Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài và việc thực hiện tại Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ ANH THƯ
C Ô N G ƯỚC X V M Y O R K XĂM 1 9 5 8
VỂ CÔXG M l Ị v v à t i u h à m
I 'I L Í \ ({1 1 KI I1 ỈỌ \< ; 'IÀI M ( k KGOÀI
VÀ VIỆC THƯC (I 1 ỆA T Ạ I V IỆT »TAM
• • • • •
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 50512
NGƯỜI HƯÓNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN bá DlẾN
I , r Ị \ VĂX THAC SỶ LUẬT HỌC
• • • •
ĐA> MQC: Q u ố c GỈA HÀ NỎI
TRuKGTaM THCNOTiN .TUƯ VIỆN
u~ \ Í - I C / M
Hà Nội, 11/2002
MỤC LỤC
chương I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỂ CÔNG NHẬN
VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
J J Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong
thương mại quốc tế
1.2. Phán quyết trọng tài về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
1.3. Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
1.4. Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài trên thế giới
chương II
CÔNG ƯỚC NEW YORK NĂM 1958 VỀ CÔNG NHẬN VÀ
THI HÀNH CÁC PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

60
62
64
79
90
100
102
Trang
104
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
PHẨN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, quá trình quốc tê hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ làm cho giao lưu
kinh tế - thương mại giữa các quốc gia với nhau, giữa cá nhân, tổ chức của quốc gia
này với cá nhân, tổ chức của quốc gia khác ngày càng phát triển. Cùng với sự phát
triển giao lưu kinh tế - thương mại mang tính chất quốc tế, những hình thức giải
quyết tranh chấp kinh tế - thương mại bằng tổ chức trọng tài phi chính phủ ngày
càng được các bên áp dụng rộng rãi. VI vậy, vấn đề công nhận và thi hành các phán
quyết trọng tài nước ngoài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương
sự trong tranh chấp thương mại quốc tê đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần
nghiên cứu xem xét.
Ngày 10/06/1958 tại New York, Công ước về công nhận và thi hành các phán
quyết của trọng tài nước ngoài đã được các quốc gia ký kết. Đây là văn bản pháp lý
quốc tế rất quan trọng, là cơ sở pháp lý quốc tế để thực hiện công nhận và thi hành
các phán quyết của trọng tài nước ngoài ở các quốc gia thành viên Công ước. Việt
Nam đã trở thành thành viên của Công ước này từ năm 1995 và vào ngày
14/09/1995, Uỷ han thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục công nhận
và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài. Các văn bản pháp luật
liên quan của Việt Nam cùng với Công ước New York năm 1958 là những cơ sở

tại Việt Nam quyết định của trọng tài (Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 6/2000); ý nghĩa của việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài ở Việt Nam (Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
11/1997); Về mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài trong việc bảo đảm hiệu quả
giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài (Dương Thanh Mai, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 12/1997); Giáo trình Tư pháp quốc tế, khoa Luật Đại học Quốc gia
năm 2001 Tuy vậy, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập ở những khía cạnh
nhất định còn đề cập một cách toàn diện về Công ước New York 1958 và việc thực
hiện Công ước này tại Việt Nam cho đến nay chưa được nghiên cứu đầy đủ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung, nghiên cứu các nội dung
cơ bản của Công ước New York 1958, các quy định hiện hành của Pháp luật Việi
Nam về công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài, đề xuất cát
luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công nhận và thi hành cá<
2
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
phán quyết của trọng tài nước ngoài. Đề tài cũng nghiên cứu thực trạng của pháp
luật hiện hành Việt Nam để từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm góp phần
hoàn thiện Pháp luật Việt Nam về cồng nhận và thi hành các phán quyết trọng tài
nước ngoài.
- Nhiệm vụ: Đề tài nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn để cơ bản sau:
+ Những vấn đề chung về công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài nước
ngoài theo Công ước New York 1958.
+ Những vấn đề về việc công nhận cho thi hành phán quyết trọng tài nước
ngoài theo pháp luật một số nước.
+ Những vấn đề về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam và một số đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt
Nam.
4. Đòi tượng và phương pháp nghiên cứu đề tài

hoạt động thương mại quốc tế của các cá nhân, tổ chức.
7. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm:
-
Phần mở đầu
- Phẩn nội dung:
+ Chương 1: Khái quát chung về vấn đề công nhận và thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài.
+ Chương 2: Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các
phán quyết của trọng tài nước ngoài.
+ Chương 3: Công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài ở
Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện.
-
Phần kết luận
4
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỂ VẤN ĐỂ CÔNG NHẬN
VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
1.1. c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP b ằn g t r ọn g tài
TRONG THUƠNG MẠI ọ u ố c TẾ
1.1.1 Khái niệm trọng tài trong thương mại quốc tẽ
Trong thương mại nói chung và trong thương mại quốc tế nói riêng khó có thể
tránh khỏi tranh chấp xảy ra. Mỗi khi tranh chấp thương mại xảy ra thì cần phải
được giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự, góp phần
thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển. Có nhiều phương thức khác nhau để giải
quyết tranh chấp thương mại như thương lượng, hoà giải, trọng tài và toà án. Trong
các phương thức giải quyết tranh chấp đó thì trọng tài là một phương thức giải quyết
tranh chấp có nhiều ưu điểm và phổ biến nhất hiện nay.

Cho đến hiện nay, xung quanh phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có
rất nhiều vấn đề, thể hiện sự phát triển, tính đa dạng và phức tạp của nó như: Thoả
thuận trọng tài, lựa chọn trọng tài, luật áp dụng cho trọng tài, quy tắc tố tụng trọng
tài, hiệu lực của phán quyết trọng tài, công nhận và thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài
Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải xuất phát từ sự thoả thuận của
các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp thoả thuận về việc đưa tranh chấp ra giải
quyết bằng trọng tài, trong đó có những thoả thuận cụ thể về cơ quan trọng tài, thẩm
quyền trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài, luật áp dụng cho trọng tài. Vì thế phương
thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trước hết phụ thuộc vào ý chí của các bên
tranh chấp còn phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án thì khác ở nhiều điểm,
bởi vì, toà án là cơ quan công quyền, thẩm quyền và thủ tục tố tụng của toà án được
quy định rõ trong luật của nước có toà án, các bên tranh chấp không có quyền thoả
thuận thủ tục tố tụng để toà án giải quyết tranh chấp
Trọng tài giải quyết tranh chấp trong thương mại là trọng tài phi chính phủ,
mang tính chất tư nhân mà không phải là công quyền. Thế nhưng nhiệm vụ, hoạt
động giải quyết tranh chấp của trọng tài có bản chất tài phán, xét xử. Cơ quan trọng
tài, trọng tài viên tuy do các bên tranh chấp thoả thuận lựa chọn nhưng khi giải
quyết tranh chấp, trọng tài viên phải công bằng để xác định phải trái giữa các bêr
6
Luận văn Thạc sỹ L uật học Nguyễn Thị Anh Thư
theo một thủ tục tố tụng rõ ràng, chặt chẽ và phán quyết của trọng tài có hiệu lực bắt
buộc đối với các bên tranh chấp.
* Trọng tài trong thương mại quốc tế:
Trọng tài thương mại quốc tế được hiểu "là phương thúc giải quyết tranh chấp
phát sinh từ các quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là các quan hệ thương mại quốc tế mà
pháp luật cho phép giải quyết được bằng trọng tài. Theo phương thức này, các bên
nhất trí thoả thuận với nhau là sẽ đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan
trọng tài nhất định nào đó"[l, tr. 378].
Cùng với sự phát triển quan hệ thương mại quốc tế, thì việc giải quyết tranh

- Trọng tài xét xử thường là một trọng tài viên duy nhất do các bên thoả
thuận lựa chọn.
Trọng tài vụ việc có những ưu điểm là tổ chức trọng tài gọn nhẹ, hoạt động xét
xử linh hoạt, thời gian xét xử thường ngắn, chi phí xét xử thấp và khả năng bảo đảm
bí mật kinh doanh tốt. Thoả thuận chọn trọng tài vụ việc “thông thường là phù hợp
với tính chất và điều kiện cụ thể của tranh chấp hon là trọng tài thường trực”[6, tr. 55].
Bên cạnh những ưu điểm, trọng tài vụ việc có những nhược điểm là: không có
một quy tắc xét xử được định trước nên đòi hỏi sự thiện chí hợp tác của các bên để
xây dựng quy tắc xét xử, trong khi đó vấn đề này thường không phải khi nào cũng dễ
thực hiện nhất là đối với bên vi phạm hợp đồng khi tổ chức thực hiện. Trọng tài vụ
việc thường phụ thuộc vào hệ thống pháp luật nơi xét xử trọng tài; danh tiếng của
trọng tài vụ việc thường thấp so với trọng tài thường trực nên có ảnh hưởng đến việc
thi hành phán quyết trọng tài, nhất là việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài
ở nước ngoài.
* Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế):
Hình thức trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động thường xuyên, có
trụ sở cố định, có điều lệ và quy tắc xét xử riêng được xác định trước. Trọng tài
thường trực có đặc điểm là:
- Có tính tổ chức có chủ tịch, thư ký và các trọng tài viên;
- Hoạt động thường xuyên, không phụ thuộc vào một vụ tranh chấp nào đó;
- Có trụ sở cố định;
- Điều lệ và quy tắc xét xử được xây dựng trước cho trọng tài;
- Trọng tài xét xử có thể là một trọng tài viên duy nhất do các bên tranh chấp
lựa chọn hoặc ba trọng tài viên (trong trường hợp này mỗi bên tranh chấp lựa chọn
8
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
cho mình một trọng tài viên, hai trọng tài viên được chọn sẽ chọn trọng tài viên thứ
ba, nếu không chọn được trọng tài viên thứ ba thì chủ tịch cơ quan trọng tài sẽ chỉ
định) [11].

Thứ hai, phán quyết của trọng tài thường khách quan, có độ chính xác và tin
cậy cao.
Đặc điểm này xuất phát từ lý do: phán quyết của trọng tài được đưa ra bởi
các trọng tài viên là những chuyên gia am hiểu sâu về lĩnh vực mà các bên có
tranh chấp; đồng thời các trọng tài viên phải luôn cố gắng giải quyết chính xác,
khách quan tranh chấp để tạo uy tín và độ tin cậy thì mới hy vọng được các bên
tranh chấp lựa chọn làm trọng tài viên giải quyết.
Thứ ba, khả năng giữ chữ tín và bí mật kinh doanh cao.
Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhất thiết phải có sự thoả thuận
của các bên tranh chấp. Điều này nói lên rằng có sự đồng thuận của các bên
tranh chấp, hạn chế những bất đồng, tranh cãi vô bổ. Hơn nữa, khi trọng tài xét
xử tranh chấp không được tiến hành công khai mà phải xử kín (trừ trường hợp có
sự đồng ý của các bên tranh chấp). Đó là vấn đề mà các bèn tham gia quan hệ
thương mại rất mong muốn. Nó giúp cho các bên giữ chữ tín và bí mật kính
doanh, trong khi đó việc giải quyết tranh chấp bằng toà án mang tính chất tranh
tụng gay gắt và toà án xét xử công khai làm cho việc giữ chữ tín và bí mật kinh
doanh của các bên tranh chấp không được đảm bảo.
Thứ tư, chi phí trọng tài thường ít tốn kém.
Do thủ tục tô' tụng trọng tài đơn giản, nên chi phí trọng tài thường ít tốn
kém so với chi phí kiện tụng trước toà án. Khi đưa tranh chấp ra giải quyết trước
toà án, các bên tranh chấp rất có thể phải theo kiện ở nhiều cấp xét xử của toà án
làm cho các bên mất nhiều công sức và tiền của. Đây là điều mà các bên tham
gia quan hệ thương mại không mong muốn.
1.1.2. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp thương
mại quỏc tê bằng trọng tài
1.1.2.1. Sự cần thiết giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài
Khi thương mại quốc tê xuất hiện và phát triển, nhất là trong điều kiện hiện
nay, quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, thương mại diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi phải
có những hình thức giải quyết tranh chấp thích hợp. Trọng tài là một hình thức

- Khi giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại toà án của một quốc gia,
nhà kinh doanh nước ngoài rất có thể phải đến một đất nước xa xôi, ở đó những
thẩm phán xét xử với những quy tắc tố tụng của toà án xa lạ và không quen
11
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
thuộc với họ. Điều này cũng tạo ra tâm lý e ngại cho các nhà kinh doanh.
- Khi giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại toà án của một quốc gia
nhà kinh doanh nước ngoài rất có thể phải theo kiện với một thời gian dài do
phán quyết của toà án bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám
đốc thẩm hết sức phức tạp.
- Khi giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án của một quốc gia, nhà
kinh doanh phải công khai trước toà án, việc xét xử được thực hiện công khai
làm cho uy tín và bí mật kinh doanh của các nhà kinh doanh bị ảnh hưởng.
- Việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng toà án rất dễ dẫn đến
xung đột về thẩm quyền xét xử. Bởi vì, mỗi quốc gia tự quy định pháp luật của
mình bằng thẩm quyền của toà án nước mình xét xử tranh chấp thương mại quốc
tế. Điều này làm cho "cùng một vụ tranh chấp lại thuộc thẩm quyền toà án của
nhiều nước và không một toà án nào trong số đó lại chịu chối từ giải quyết vụ
tranh chấp ”[10, tr. 18].Vấn đề này dẫn đến hệ quả là khi cần công nhận và thi
hành phán quyết của toà án ở nước ngoài thì gặp rất nhiều khó khăn. Đối với
việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, điều rất đặc biệt là không bao giờ xuất
hiện xung đột về thẩm quyền xét xử trọng tài, vì trọng tài xét xử phải có sự thoả
thuận lựa chọn của các bên tranh chấp.
Việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế với những đặc điểm, ưu thế
của nó (đã được trình bầy trong phần 1.1.1.) sẽ khắc phục được những điểm bất
cập khi giải quyết tranh chấp bằng toà án. Đó là điều mà các nhà kinh doanh rất
mong muốn khi tham gia quan hệ thương mại quốc tế.
Như vậy, những lý do trình bầy trên cho chúng ta khẳng định rằng, việc
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tê bằng trọng tài là cần thiết khách quan

quốc tế, góp phẩn thúc đẩy sự phát triển quan hệ thương mại quốc tế.
Các bên chủ thể tham gia quan hệ thương mại quốc tế rất mong muốn có sự
yên tâm, tin cậy khi thiết lập quan hệ giao dịch thương mại, thực hiện các giao
dịch đó cũng như khi giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp thương mại xảy ra.
Sự yên tâm, tin cậy có tác dụng thu hút ngày càng nhiều các cá nhân, tổ chức
tham gia quan hệ thương mại quốc tế. Phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế bằng trọng tài với những ưu điểm của nó làm cho các bên tranh chấp
yên tâm, tin tưởng để giao phó những vấn đề thuộc về lợi ích của mình cho trọng
tài phân xử. Vì trách nhiệm và uy tín của mình, trọng tài viên phải luôn luôn cố
13
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
gắng để giải quyết tranh chấp được chính xác, khách quan và công bằng. Những
điều đó càng làm tăng thêm sự yên tâm, tin tưởng của các bên tham gia quan hệ
thương mại quốc tê và nó cũng góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ thương
mại quốc tế phát triển.
1.2. PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ
1.2.1 Khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài
Giai đoạn tô' tụng trọng tài quan trọng nhất là ra phán quyết trọng tài. Các
giai đoạn tố tụng trọng tài (đưa đơn kiện, mở phiên toà, nghe các bên trình bày,
xét xử ) đều hướng tới, phục vụ cho việc ra phán quyết trọng tài. Phán quyết
trọng tài chứa đựng trong đó nội dung quan trọng nhất là quyết định cuối cùng
về phân xử tranh chấp, xác định ai thắng, ai thua kiện, thua kiện thì phải bồi
thường như thế nào, với giá trị là bao nhiêu Phán quyết trọng tài là chung thẩm
và có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có nghĩa vụ
phải thi hành phán quyết trọng tài mà không có quyền kháng cáo.
Như vậy, phán quyết trọng tài có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Để có
được ý nghĩa quan trọng đó, phán quyết trọng tài nói chung và phán quyết trọng
tài nước ngoài nói riêng phải đảm bảo những yêu cầu sau:

tranh chấp).
* Hình thức của phán quyết: Phán quyết trọng tài phải được lập thành văn
bản, ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm tuyên phán quyết và phải có chữ ký của
các trọng tài viên. Trong trường hợp một trọng tài khước từ ký vào phán quyết
thì hai trọng tài viên còn lại xác nhận sự khước từ đó và ký vào phán quyết. Đó
là những cơ sở để đảm bảo sự tồn tại và hiệu lực của phán quyết trọng tài.
Thông thường phán quyết trọng tài gồm ba phần:
- Phần thứ nhất: Trình bày yêu cầu của các bên;
- Phần thứ hai: Lý giải, lập luận của trọng tài;
- Phần thứ ba: Quyết định của trọng tài về phần xử tranh chấp.
* Nội dung của phán quyết phải được thể hiện rõ ràng cụ thể, trong đó ghi
rõ trách nhiệm của bên chủ thể vi phạm, quyền của bên chủ thể bị vi phạm. Nội
dung của phán quyết không thể bị sửa chữa (trừ trường hợp có sai sót), không
chịu bất cứ sự giám sát nào và không thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Phán quyết trọng tài phải bảo đảm những yêu cầu đó. Phán quyết trọng tài
15
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
CÓ hai loại: Phán quyết trọng tài trong nước và phán quyết trọng tài nước ngoài.
Phán quyết trọng tài trong nước là phán quyết do trọng tài trong nước tuyên tại
lãnh thổ của nước có trọng tài đó. Vậy thế nào là phán quyết trọng tài nước
ngoài. Về mặt thuật ngữ, “phán quyết” có nghĩa là “quyết định được thông qua
bởi xét xử” (vì phán có nghĩa là xử). Điều này muốn nói rằng, phán quyết là
quyết định cuối cùng về giải quyết tranh chấp, trong đó chỉ ra bên thắng kiện,
bên thua kiện, trách nhiệm của bên thua kiện. Tuy nhiên, mặt thuật ngữ “phán
quyết” không được sử dụng thống nhất. Có khi người ta sử dụng thuật ngữ
“quyết định" của trọng tài. Thuật ngữ “quyết định” của trọng tài có nghĩa rộng
gồm có: Quyết định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định về việc đưa
vụ tranh chấp ra xét xử; quyết định về giải quyết tranh chấp (quyết định về phân
xử tranh chấp - phán quyết). Vì vậy, khi nói “quyết định của trọng tài” (về giải

Như vậy, phán quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết của trọng tài về
giải quyết tranh chấp thương mại được tuyên ở ngoài lãnh thổ của quốc gia hữu
quan (nơi phán quyết cần được công nhận và thi hành) hoặc được luyên tại lãnh
thổ của quốc gia hữu quan nhưng không phải do trọng tài của quốc gia đó tuyên.
1.2.2. Đặc điểm của phán quyết trọng tài nước ngoài về giải quyết
tranh chãp thương mại quốc tê
Phán quyết trọng tài nước ngoài về giải quyết tranh chấp thương mại quốc
tế có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, phán quyết được tuyên ở nước ngoài hoặc được tuyên ở trong
nước nhưng do trọng tài nước ngoài tuyên (gồm cả trọng tài quốc tế). Phán quyết
được tuyên ở nước ngoài là do trọng tài của các nước ngoài tuyên hoặc do trọng
tài quốc tế tuyên ở nước ngoài. Hiện nay, các nước có nền kinh tế thị trường đều
thành lập trọng tài phi chính phủ để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
VI vậy, có rất nhiều cơ quan trọng tài mà phán quyết của nó được gọi là phán
quyết trọng tài nước ngoài.
Trường hợp phán quyết trọng tài được tuyên ở trong nước cũng được coi là
phán quyết trọng tài nước ngoài nếu do trọng tài nước ngoài hoặc trọng tài quốc
tế tuyên. Sở dĩ có trường hợp này là do các bôn tranh chấp có quyền lựa chọn địa
điểm xét xử của trọng tài để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp. Pháp
luật của các quốc gia hầu như đều thừa nhận vấn đề này. Đây cũng là một ưu
điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với giải quyết
17
'•lo M ưựM,

- 7



Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư

18
Luận văn Thạc sỹ Luật học
Nguyễn Thị Anh Thư
đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một trong các bên tham gia quan hệ
thương mại. Với vấn đề như vậy, khi có tranh chấp thương mại quốc tế xảy ra,
thì phán quyết của trọng tài về giải quyết tranh chấp cũng liên quan đến các
quốc gia khác nhau. Phán quyết trọng tài trong trường hợp này cũng cần được
thi hành ở quốc gia khác, tức là ở cả quốc gia mà không phải do trọng tài của
quốc gia đó tuyên phán quyết. Tuy nhiên, phán quyết trọng tài của nước này
(nước ngoài) không đương nhiên có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia khác.
Phán quyết nước này trọng tài nước ngoài muốn có hiệu lực thi hành trên lãnh
thổ của quốc gia khác phải được quốc gia đó ra quyết định công nhận và thi
hành.
Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài có các đặc điểm sau
đây:
Thứ nhất, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài thể hiện ý
chí của nhà nirớc (quốc gia) công nhận và thi hành.
Bản thân phán quyết trọng tài chỉ là phán quyết của cơ quan xét xử tư nhân,
không phải là cơ quan công quyền nhà nước, vì vậy không mang ý chí nhà nước.
Phán quyết trọng tài mang ý chí tự nguyện của các bên tranh chấp, do các bên
tranh chấp thoả thuận tự nguyện đưa tranh chấp ra giải quyết bằng phương thức
trọng tài. Khi phán quyết trọng tài được công nhận và thi hành bởi một quốc gia,
thì điều đó có nghĩa là phán quyết đó được khoác lên mình ý chí của nhà nước,
được "nhà nước hoá". Phán quyết trọng tài nước ngoài lúc này được nhà nước
bảo đảm thực hiện.
Thứ hai, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài làm cho
phán quyết trọng tài nước ngoài có giá trị cưỡng chế thi hành.
Như đặc điểm trên đã trình bày, khi phán quyết trọng tài nước ngoài được
công nhận và thi hành, phán quyết đó được khoác lên mình ý chí nhà nước, được
"Nhà nước hoá" và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Vì vậy, nếu bên có nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status