QUY ĐỊNH VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM - Pdf 27



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
  
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2005 – 2009 ĐỀ TÀI:

QUY ĐỊNH VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TRƯƠNG THANH HÙNG LÊ VĂN ĐÂY
MSSV: 5054727
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 2-K31

1.4.2.1 Phát sinh từ hoạt động thương mại ............................................................12
1.4.2.2 Có thỏa thuận Trọng tài.............................................................................13
1.4.2.3 Chủ thể .....................................................................................................14
1.5 Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài .......................................................14
1.5.1 Thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài ...................................14
1.5.2 Hội đồng Trọng tài do các bên thành lâp. .......................................................15
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................17
2.1 Khái niệm của việc thi hành quyết định của Trọng tài..........................................17
2.2 Bản chất của việc thi hành quyết định của Trọng tài ............................................17
2.3 Sự cần thiết của việc thi hành quyết định của Trọng tài........................................19
2.4 Trình tự, thủ tục thi hành quyết định của Trọng tài theo pháp luật Việt Nam hiện
hành...........................................................................................................................21
2.4.1 Điều kiện để thi hành quyết định của Trọng tài ..............................................22
2.4.2 Thủ tục yêu cầu thi hành quyết định của Trọng tài tại cơ quan thi hành án
dân sự ......................................................................................................................23
2.4.2.1 Ra quyết định thi hành án..........................................................................24
2.4.2.2 Để tự nguyện thi hành án ..........................................................................26
2.4.2.3 Cưỡng chế thi hành án...............................................................................27
2.4.2.4 Kết thúc việc thi hành án...........................................................................29
2.5 Trình tự, thủ tục yêu cầu tòa hủy quyết định của Trọng tàithương mại tại
Việt Nam. .................................................................................................................31
2.5.1 Căn cứ hủy quyết định của Trọng tài..............................................................31
2.5.2 Thủ tục yêu cầu tòa hủy quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam. .32
2.6 Trình tự, thủ tục về việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam. ..........................................................................................34
2.6.1 Trình tự, thủ tục xét đơn công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam. ..........................................................................................34
2.6.2 Các điều kiện không công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài. ...........38
2.6.3 Trình tự thủ tục cho thi hành quyết định của Trọng tàinước ngoài tại


..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
.................................................................................................................................. Cần Thơ, ngày…..tháng…..năm…..

………………………………….

mà Trọng tài đưa ra đáp ứng các yêu cầu của pháp luật và được công nhận và cho thi
hành thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về Trọng tài trong nhu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế là một vấn đề cần thiết và cấp bách.
Từ những lý do trên và thấy được việc cần phải hoàn thiện pháp luật công nhận
và thi hành quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam hiện nay mà người viết
chọn đề tài “Quy định về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương mại tại
Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình.
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá đúng thực trạng của vấn đề công nhận và thi
hành quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam, làm rõ những hạn chế, bất cập
trọng việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài tại Việt Nam. Từ đó người
viết tìm ra những hướng khắc phục, để quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt
Nam ngày càng được áp dụng nhiều hơn. Đề tài xác định các yêu cầu đặt ra đối với việc
công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam, giúp người
đọc nói chung và các doanh nghiệp nói riêng hiểu rõ những quy định của pháp luật về
Trọng tài, qua đó thấy được những ưu điểm và hạn chế về phương thức giải quyết tranh
chấp bằng Trọng tài, từ đó để người đọc thấy được những hạn chế về pháp luật cũng
như thực tiễn về vấn đề công nhận và cho thi hành những quyết định của Trọng
tài
thương mại tại Việt Nam và những hướng khắc phục nhằm hoàn thiện hơn.
Đề tài được nghiên cứu một cách sâu rộng về vấn đề công nhận cũng như thi
hành quyết định vủa Trọng tài thương mại tại Việt Nam. Để hoàn thành được đề tài
người viết đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp vấn đề, so sánh các quy
định của pháp luật với nhau để giải quyết vấn đề của đề tài.
Do thời gian có hạn cũng như những hạn chế về việc thu thập tài liệu và khả
năng có hạn của người viết nên đề tài chủ yếu nghiên cứu các vấn đề: Lý luận về vấn đề
công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài; các quy định của pháp luạt về công
nhận cũng như thi hành quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam; thực tiễn
của việc thi hành quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam và thực tiễn của việc
công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương mại nước ngoài tại việt Nam.
Nội dung của đề tài gồm: lời nói đầu, chương 1, chương 2, chương 3, kết luận.


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNH TÀI
1.1 Khái quát chung về Trọng tài
1.1.1 Khái niệm Trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là biện pháp giải quyết tranh chấp được các
nhà kinh doanh rất ưa chuộng. Đây “là sản phẩm” tất yếu của nền kinh tế thị trường. Tự
do kinh doanh, tự do kí kết hợp đồng trong khuôn khổ pháp luật đương nhiên bao gồm
cả tự do thỏa thuận lựa chọn các biện pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh1
.
Vậy Trọng tài là gì? Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản văn hóa thông tin Hà
Nội năm 1999 Trọng tài được coi là: Người được các bên đối lâp, tư nhân,
thương
gia…, công nhận là có thẩm quyền xử một vụ tranh chấp; là người được cử ra để điều
khiển thể thao trong khuôn khổ điều lệ của bộ môn và công nhận các kết quả cuối cùng.

tài cũng như quy định về tiêu chuẩn của Trọng tài viên.
Thứ tư, các Trọng tài viên chủ yếu là các luật gia và các thương gia. Có thể nói
ngoài bộ phận chủ yếu là các luật gia thì thành phần thương gia là cơ sở cho việc thi
hành và hoạt động của tổ chức Trọng tài. Nhiều tổ chức Trọng tài trên thế giới được
thành lập là dựa trên sáng kiến là các thương gia.
1.1.3 Vai trò của Trọng tài
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp trong sản xuất, kinh doanh cho thấy các nhà sản
xuất kinh doanh dù hoạt động trong phạm vi quốc gia hay trên phạm vi quốc tế đều
mong muốn ngăn chặn phát sinh các tranh chấp; nếu tranh chấp xảy ra thì mong muốn
hòa giải với nhau, nếu không hòa giải được với nhau thì tránh việc đưa tranh chấp ra
Tòa án mà thỏa thuận giải quyết tranh bằng Trọng tài
2
. Trong quá trình phát triển kinh
tế hiện nay cùng với xu hướng toàn cầu hóa thương mại, Trọng tài đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế nói
riêng. Vai trò của Trọng tài cụ thể là:
Trong môi trường kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi
nhuận cao, cùng với sự đòi hỏi bí mật trong kinh doanh, cũng như sự nhanh chóng khi
giải quyết tranh chấp mà Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu mà họ
lựa chọn.
Bên cạnh đó thì một vai trò không kém phần quan trọng nữa của Trọng tài chính là
việc giảm gánh nặng cho Tòa kinh tế. Việc ra đời của các tổ chức Trọng tài cũng chính
là tạo cơ chế thi đua giữa Tòa kinh tế và Trọng tài trong sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần cũng như đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh
ngày càng tăng cao.
Đảm bảo cho các nhà kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh mà cụ thể ở
đây là quyền tự do lựa chọn Cơ quan tài phán. Ngoài ra, việc hoàn thiện pháp luật
Trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn trong
quá trình quốc tế hóa của nhiều nước trên thế giới.


định này, các Hội đồng Trọng tài được được thành lâp ở cấp tỉnh và cấp bộ. Mỗi Hội
đồng Trọng tài trực thuộc cơ quan hành chính cùng cấp. Thành viên của Hội đồng
Trọng tài đồng thời cũng giữ một số chức vụ chính quyền cấp đó. Nhìn chung các Hội
đồng Trọng tài được thành lập xuất phát từ nhu cầu quản lý một nền kinh tế kế hoạch
nói chung và cơ chế hợp đồng kinh tế nói riêng.
Như vậy, chức năng chính của Hội đồng Trọng tài là giải quyết tranh chấp kinh
tế phát sinh từ hoạt động của các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước theo
yêu cầu của các bên tranh chấp. Ngoài ra, ở giai đoạn này Hội đồng Trọng tài còn có
thẩm quyền ra các quyết định yêu cầu các cơ quan tiến hành ngay các biện pháp để

3
Đoàn Năng: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế, nhà xuất bản chính trị quốc
gia, Hà Nội – 2001.
giảm thiệt hại gay ra cho kế hoạch Nhà nước, trong các trường hợp không kí hợp đồng
kinh tế, không thi hành hợp đồng kinh tế, và vi phạm hợp đồng kinh tế đã kí.
Ở giai đoạn đầu, các Hội đồng Trọng tài hoạt động với tư cách là cơ quan lâm
thời, theo quy chế tạm thời của nó. Về sau, cùng với sự phát triển và hoàn thiện của cơ
chế hợp đồng kinh tế được coi là hòn đá tảng của nền kinh tế hàng hóa, tổ chức và thủ
tục của Hội đồng Trọng tài cũng được từng bước phát triển và hoàn thiện4
.
Nghi định số 29-CP ngày 23/2/1962 của Chính phủ đã quy định các nguyên tắc
và thủ tục chính thức của Hội đồng Trọng tài. Năm 1965, các Hội đồng Trọng tài được
thay thế bằng các Hội đồng Trọng tài kinh tế ở các cấp cụ thể là: Hội đồng Trọng tài
kinh tế Nhà nước ở cấp Trung ương, Hội đồng Trọng tài kinh tế cấp bộ và Hội đồng
Trọng tài kinh tế cấp tỉnh. Đến giai đoạn này thì thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài
được mở rộng. Ngoài thẩm quyền riêng giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế phát
sinh trong phạm vi của mình, Hội đồng Trọng tài kinh tế còn có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp phát sinh giữa các đơn vị kinh tế nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn
mà mình phụ trách.
Nghị định 75-CP ngày 14/4/1975 quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng

Nhìn chung, so với sự phát triển của các tổ chức Trọng tài thế giới và quá trình
hội nhập kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, thì các trung tâm Trọng tài
kinh tế không thể đảm đương nổi việc giải quyết tranh chấp kinh tế cho nhu cầu phát
triển kinh tế của Việt Nam.
Và hiện nay cùng với sự hiện hành của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2004 và
Dự thảo Luật Trọng tài là rất cần thiết và phù hợp trong quá trình phát triển chung của
nền kinh tế Việt Nam, cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3 Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Qua thực tiễn giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết bằng Trọng tài cho
thấy nhiều ưu thế và được các nhà kinh doanh ưa chuộng và lựa chọn để giải quyết nếu
có tranh chấp xảy ra. Qua thực tiễn cho thấy các ưu thế của việc giải quyết tranh chấp
bằng Trọng tài với các ưu điểm sau:
Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có nhiều công đoạn
tố tụng, nhanh gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên có liên
quan.
Nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin
cậy trong quan hệ thương mại. Điều có có ý nghĩa rất lớn trong điều kiện cạnh tranh.
Các bên đương sự được lựa chọn Trọng tài viên. Cách thức lựa chọn Trọng tài và
Hội đồng Trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng.
Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng Trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi
hành, nên các bên đương sự nào không đồng ý phán quyết của Trọng tài thì có thể kiện
ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ việc.
Quyết định giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại phải được các bên
thi hành nhanh chóng.
Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài là một tổ chức phi
Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của Tòa án.
Vì những ưu điểm đó nên trong thời gian gần đây thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng
dần dần chọn phương án giải quyết bằng Trọng tài khi có tranh chấp xảy ra.
1.4 Vấn đề giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt
Nam hiện hành

xây dựng; tư vấn; kĩ thuật và các hành vi theo quy định của pháp luật
6
. Còn theo Điều 2
Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

5
Theo khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
6
Theo khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
phát sinh trong hoạt động thương mại mà các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh
hoặc tổ chức kinh doanh.
Như vậy Trọng tài thương mại Viêt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Có thỏa thuận Trọng tài.
Phát sinh từ hoạt động thương mại.
Các bên tranh chấp phải là tổ chức, cá nhân kinh doanh, mà đại bộ phận là phải đăng
ký kinh doanh.
Các tranh chấp không đáp ứng được những điều kiện này sẽ không được giải
quyết
bằng Trọng tài thương mại. ngay cả trường hợp các bên có thỏa thuận đưa tranh chấp ra
Trọng tài giải quyết.
Như vậy, theo Pháp lệnh Trọng tài hiện hành thì thẩm quyền của Trọng tài Việt
Nam hẹp hơn nhiều so với thẩm quyền của Trọng tài của các nước trên thế giới. Pháp
luật Việt Nam quy định thẩm quyền của Trọng tài bằng phương pháp liệt kê những hoạt
động thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài.
Theo Dự thảo Luật Trọng tài thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài
được mở rộng, bao gồm các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh liên quan đến
các vấn đề về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, bao gồm các tranh chấp
phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng và ngoài hợp đồng. Những tranh chấp liên quan đến các

Dự thảo Luật Trọng tài đã quy định hình thức của thỏa thuận Trọng tài rộng hơn so với
Pháp lệnh Trọng tài hiện hành, thỏa thuận Trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn
bản: Bằng văn bản được các bên ký kết, qua trao đổi giữa các bên bằng talex,
điện

7
Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của
Tòa án.
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có
đăng ký kinh doanh với
nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
a. Mua bán hàng hóa;
b. Cung ứng dịch vu;
c. Phân phối;
d. Đại diện, đại lý;
đ. Ký gửi;
e. Thuê, cho thuê, cho mua;
g. Xây dựng;
h. Tư vấn, kỹ thuật;
i. Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa;
k. Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;
l. Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;
m. Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
n. Bảo hiểm;
o. Thăm dó, khai thác;
2. Tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và
đều có mục đích lợi
nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với

chức Trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có bất
kỳ thỏa thuận bổ sung nào. Ví dụ: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về điều khoản tranh chấp “Trong trường
hợp có tranh chấp nếu không giải quyết được bằng phương thức thương lượng thì các
bên có quyền yêu cầu Trọng tài giải quyết theo quy định của pháp luật”. Trường hợp
này thì thỏa thuận Trọng tài này vô hiệu vì các bên không thỏa thuận rõ việc tranh chấp
sẽ do Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, do Trọng tài viên duy nhất hay do Hội
đồng Trọng tài của một trung tâm Trọng tài cụ thể nào của Việt Nam giải quyết. Nếu
các bên đã có thỏa thuận bổ sung về vấn đề này thì thỏa thuận Trọng tài này có hiệu
lực.

-
Bên ký kết thỏa thuận Trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, yêu cầu đó phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên hợp để giải
quyết tranh chấp.
1.4.2.2 Phát sinh từ hoạt động thương mại

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Thương mại năm 2005 thì: Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hang hóa cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận khác.

-
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó các bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua hàng có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán hàng.

-
Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung

nguyên đơn và bản sao các tài liệu cùng với các chứng cứ và phải được chứng thực hợp
lệ. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu có liên quan,
bị đơn có trách nhiệm gửi cho Trọng tài bản tự bảo vệ
8
.
1.5.1 Thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện (trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác), Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên
Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách trọng
tài viên của Trung tâm Trọng tài nếu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do Trung
tâm
Trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên
của trung tâm Trọng tài và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc yêu cầu trung tâm
Trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho mình. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không chọn
Trọng tài hoặc không yêu cầu Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên thì trong thời
hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn thì Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định
Trọng tài viên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho bị đơn.

8
Theo Điều 33 Dự thảo Luật Trọng tài. Bản tự bảo vệ, Bản tự bảo vệ gồm có các nội dung
sau đây:
a. Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;
b. Tên và địa chỉ của bị đơn;
c. Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ
nội dung đơn kiện của
nguyên đơn.

Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn

thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn, thì nguyên đơn có quyền
yêu cầu Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong thời hạn 07 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án giao cho một thẩm phán chỉ định
Trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên.

Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn
một Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên
đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này, các bị đơn không chọn được Trọng tài
viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án cấp tỉnh, nơi có trụ sở hoặc cư trú của
một trong các bị đơn chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn 07 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án giao cho một Thẩm phán chỉ
định Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được chọn hoặc được Tòa
án chỉ định, các Trọng tài viên này phải thống nhất chọn Trọng tài viên thứ ba làm Chủ
tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn này, nếu hai Trọng tài viên được chọn hoặc được
chỉ định không chọn được Trọng tài viên thứ ba, các bên có quyền yêu cầu Tòa án cấp
tỉnh, nơi có trụ sở hoặc cư trú chỉ định Trọng tài viên thứ ba. Trong hạn 07 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chánh án giao cho một thẩm phán chỉ định Trọng
tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài và thông báo cho các bên.

Trọng tài viên do các bên chon hoặc do Tòa án chỉ định có thể là Trọng tài viên trong
danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt
Nam.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất
giải
quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của một bên,
Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một Thẩm phán chỉ
định Trọng tài viên duy nhất cho các bên Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được
yêu cầu và thông báo cho các bên.

các bên thỏa thuận đệ trình lên Trọng tài và bất kỳ một quyết định nào khác của Trọng
tài xác định rõ về vấn đề tài sản, vấn đề thẩm quyền hay bất cứ một vấn đề nào về thủ
tục giải quyết tranh chấp được các bên đệ trình”.
2.2 Khái niệm và bản chất của việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng
tài tại Việt Nam

Sau khi xác định được khái niệm quyết định của Trọng tài, thì khái niệm công nhận và
thi hành quyết định của Trọng tài cũng cần được làm rõ. “Công nhận” theo từ điển tiếng
Việt là sự thừ nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với lẽ phải hoặc với thể
lệ, luật pháp. Trong khi đó “Thi hành” là việc làm cho điều gì đó có hiệu lực (được thực
hiện trên thực tế) điều đã được chính thức quyết định. Về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt
động của Trọng tài, quyết định của Trọng tài có thể thi hành một trong hai cách:

-
Người có nghĩa vụ thi hành quyết định đó tự nguyện thực hiện hành vi của mình theo
yêu cầu của quyết định.

-
Nếu người người có nghĩa vụ thi hành mà không tự nguyện thi hành thì chỉ thực hiện
khi bị cưỡng chế.

Đối với các trường hợp không tự nguyện thực hiện, các bên phải thi hành theo quyết
định của Trọng tài không tự nguyện thực hiện thì cần cưỡng chế thi hành. Sự cưỡng chế
này không thể do bên được thi hành quyết định của Trọng tài hoặc bản thân Trọng tài
thực hiện được, vì cả hai đều không phải thực hiện quyền lực của Nhà nước mà chỉ có
thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đó chính là Tòa án hay Cơ quan thi hành án
dân sự thực hiện9
.

Như vậy, Khái niệm công nhận quyết định của Trọng tài theo đúng nghĩa của nó thì đó

hoặc Cơ quan thi hành án chỉ đặt ra ngay sau khi Tòa án đã công nhận. Nếu Tòa án hay
Cơ quan thi hành án không công nhận quyết định của Trọng tài thì Tòa án hoặc Cơ
quan thi hành sẽ không cho thi hành.

Để hiểu rõ hơn về khái niệm công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài cần làm rõ
mục đích và bản chất của những hoạt động đó. Đối với công nhận thì mục đích thể hiện
ở chỗ sự công nhận được sử dụng nhằm ngăn ngừa trường hợp một bên tranh chấp tiếp
tục khởi kiện vụ việc đã dược Trọng tài giải quyết. Trong khi đó việc thi hành đóng vai
trò như một công cụ hữu hiệu để buộc bên thua kiện phải thực hiện nghĩa vụ của mình
mà họ đã kông tự nguyện thi hành. Việc cưỡng chế bên phải thực hiện quyết định của
Trọng tài có thể bằng nhiều cách khác nhau như: tịch thu, phong tỏa tài.

Ngoài ra, khái niệm công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài trong nước cũng
khác khái niệm của việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài.
Việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài trong nước là hành vi của các cơ
quan có thẩm quyền của quốc gia sở tại còn việc công nhận và thi hành quyết định của
Trọng tài nước ngoài được hiểu là hành vi của chính quốc gia sở tại (Trên cơ sở hỗ trợ
hoạt động tư pháp)
10
.

Như vậy, việc xác định khái niệm công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài cho
thấy bản chất của việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài là việc Nhà nước
thừa nhận tính hiệu lực của quyết định trọng tài.
2.3 Sự cần thiết của việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương
mại Việt Nam

Công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài là giai đoạn cuối cùng của quá trình
giải quyết tranh chấp. Bởi vậy, nếu công đoạn này không được thực hiện hoặc thực hiện


Về mặt kinh tế, việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài
thương mại Việt Nam trong những trường hợp cần thiết sẽ có ý nghĩa thúc đẩy các quan
hệ kinh tế trong nước phát triển. Trong quá trình hợp tác kinh tế giữa các chủ thể kinh
doanh, việc phát sinh các tranh chấp là có thể và tất yếu. Bởi vậy, pháp luật không chỉ
quy định các hành vi mà mà các chủ thể có thể tiến hành trong hoạt động kinh doanh
(đối với các bên đối tác, đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền) mà còn có những
quy định liên quan tới giải quyết tranh chấp, trong đó các quy định về phương
thức
Trọng tài. Nếu việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài

11
Dương Đăng Huệ: Những nguyên nhân hạn chế tác dụng của Trọng tài kinh tế và những
giải pháp khắc phục,
tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/1999.
12
Dương Thanh Mai: Về mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài trong việc đảm bảo hiệu quả
giải quyết các tranh
chấp kinh tế bằng Trọng tài, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/1997.
thương mại được tiến hành một cách phù hợp,
13
nếu như các mặt lợi của Trọng tài được
phát huy thì các bên sẽ yên tâm hơn trong việc phát triển quan hệ hợp tác kinh doanh
(bởi cơ hội lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp là nhiều hơn). Sự phát triển
các quan hệ hợp tác kinh tế là một điều kiện quan trọng để phát triển nền kinh tế của đất
nước cũng như nâng cao mức sống của người dân14
.

-
Về phương diện pháp luật, việc công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của
Trọng tài thương mại Việt Nam là cần thiết trong việc khắc phục các khiếm khuyết của

không đồng ý với quyết
định Trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết
định Trọng tài, để yêu
cầu hủy quyết định Trọng tài.

Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả
kháng không tính vào thời
hạn yêu cầu hủy quyết định Trọng tai.
hiện vai trò trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường nhằm phát huy hiệu quả Nhà nước
mong muốn16
.
2.4 Thủ tục thi hành quyết định của Trọng tài theo pháp luật Việt Nam hiện hành Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định của Trọng tài,
nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy theo quy định tại Điều
50 của Pháp lệnh Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2003, bên được thi hành quyết
định Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi
cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định của Trọng tài.
Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu Tòa án hủy quyết định Trọng tài
thì quyết định Trọng tài được thi hành kể từ ngày quyết định của Tòa án không hủy
quyết định của Trọng tài có hiệu lực
17
.

Trình tự thủ tục và thời hạn thi hành quyết định của Trọng tài theo quy định của Pháp
lệnh về thi hành án dân sự năm 2004.
2.4.1 Điều kiện để thi hành quyết định của Trọng tài

Theo Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy định về quyền yêu cầu thi

thi hành án phải có đơn yêu cầu gửi đến Cơ quan thi hành án để được thi hành.
Khi người yêu cầu thi hành án theo đơn yêu cầu hay trực tiếp đến Cơ quan thi
hành án yêu cầu thi hành thì, các bên phải cung cấp bản án, quyết định của Tòa án cho
Cơ quan thi hành án. Có thể nói đây là một yêu cầu bắt buộc bởi bản án, quyết định của
Tòa án là căn cứ để Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành và tổ chức cho việc thi
hành.
So với Điều 5 của Pháp lệnh thi hành án 2004 thì Điều 8 của Dự thảo Luật thi
hành án dân sự được quy định rộng hơn về quyền yêu cầu thi hành án; theo Điều 8 của
Dự thảo Luật thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án tự nguỵên hay
không tự nguyện thi hành thì có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án ra quyết định thi
hành án, còn Điều 5 của Pháp lệnh thi hành án chỉ áp dụng cho các bên không
tự
nguyện thi hành mới yêu cầu Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án.
Tuy nhiên Theo Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, quyền yêu cầu
thi hành án hướng dẫn cụ thể “Người yêu cầu thi hành án phải có đơn yêu cầu hoặc
trực tiếp đến Cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan
đến việc thi hành án kèm theo bản án, quyết định dân sự” cho các đương sự các hình
thức yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định. Theo Điều 8 Dự thảo
Luật thi hành án dân sự chỉ quy định: người được thi hành án, người phải thi hành án
căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành
án. Như Vậy, Điều 8 Dự thảo Luật thi hành án không hướng dẫn cụ thể cách thức cụ thể
cho các bên khi yêu cầu Cơ quan thi hành án ra quýêt định thi hành án.
Theo người viết, việc yêu cầu thi hành án là thủ tục đầu tiên để người được thi
hành án tiến hành yêu cầu Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành. Pháp luật cần
quy định rõ hơn về các hình thức yêu cầu Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành
án, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ cũng như
quyền lợi của mình một cách nhanh chóng.
Sau khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, Thủ trưởng Cơ quan
thi hành án phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được yêu cầu thi hành án của đương sự.


Theo Điều 22 của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy định với các bản án,
quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại về tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt
tiền hoặc tịch thu tài sản, án phí, lệ phí Tòa án, trả lại tiền tạm ứng án phí, truy thu thuế,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ, thu hồi đất
theo quyết định của Tòa án, quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì Thủ
trưởng Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày
ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định; đối với quyết định về biện pháp khẩn
cấp tạm thời thì phải ra quyết định thi hành án.

Trích đoạn Thủ tục yêu cầu tòa hủy quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam Các điều kiện không công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status