ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THU HÀ
VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH
TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ
CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2007
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Mở đầu Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG
NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN
SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
6
1.1.
Khái niệm công nhận và thi hành các bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài
6
1.1.1.
Khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
6
án nước ngoài tại Singapo
22 1.2.3.4.
Công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài tại Thái Lan
24
1.2.3.5.
Công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài tại Pháp
25
1.2.3.6.
Công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài tại Thụy Điển
29
1.3.
Cơ sở pháp luật của việc công nhận và thi hành Tại Việt
Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
30
1.3.1.
Khái niệm chung
30
1.3.2.
Các điều ước quốc tế
36
1.3.2.1.
Điều ước quốc tế đa phương
36
1.3.2.2.
Các điều kiện để được công nhận và thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
77 2.2.3.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
87
2.2.4
Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí
và lệ phí Tòa án
88
2.3.
Việc thực thi pháp luật về công nhận và thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài
89
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI
HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
98
3.1.
Về các điều ước quốc tế
98
3.2.
Về các văn bản pháp luật
102
3.2.1.
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
103
lập, tự chủ, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Đứng trước xu thế hội
nhập toàn cầu hóa hiện nay, bên cạnh việc chủ động phát triển đời sống kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội bằng sức mạnh của mình, Nhà nước ta còn chủ
trương không ngừng mở rộng các quan hệ quốc tế trên cơ sở hợp tác cùng có
lợi, tạo điều kiện cho việc thiết lập các giao lưu dân sự quốc tế ngày càng phát
triển, đưa nền kinh tế Việt Nam hòa nhập, phát triển cùng sánh vai với các
nước trong khu vực cũng như khẳng định vị thế của mình trên thế giới.
Việt Nam đã là thành viên thuộc khối ASEAN, một tổ chức có vị thế
của khu vực Đông Nam Á và năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thể hiện sự
rộng mở hơn của Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Chúng ta đã ký kết và gia
nhập các điều ước quốc tế đa phương, song phương trên nhiều lĩnh vực nhằm
thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Điều đó khẳng định chủ trương của nhà nước ta là mở
rộng quan hệ quốc tế, cùng các quốc gia thực hiện mục tiêu chung là tiến tới
ổn định, hòa bình và bình đẳng trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, tôn trọng chủ
quyền quốc gia của nhau trong quan hệ quốc tế với các quốc gia khác. Tất cả
hướng tới sự hòa bình, ổn định và thịnh vượng.
Trong bối cảnh đó, các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước
ngoài phát triển. Sự phát triển các quan hệ ấy cũng kéo theo sự gia tăng các
tranh chấp dân sự, các yêu cầu dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. 2
Để bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên thúc đẩy quan hệ dân sự theo
nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài phát triển theo hướng phù hợp với chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, việc phân định thẩm quyền quốc tế và xác
định chọn luật áp dụng để giải quyết các tranh chấp và vụ việc dân sự theo
nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài một cách phù hợp có một ý nghĩa rất quan
luật kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên, vấn đề công nhận và thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chưa được nghiên cứu một cách hệ
thống.
Trong thời gian từ năm 1980 đến nay Nhà nước ta đã ký được 15 hiệp
định tương trợ tư pháp trong đó có qui định thực hiện tương trợ về vấn đề
công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại
Việt Nam và ngược lại. Để thực hiện các hiệp định này, pháp luật quốc gia có
những qui định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành công nhận và thi
hành bán án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam. Trước
khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, vấn đề công nhận và thi
hành quyết định của Tòa án nước ngoài được qui định tại Pháp lệnh về công
nhận và thi hành quyết định của Tòa án nước ngoài năm 1993. Khi Bộ luật tố
tụng dân sự 2004 có hiệu lực thì đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng nhằm bảo bệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
công dân, pháp nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi tranh
chấp đó được Tòa án nước ngoài giải quyết. Tuy nhiên, việc áp dụng các qui
định trong các văn bản kể trên về việc công nhận và thi hành bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu có hệ thống vấn đề công nhận và thi
hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam vẫn
đang là một nhu cầu bức xúc trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng đòi hỏi
cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. 4
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, tác giả đã lựa chọn: "Vấn đề về
công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài" làm đề tài luận văn cao học của mình.
- Chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện quá trình công
nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công
nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài.
6. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài công nhận và thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài
Luận văn có một số ý nghĩa thực tiễn sau:
- Góp phần làm rõ hơn các cơ sở lý luận của việc công nhận và thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
- Có giá trị tham khảo đối với các cơ quan lập pháp trong quá trình
hoàn thiện pháp luật về việc công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài.
- Có giá trị tham khảo đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp trong
hoạt động công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài.
- Có giá trị tham khảo cho giảng dạy và học tập chuyên đề về việc
công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài.
- Có giá trị nâng cao kiến thức và tri thức của các cá nhân và pháp
nhân Việt Nam cũng như nước ngoài về việc công nhận và thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 9 mục. 6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƢỚC NGOÀI
tế, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình… ngày càng đa dạng và phong
phú. Từ đó đòi hỏi các qui phạm pháp luật của tư pháp quốc tế ngày càng
được hoàn thiện và điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh trong
quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế, đó là các quan hệ xã
hội mang tính dân sự có yếu tố nước ngoài.
Vấn đề công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài được các quốc gia đặc biệt quan tâm và không ngừng hoàn thiện
các quy định pháp luật về vấn đề này. Xét về bản chất, việc công nhận và thi
hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền của
cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia và tuân theo trình tự, thủ tục đặc biệt, nhân
danh cho nhà nước mình để xem xét công nhận và thi hành một bản án, quyết
định của Tòa án nước ngoài, tức là mang tính quyền lực của quốc gia đó cho
phép bản án, quyết định được thực thi trên lãnh thổ của quốc gia mình.
Sở dĩ đặt vấn đề về công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài là do sự phát triển giao lưu dân sự quốc tế làm cho
vụ việc, án kiện dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Những bản án,
quyết định dân sự cần phải được thực hiện ở nước ngoài hoặc đối tượng của
vụ tranh chấp là tài sản đang ở nước ngoài, nếu nước ngoài hữu quan không
công nhận thì không thể thi hành được bản án, quyết định dân sự đó. Nếu bản
án, quyết định dân sự không được thi hành thì lợi ích chính đáng của các bên
đương sự không được bảo vệ và ảnh hưởng đến quá trình ổn định và phát
triển các quan hệ giao lưu dân sự quốc tế.
Thực tiễn tư pháp trong nhiều năm qua đã chứng minh rằng muốn đẩy
mạnh quan hệ kinh tế, buôn bán quốc tế, để thu lợi nhuận, các nước muốn bảo
vệ lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân của nhà nước mình thì cũng 8
phải tôn trọng và bảo vệ lợi ích của công dân, pháp nhân của nhà nước nước
ngoài. Muốn làm được việc đó thì việc xem xét công nhận và thi hành bản án,
nghĩa vụ của các bên đương sự trong bản án ở mức độ như bản án, quyết định
do Tòa án nước mình tuyên. Việc công nhận và thi hành các bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài là thể hiện thái độ của nhà nước hữu quan
đối với quá trình xét xử và tính hệ quả của quá trình đó sẽ được áp dụng ở
nước mình. Việc thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài sau khi được công nhận sẽ được áp dụng theo một quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền sẽ như là một bản án, quyết định của Tòa án
trong nước và tuân theo pháp luật thi hành của quốc gia có tòa án xem xét và
công nhận. Như vậy, xét về mặt hình thức thì bản án, quyết định dân sự của
Tòa án ngoài sau khi được công nhận và thi hành sẽ như là bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước sở tại.
Rõ ràng sự thay đổi khách quan các quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng
về chủ thể, khách thể, tính chất về quyền và nghĩa vụ của bên theo hướng tự
do ý chí, bình đẳng thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm về tài sản đã không còn
tiêu chí để phân biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự, tiêu chí của hợp
đồng cũng tương tự, những ngành luật này đều có nội dung bản chất pháp lý -
tính tự nguyện, bình đẳng thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm về tài sản và
chính những đặc điểm chung này của bản chất pháp lý, những quan hệ pháp
luật với nội dung là cơ sở cho một hình thức tố tụng gọi chung là "tố tụng dân
sự" và tất nhiên đối với mỗi loại bản án thì sẽ có những nguyên tắc, thủ tục
riêng là do đặc trưng của ngành luật đó.
Ở các quốc gia khác nhau có cách hiểu về luật dân sự không giống
nhau. Có quốc gia chỉ phân chia hệ thống pháp luật của mình ra làm hai bộ
phận là Luật công và Luật tư. Luật công là Luật điều chỉnh những quan hệ
liên quan tới công quyền (một bên là đại diện cho nhà nước). Đó là luật bao
gồm Luật nhà nước, Luật hành chính, Luật hình sự. Luật tư là là Luật điều
chỉnh các quan hệ không liên quan tới công quyền (các bên đều là cá nhân,
pháp nhân; trong trường hợp nếu một bên là cơ quan nhà nước tham gia thì
chúng có thể vì thế mà không được công nhận và thi hành. 11
Vấn đề tiếp theo là quyết định dân sự nào của Tòa án nước ngoài được
coi là bản án dân sự, quyết định dân sự nào của Tòa án nước ngoài được coi là
"quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài" (?). Trong quá trình giải quyết
tranh chấp dân sự hoặc các yêu cầu dân sự của cá nhân, pháp nhân, Tòa án
nước ngoài cũng như Tòa án quốc gia sở tại có thể đưa ra các quyết định khác
nhau (ví dụ: quyết định đình chỉ vụ kiện, quyết định áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời, quyết định về thực chất vụ việc ) Vậy bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài ở đây là các quyết định nào (?). Theo chúng tôi,
việc công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài ở đây cần được hiểu là các quyết định dân sự về thực chất vụ việc. Vấn
đề tiếp theo là quyết định dân sự nào trong số quyết định ấy được coi là "bản
án", quyết định nào - "quyết định". Theo quan điểm chung, khi Tòa án giải
quyết các tranh chấp mang tính chất dân sự giữa các bên đương sự, phán
quyết cuối cùng về thực chất vụ việc mà Tòa án nước ngoài đưa ra được gọi
là bản án dân sự của Tòa án nước ngoài (ví dụ, các phán quyết về các tranh
chấp dân sự như: về quyền sở hữu, hợp đồng dân sự, sở hữu trí tuệ, thừa kế,
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ). Khi Tòa án giải quyết các yêu cầu dân
sự, quyết định cuối cùng về thực chất vụ việc mà Tòa án nước ngoài đưa ra
được gọi là quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài (ví dụ, quyết định về
hạn chế năng lực hành vi dân sự, quyết định tuyên bố một người mất tích ).
Bản án dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án được tuyên ngoài lãnh
thổ của nước được yêu cầu công nhận; bản án dân sự của Tòa án nước ngoài
là kết quả của quá trình giải quyết một vụ án dân sự tuân theo trình tự tố tụng
dân sự do pháp luật nước tuyên bản án qui định.
Quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là quyết định được tuyên
ngoài lãnh thổ nước được yêu cầu công nhận. Quyết định dân sự của Tòa án
pháp nhân của các nước khác. Điều đó đã làm cho các vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài rất phát triển. Các bản án, quyết định dân sự đó cần được thi
hành khi người phải thi hành cứ trú hoặc làm việc hoặc nơi có tài sản liên
quan đến thi hành án là pháp nhân có trụ sở chính ở nước ngoài (trừ trường
pháp luật có qui định khác). 13
Do vậy, nếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tuyên
có hiệu lực, song không được thi hành trên thực tế thì quyết định ấy sẽ trở nên
vô nghĩa, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Như vậy chúng
ta có thể không những không bảo vệ được quyền lợi và lợi ích của đương sự,
không bảo vệ được lợi ích của nhà nước mà còn không phát triển được các
quan hệ dân sự quốc tế trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay. Nếu điều đó xảy
ra chúng ta phải chấp nhận một thực tế xã hội: có vi phạm pháp luật nhưng
không bị xử lý, không làm phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi cho các chủ thể
của các xử sự đó. Sự mất an toàn pháp lý này sẽ kìm hãm các quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng) phát triển.
Việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài là ý chí của một quốc gia có chủ quyền. Theo lý luận của Công
pháp quốc tế, không một quốc gia nào hay tổ chức quốc tế nào có thể ép buộc
một quốc gia có chủ quyền phải công nhận và thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài trên lãnh thổ của mình. Nhưng xét trên bình diện
quốc tế, tại Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về
nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác
giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, thì các quốc gia -
Chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật quốc tế hiện đại - phải có nghĩa vụ hợp
tác với nhau mà trong đó có sự hợp tác về pháp luật nhằm đấu tranh, đẩy lùi
các hành vi vi phạm pháp luật. Hơn thế, cũng xuất phát từ nguyên tắc bình
đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, quốc gia có thể vì mục đích của mình
của nước được yêu cầu công nhận xem xét.
Theo qui định của hầu hết các nước trên thế giới đều có những qui
định sau:
Thứ nhất, đối với yêu cầu công nhận và thi hành, là người được thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu người phải thi hành cư trú tại
nước được yêu cầu công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc 15
tài sản có liên quan đến việc thi hành có tại nước được yêu cầu công nhận bản
án, quyết định vào thời điểm cơ quan có thẩm quyền nhận đơn yêu cầu.
Thứ hai, đối với yêu cầu không công nhận những bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại nước được yêu cầu công
nhận là đương sự, người có lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện
hợp pháp của họ.
Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài phải có những nội dung sau:
- Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành
hoặc người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi hành là pháp
nhân thì phải ghi tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của pháp nhân đó;
- Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành
án; nếu người phải thi hành án là pháp nhân thì ghi tên gọi đầy đủ và địa chỉ
trụ sở chính của pháp nhân đó. Trong trường hợp người phải thi hành không
cư trú hoặc làm việc tại nước được yêu cầu công nhận hoặc pháp nhân không
có trụ sở chính tại nước được yêu cầu công nhận thì phải ghi rõ địa chỉ nơi có
tài sản liên quan đến việc thi hành tại nước được yêu cầu công nhận bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài.
- Nội dung yêu cầu của người được thi hành. Trong trường hợp bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần thì phải ghi
rõ phần đã được thi hành và phần còn lại phải thi hành tiếp.
trên thực tế khi có hiệu lực pháp luật. Đây là điều kiện được qui định trong
pháp luật của nhiều quốc gia. Bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
thì chưa có tính chất bắt buộc các bên có quyền và nghĩa vụ phải chấp hành.
Khi bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được yêu cầu công nhận
tại một nước khác thì nước được yêu cầu công nhận chỉ công nhận bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật của nước đã tuyên. Bởi nếu
một bản án, quyết định không có hiệu lực pháp luật tại nước đã tuyên thì ngay 17
cả việc được chấp hành tại nước đó cũng không được công nhận làm sao thể
được công nhận tại nước ngoài. Điều kiện này đưa ra nhằm tôn trọng qui định
pháp luật nước ngoài, tuân thủ nguyên tắc Luật quốc tế.
Ví dụ: Pháp luật nước nước Anh qui định các bản án, quyết định dân
sự muốn được đăng ký tại Tòa án Tối cao của Vương quốc Anh ở Luân Đôn
phải bảo đảm một số yêu cầu nhất định trong đó có qui định: bản án, quyết
định dân sự đó phải có hiệu lực pháp luật theo quyết định của nước đã tuyên;
Trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước Đông Âu với
nhau hay giữa các nước Đông Âu với Nga cũng có qui định về điều kiện công
nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong đó có
ghi nhận: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đó phải có hiệu
lực theo pháp luật của nước đã tuyên
- Tòa án nước ngoài là Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp theo
pháp luật của nước nơi bản án, quyết định dân sự đó được yêu cầu công nhận;
Mỗi vụ việc, tranh chấp xảy ra được giải quyết tại Tòa án có thẩm
quyền theo qui định của pháp luật từng nước. Chẳng hạn, tranh chấp về bất
động sản thì Tòa án nơi có bất động sản là cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
Việc xác định thẩm quyền giữa các Tòa án tránh được sự chồng chéo
trong việc thực hiện giữa các Tòa án, giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các
vụ việc dân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo
Chủ quyền quốc gia là một quyền tối thượng của mỗi quốc gia mà
theo Luật quốc tế các quốc gia khác có nghĩa vụ phải tôn trọng. Một bản án
hay quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không thể được công nhận khi
nó đi ngược lại pháp luật và trật tự công cộng tại nước được yêu cầu công
nhận. Pháp luật quốc gia và trật tự công cộng chính là nguyên tắc cơ bản của
mỗi quốc gia là nền tảng của pháp luật quốc gia nên việc công nhận một bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài trái với pháp luật và trật tự công cộng
nơi được yêu cầu công nhận là trái với nguyên tắc cơ bản của quốc gia nó sẽ
gây hậu quả xấu đối chính quốc gia công nhận. Chính vì thế đây là điều kiện 19
không thể thiếu trong qui định pháp luật của các quốc gia như Anh, Pháp,
Đức, Mỹ, các nước Đông Âu
1.2.3. Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề công nhận
và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc ngoài
1.2.3.1. Công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài tại Anh và xứ Wales [47]
Điểm đầu tiên trong việc quyết định một bản án của nước ngoài có thể
có hiệu lực tại Anh hay không là phải xem xét bản án đó có phải là của nước
là thành viên của công ước Bruxelles hoặc công ước Lugano (gọi tắt là Công
ước) hay một công ước khác hay không.
Theo các Công ước Bruxelles và Lugano và đạo luật về quyền tài
phán dân sự và bản án năm 1982, trừ một số trường hợp ngoại lệ nhất định.
Một bản án được ban hành ở bất kỳ một nước nào là thành viên của Công ước
có thể có hiệu lực tại bất kỳ một nước thành viên khác của công ước. Một bản
án phải là quyết định của một tòa án và có thể là một phán quyết về việc đền
bù chi phí. Các bản án tạm thời cũng có thể có hiệu lực, kể cả lệnh của Tòa án
hiện hành thông báo cho tất cả các bên. Các công ước đã được thể chế hóa
thành Luật pháp của nước Anh bởi đạo luật về quyền tài phán dân sự và bản
tố trong thời gian chuẩn bị bào chữa của mình; bản án mâu thuẫn với một bản
án giữa cùng các bên được đưa ra ở nước Anh hay ở xứ Wales hay ở bất kỳ
một nước thành viên nào của Công ước và bản án đó có thể được công nhận ở
nước Anh; bản án có liên quan đến thu nhập, thuế quan, hay các vấn đề hành
chính, tình hình hoặc khả năng pháp lý của con người, các quyền đối với tài
sản phát sinh từ việc kết hôn, di chúc và thừa kế, phá sản hoặc không có khả
năng trả nợ, an ninh xã hội, hoặc việc xét xử của trọng tài. Nếu nước ra bản án
không phải là một bên ký kết của cả hai Công ước thì người ta phải xem xét
có một thỏa thuận song phương theo đạo luật hành chính tư pháp năm 1920
(gọi tắt là Đạo luật năm 1920), các nước tham gia ký kết thỏa thuận song