giống
14
Hiệp hội trọng tài Nhật Bản là tổ chức xã hội được lập ra để giải quyết
tranh chấp thương mại. Hiệp hội có nhiều chi nhánh; đứng đầu là Chủ tịch và
đứng đầu chi nhánh là các Giám đốc. Hiệp hội còn có Ban Thư ký. Hiệp hội
có bản quy tắc trọng tài từ năm 1963 và được sửa đổi vào năm 1971.
Hiệp hội đứng ra lập danh sách trọng tài viên và niêm yết công khai tại
Văn phòng chi nhánh để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp tham khảo chọn
trọng tài viên. Hiệp hội có trách nhiệm chỉ định trọng tài viên hay chủ tịch
trọng tài khi các bên không chỉ định được.
* Nước Malaysia
Năm 1978, Malaysia thành lập trung tâm trọng tài quốc tế khu vực. Đây
là tổ chức trọng tài quốc tế phi chính phủ. Mặc dù, trung tâm này là tổ chức
phi chính phủ, nhưng chính phủ Malaysia giúp đỡ rất nhiều về tài chính và
không can thiệp vào hoạt động của trung tâm. Hiện nay, trung tâm này giải
quyết khá nhiều tranh chấp giữa các doanh nghiệp Malaysia.
1.1.1.2. Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trọng tài ra đời khá muộn. Vào đầu những năm sáu mươi
của thế kỷ trước, trọng tài ở Việt Nam ra đời và được chia thành hai loại:
Trọng tài giải quyết tranh chấp trong nước và trọng tài giải quyết tranh chấp
quốc tế.
Cả hai loại trọng tài này đều hoàn toàn không phải là tổ chức phi chính
phủ mà là cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp
kinh tế. Bởi vậy, về bản chất không phải là trọng tài thương mại theo đúng
nghĩa của nó.
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế hành chính quan liêu sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn đến nhiều loại hình chủ thể
kinh doanh và quan hệ kinh tế mới được hình thành, các hoạt động kinh tế
15
phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Thực tế này kéo theo hệ quả tranh
Giang, Trung tâm trọng tài kinh tế Cần Thơ. Dù các Trung tâm trọng tài này
chưa mang đầy đủ các tính đặc thù của tổ chức trọng tài phi chính phủ như
trọng tài ở các nước, nhưng đó là một bước thử nghiệm để chuyển hoàn toàn
trọng tài Nhà nước sang trọng tài mang tính chất tư nhân.
Từ năm 2003, với sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các
Trung tâm trọng tài thương mại có cơ sở pháp lý cao hơn để tổ chức và hoạt
động nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra đối
với lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại.
Hiện nay, cả nước có 07 trung tâm trọng tài, trong đó 05 trung tâm có
trụ sở tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với tổng số trọng tài viên là trên
180, riêng Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam có khoảng 118 trọng tài viên
với số lượng giải quyết vụ việc bình quân khoảng 25 - 30 vụ/năm. Đây là
trung tâm có số lượng giải quyết vụ việc lớn nhất cả nước. Trong những năm
qua hầu như các trung tâm trọng tài chủ yếu dừng lại ở việc triển khai thi
hành Pháp lệnh trọng tài thương mại về việc sửa đổi bổ sung điều lệ hoạt
động và quy tắc tố tụng. Thực tế các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài chủ
yếu tập Trung tại trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng
Thương mại và công nghiệp Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm quyết định của trọng tài thương mại
1.1.2.1. Khái niệm quyết định trọng tài
Hoạt động quan trọng nhất của trọng tài là ra các quyết định giải quyết
tranh chấp. Khi các bên thông qua trọng tài để giải quyết những tranh chấp
phát sinh giữa họ thì cái mà các bên mong muốn đạt được là công bằng,
nhanh chóng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình. Kết quả này được
17
thể hiện ở giai đoạn cuối của thủ tục trọng tài bằng quyết định trọng tài. Đây
có thể là quyết định của một trọng tài viên duy nhất hoặc của Hội đồng trọng
tài (sau đây gọi tắt là trọng tài viên). Trọng tài viên có thể ra quyết định bổ
sung nếu thấy rằng một quan điểm của quyết định trọng tài đã tuyên chưa rõ
trong nước.
Nhìn chung, cách hiểu về khái niệm quyết định trọng tài khó thống nhất
ở các nước và có thể khẳng định rằng quan niệm của họ về quyết định trọng
tài đều tương tự như trong các công ước quốc tế về trọng tài. Trước hết,
chúng ta tìm hiểu quy định trong văn bản có tính chất quốc tế về vấn đề này.
Trong Quy tắc trọng tài UNCITRAL quy định một cách đơn giản:
Quyết định trọng tài sẽ được lập thành văn bản, sẽ là cuối cùng và có hiệu lực
rằng buộc đối với các bên. Các bên có trách nhiệm thi hành quyết định trọng
tài một cách không chậm trễ.
Không có một định nghĩa chung của thuật ngữ “quyết định trọng tài”
được chấp nhận ở tất cả các nước. Thậm chí, không một định nghĩa nào được
tìm thấy trong các công ước quốc tế có liên quan đến trọng tài, bao gồm: các
hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1927 và Công ước New York 1958, mặc dù Công
ước New York 1958 được dành riêng để nói về việc thừa nhận và thi hành các
phán quyết. Khái niệm gần nhất được quy định trong Công ước New York là:
“Thuật ngữ: quyết định trọng tài sẽ không chỉ bao gồm các quyết định
được đưa ra bởi các trọng tài viên được chỉ định cho mỗi vụ mà còn bao gồm
cả các quyết định được đưa ra bởi các tổ chức trọng tài thường xuyên mà các
bên đã đệ trình tranh chấp lên”. (Công ước New York 1958 điều I.2).
19
Có ý kiến cho rằng, cần có một định nghĩa của thuật ngữ “quyết định
trọng tài” trong luật mẫu của UNCITRAL, nhưng đến nay vẫn chưa có một
định nghĩa nào được chấp nhận.
Một số nước quan niệm rằng: “quyết định trọng tài” có nghĩa là một
phán quyết cuối cùng giải quyết mọi vấn đề được đệ trình lên trọng tài và bất
kỳ quyết định nào khác của trọng tài mà cuối cùng xác định bất kỳ vấn đề về
nội dung cơ bản hoặc vấn đề thẩm quyền hoặc bất kỳ vấn đề thủ tục nào khác,
nhưng trong trường hợp vấn đề thủ tục chỉ được gọi là quyết định trọng tài
nếu trọng tài gọi quyết định của mình là một quyết định trọng tài.
- Trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, quyết định trọng
tài có thể được tuyên trên cơ sở pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật do các bên
lựa nhưng đảm bảo nguyên tắc không được trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam.
- Hình thức của quyết định trọng tài bằng văn bản xong nội dung của nó
có tính linh hoạt tùy thuộc vào tố tụng của từng trung tâm trọng tài trên cơ sở
bảo đảm một số nội dung cơ bản theo luật định.
1.1.3. Phân loại quyết định trọng tài thương mại
- Phân loại quyết định trọng tài theo dấu hiệu lãnh thổ
Có rất nhiều cách phân loại quyết định trọng tài. Tuy nhiên, cách phân
loại chính thống ở nước ta hiện nay là phân loại theo dấu hiệu về lãnh thổ và
chủ thể. Theo cách này thì quyết định trọng tài được chia thành quyết định
trọng tài trong nước và quyết định trọng tài nước ngoài.
21
Việc phân loại này có ý nghĩa thực tiễn khi áp dụng pháp luật điều
chỉnh chúng. Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức thế nào là quyết
định trọng tài trong nước, nhưng đối với quyết định trọng tài nước ngoài, tại
phần thứ sáu: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết
định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài,
khoản 2 Điều 342 BLTTDS ghi nhận: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài
là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt
Nam của trọng tài nước ngoài do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết
tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao
động”. Như vậy, quyết định trọng tài nước ngoài có thể được tuyên ở ngoài
hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.
Có thể dùng phương pháp loại trừ để đưa ra khái niệm quyết định trọng
tài trong nước. Các quyết định trọng tài không phải quyết định trọng tài nước
ngoài được coi là quyết định trọng tài trong nước. Quyết định trọng tài trong
nước bao gồm các quyết định giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành quyết định trọng tài một mặt bảo
đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu
hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân
khi bị xâm hại.
“Thi hành” là đem việc đã định sẵn làm theo điều đã định. Như vậy, thi
hành quyết định trọng tài là hành vi làm cho những vấn đề được phán quyết
trong quyết định của trọng tài được thực thi trong thực tế. Thi hành quyết định
trọng tài được chia làm hai hình thức, căn cứ vào tính chất của nó:
23
- Hình thức thứ nhất là các đương sự tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ
được ghi nhận trong quyết định trọng tài. Ở hình thức này không có một cơ
chế chung cho mọi trường hợp, mà thi hành các nghĩa vụ được phán quyết
trong quyết định của trọng tài như thế nào là do các đương sự thỏa thuận
thống nhất. Theo đó, phương pháp, cách thức…thi hành quyết định của trọng
tài cũng vô cùng đa dạng. Trên thực tế, thi hành quyết định trọng tài ở hình
thức này là phổ biến trên thế giới.
- Hình thức thứ hai là hình thức thi hành thông qua việc sử dụng quyền
lực nhà nước: Đa số các quyết định của trọng tài được tự nguyện thi hành.
Tuy nhiên, cũng cá biệt có những trường hợp vì những lý do khác nhau một
bên không chịu tự nguyện thi hành. Khi quyết định của trọng tài bị một trong
các bên không chịu tự nguyện thực hiện, thì việc thi hành quyết định của
trọng tài tương đối phức tạp. Việc giải quyết vấn đề này phụ thuộc hoàn toàn
vào quy định của pháp luật.
Đối với Việt Nam hiện nay, việc thi hành quyết định của trọng tài phụ
thuộc vào quyết định của trọng tài trong nước hay của trọng tài nước ngoài:
Nếu là quyết định của trọng tài trong nước thì được thi hành theo các
quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, BLTTDS, Luật Thi
hành án và các pháp luật có liên quan khác. Theo các quy định này, với tính
chất chung thẩm của mình, quyết định trọng tài có hiệu lực pháp lý như một
thể bằng cách thông qua cơ quan nhà nước gắn cho quyết định trọng tài một
hình thức mang biểu tượng của công quyền một hiệu lực cưỡng chế thi hành.
Ở nhiều nước kinh tế phát triển, việc lựa chọn trọng tài để giải quyết
các tranh chấp trong kinh doanh là rất phổ biến và việc thi hành quyết định
trọng tài cũng như Việt Nam, nó được quan niệm là việc thực thi trên thực tế
25
các quyền và nghĩa vụ của các bên được trọng tài phân xử trong quyết định
trọng tài. Tuy nhiên, phạm vi tự nguyện thi hành và thi hành bằng cưỡng chế
nhà nước cũng rất khác nhau ở mỗi nước, điều này phụ thuộc vào văn hóa
pháp lý, trình độ phát triển kinh tế… của mỗi nước. Nhưng có thể nhận xét
chung là: Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, có bề dày truyền thống
pháp luật thì đa phần quyết định trọng tài được các đương sự tự nguyện thi
hành. Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế kém phát triển thì các trường hợp
thi hành quyết định trọng tài bằng biện pháp cưỡng chế khá phổ biến. Đối với
các trường hợp phải sử dụng quyền lực nhà nước để thi hành quyết định trọng
tài thì quan niệm về thi hành quyết định trọng tài trong trường hợp này cũng
khác nhau: Đa phần các nước (Anh, Mỹ, Đức, Trung Quốc…) cho rằng muốn
sử dụng biện pháp quyền lực nhà nước để thi hành quyết định trọng tài cần
phải thông qua cơ chế công nhận cho thi hành tại tòa án. Nhưng một số ít
quốc gia như Thụy Điển lại cho rằng không cần thông qua thủ tục công nhận
cho thi hành tại tòa án mà chuyển thẳng tới cơ quan thi hành án để thi hành.
Hoạt động thi hành quyết định trọng tài có vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự, hoạt đồng này
nhằm thực thi trên thực tế các quyền và nghĩa vụ của các bên, vai trò của hoạt
động này được thể hiện trên các bình diện sau:
- Thi hành quyết định trọng tài là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức trong kinh doanh, là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của môi
trường đầu tư trong nước góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Quyết định trọng tài là sự áp dụng các quy định của pháp luật vào giải