BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
PHAN THIẾT
HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tiến sỹ ĐỒNG NGỌC BA
Hà Nội – 2015
0
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được
công bố tỏ lòng cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Học viên thực hiện Luận văn
MỤC LỤC
Mục
Tiêu đề
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
1
Tính cấp thiết của đề tài
1
2
Tình hình nghiên cứu đề tài
4
3
Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
5
4
1.1.
9
1.1.1. Khái niệm phán quyết Trọng tài thương mại
9
1.1.2. Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của thi hành phán quyết trọng tài
16
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành phán quyết Trọng tài
22
1.2.
Nội dung của pháp luật về thi hành phán quyết trọng tài thương mại
26
1.3.
Khái quát sự phát triển của quy định pháp luật về thi hành phán
27
quyết trọng tài ở Việt Nam
quyết trọng tài
2.1.2. Trường hợp bên phải thi hành phán quyết TTTM không tự nguyện thi
2.2.
hành phán quyết và cũng không yêu cầu hủy phán quyết
49
Thực tiễn thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam
49
2.2.1. Tình hình thi hành phán quyết Trọng tài thương mại
49
2.2.2. Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong
thi hành phán quyết trọng tài thương mại
Kết luận chương II
54
64
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT
3.2.1. Giải pháp nhằm nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo
đức của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi hành phán quyết
74
TTTM
3.2.2. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về thi hành phán
77
quyết TTTM
3.2.3. Giải pháp xã hội hóa hoạt động thi hành phán quyết trọng tài
79
Kết luận chương III
82
KẾT LUẬN CHUNG
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
86
VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG
89
-
Luật trọng tài thương mại
LTM
-
Luật thương mại
LTHADS -
Luật thi hành án dân sự
THADS
-
Thi hành án dân sự
TTTM
-
Trọng tài thương mại
THA
-
trường Thế giới. Tranh chấp trong kinh tế nói chung trong kinh doanh nói riêng là
hệ quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, nó cũng trở nên phong phú hơn về
chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Bởi vậy, yêu cầu phải áp
dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả là
một đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
kinh tế, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường
pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Pháp luật Việt
Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng đã quy định
nhiều hình thức giải quyết tranh chấp như: Thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài,
trong đó Trọng tài là phương thức giải quyết có nhiều ưu việt. Trọng tài thương mại
là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những
nước có nền kinh tế thị trường phát triển, có rất nhiều ưu điểm. Song trên thực tế ở
Việt Nam, con đường giải quyết bằng Trọng tài vẫn chưa được các bên tranh chấp
hướng tới, "chưa hấp dẫn" đối với các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động trong lĩnh
vực thương mại. Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích vấn đề này, nhưng một
trong những nguyên nhân cơ bản đó là pháp luật thi hành quyết định của Trọng tài
hiện nay chưa hợp lý dẫn đến việc hiệu quả thi hành chưa cao. Do vậy, để giải quyết
1
tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường Trọng tài thực sự trở
thành phương thức giải quyết tối ưu cho các bên tranh chấp đòi hỏi các phán quyết
của Trọng tài phải được thực thi một cách nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Điều đó
cũng có nghĩa cần phải có pháp chế quy định thi hành hợp lý về phán quyết của
Trọng tài đạt hiệu quả.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công cuộc đổi mới mà Đảng cộng sản
Việt Nam đã đề ra. Đó là một Nhà nước trong đó vai trò pháp chế được đề cao,
pháp luật được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Pháp chế đòi hỏi cá nhân, cơ quan,
được các cơ quan thi hành án thụ lý không nhiều, hoạt động thi hành phán quyết
Trọng tài cũng không đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân là do trong quá trình tổ chức
thi hành còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc về mặt thể chế, một số điều kiện
đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài cũng
chưa được đảm bảo. Về tư tưởng nhận thức về quyết định của Trọng tài chưa được
hiểu đúng, có ý thức phân biệt đối xử thực thi không như bản án, quyết định của
Toà án; Bởi lẽ: Tổ chức Trọng tài thương mại là tổ chức Xã hội - Nghề nghiệp; Toà
án nhân dân là tổ chức Chính trị - Xã hội nên thực thi quyết định của Trọng tài
không được tôn trọng chấp hành triệt để như một căn bệnh kinh niên nhờn thuốc
chữa.
Khi các tranh chấp xảy ra, các bên lựa chọn Trọng tài làm phương thức giải
quyết và khi phán quyết Trọng tài được ban hành thì phải được thi hành triệt để,
trên thực tế là một đòi hỏi khách quan cần phải được giải quyết kịp thời nhằm phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của
đất nước, đáp ứng nhu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà
nước đã đề ra. Để đạt được điều đó thì việc cần thiết là phải nghiên cứu, rà soát
những quy định của pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở nước
ta hiện nay để sửa đổi, bổ sung những hạn chế, vướng mắc, đồng thời phải xem xét
thực trạng thi hành phán quyết Trọng tài thương mại trong những năm qua để đề
xuất những giải pháp kịp thời nhằm tăng cường và nâng cao tính hiệu quả trong
hoạt động thi hành phán quyết Trọng tài thương mại trong thời gian tới.
Với những lý do trình bày nêu trên, học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật về thi hành
phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam – Một số vấn đề về lý luận và thực
3
tiễn” để làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình, với mong muốn sẽ làm sáng tỏ
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn thi hành các phán quyết của Trọng tài thương mại
tại Việt Nam, qua đó có những đề xuất xây dựng một cơ chế thi hành phán quyết
không còn phù hợp với tình hình thực tế có nhiều thay đổi hiện nay, về cơ bản nó
vẫn bị bỏ ngỏ và như vậy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu cơ sở
lý luận một cách cơ bản và toàn diện về vấn đề pháp luật về thi hành phán quyết của
Trọng tài ở Việt Nam đạt hiệu quả trên thực tế.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là trên cơ sở phân tích, lập luận để làm
rõ một số vấn đề lý luận thực tiễn pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương
mại ở Việt Nam như là một biện pháp để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh; đồng thời phân tích thực trạng quy định
pháp luật hiện hành về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại, thực tiễn pháp
luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay, làm rõ những
nguyên nhân của thực trạng nói trên, những hạn chế, vướng mắc trong quá trình tổ
chức thi hành phán quyết Trọng tài thương mại, đề tài đưa ra một số giải pháp tiếp
tục hoàn thiện pháp luật về thi hành phán quyết Trong tài thương mại và bảo đảm
hiệu quả hoạt động thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Muốn đạt được mục đích nêu trên, Luận văn cần có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm và các đặc điểm của quyết định Trọng tài và
những vấn đề lý luận vững chắc về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại;
- Nghiên cứu pháp luật thi hành phán quyết Trọng tài và các bộ phận hợp
thành cơ chế; Các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành
phán quyết Trọng tài thương mại;
- Nghiên cứu thực trạng thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt
Nam hiện nay, tổng hợp, phân tích pháp luật thực định về thi hành phán quyết của
Trọng tài, tìm hiểu các quy định thi hành phán quyết Trọng tài ở các nước trên thế
giới. Qua đó, đưa ra những kiến nghị về phương hướng hoàn thiện các quy định đó
trong thời gian tới.
5
Trong luận văn, tác giả nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống cơ sở lý
luận pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài, phân tích thực trạng pháp luật về
thi hành phán quyết Trọng tài ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở những phân tích đánh
giá này, kết hợp tham khảo quy định của một số nước trên thế giới về pháp luật về
thi hành phán quyết của Trọng tài, luận văn chỉ ra một số đặc thù của pháp luật về
thi hành phán quyết Trọng tài để qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về thi hành phán quyết Trọng tài, nâng cao hiệu quả pháp luật về thi hành phán
quyết của Trọng tài thương mại tại Việt Nam, đảm bảo các phán quyết của Trọng
tài thương mại được thực thi một cách nghiêm túc trên thực tế.
Luận văn này là một trong những công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp
luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại, đánh giá thực trạng pháp luật về
thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam, phân tích những hạn chế, bất
cập, nguyên nhân những hạn chế bất cập, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam.
Những kết luận và kiến nghị được đưa ra trong luận văn này nhằm góp phần sửa
đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về thi hành phán quyết Trọng tài
thương mại, nâng cao hiệu quả pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương
mại ở Việt Nam. Với kết quả như trên, luận văn có thể được sử dụng như một tài
liệu phục vụ việc học tập và giảng dạy, cũng như tham khảo để hoàn thiện pháp luật
về thi hành phán quyết Trọng tài hiện nay và trong thời gian tiếp theo.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận
văn có nội dung được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:
7
CHƯƠNG I
của VIAC từ 139 lên 141 Trọng tài viên (bao gồm 16 Trọng tài viên nước ngoài),
tăng gần 30% so với năm 2010. Tuy nhiên, bức tranh về Trọng tài thương mại tại
Việt Nam vẫn chưa thật sự khởi sắc khi phương thức này chỉ giải quyết khoảng
11% tổng số tranh chấp thương mại. Năm 2013, Trọng tài ở VIAC giải quyết 99 vụ,
năm 2014 tăng lên 124 vụ, trong đó 41% là vụ việc có yếu tố nước ngoài, vẫn rất
khiêm tốn nếu so với 188 vụ mà Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC)
giải quyết hay như Uỷ ban trọng tài Bắc Kinh là 1.500 vụ.
Nguyên nhân là do những quy định của pháp luât hiện hành còn nhiều thiếu
sót, chồng chéo, chưa rõ ràng cụ thể. Luật trọng tài thương mại năm 2010 mặc dù
đáp ứng phần nào yêu cầu thực tế song sau một thời gian đi vào hoạt động đã bộc lộ
nhiều thiếu sót, bất hợp lý. Chưa kể, thói quen, tập quán của thương nhân Việt Nam
tin tưởng Tòa án hơn Trọng tài. Hơn nữa, trình độ Trọng tài viên ở Việt Nam đều là
những người kiêm nhiệm trong lĩnh vực thương mại. Cho nên, một số Trọng tài
viên còn chưa chuyên nghiệp. Trong khi đó, các tranh chấp thương mại ngày càng
phức tạp, nhất là tranh chấp có yếu tố nước ngoài. (Tạp chí Tài chính số 4 – 2014
bài viết của PGS.TS Trần Thị Lan Hương, Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội)
1.1. Khái niệm pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại
1.1.1. Khái niệm phán quyết Trọng tài thương mại
a. Khái niệm Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại (sau đây viết tắt là TTTM) là một phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại, theo đó các bên tranh chấp thoả thuận đưa tranh
chấp ra trước một Hội đồng trọng tài vụ việc hoặc Trung tâm Trọng tài để giải
quyết và được tiến hành theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật TTTM.
TTTM được phân tích có thể hiểu như sau:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới
nhiều hình thức và ngành nghề đa dạng, phong phú, việc liên kết, hợp tác và cạnh
tranh trong kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến. Bên cạnh những hợp đồng hợp
tác, những giao kết thương mại mang lại lợi ích các bên “thuận buồm xuôi gió”,
nhưng cũng luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh mâu thuẫn, bất đồng dẫn đến các
mại năm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật LTTTM ) quy định “LTTTM là phương thức
giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của
Luật này”. Như vậy, Trọng tài được hiểu là một trong những phương thức giải
quyết tranh chấp do các bên lựa chọn bên cạnh các phương thức giải quyết khác
được pháp luật ghi nhận. Pháp luật về TTTM quy định “TTTM có thẩm quyền giải
10
quyết tất cả các tranh chấp thương mại gồm”: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ
hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên
có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định
được giải quyết bằng Trọng tài (Điều 2, Luật TTTM).
Cũng như ở các nước khác trên thế giới, TTTM Việt Nam cũng là một tổ chức phi
chính phủ có chức năng giải quyết tranh chấp thương mại do các bên tranh chấp
thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Pháp luật về TTTM. TTTM là tổ
chức phi Chính phủ vì:
Thứ nhất, TTTM được thành lập theo sáng kiến của các Trọng tài viên, sau
khi được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứ không phải được
thành lập bởi Nhà nước. Do đó, TTTM là tổ chức Xã hội - Nghề nghiệp, không nằm
trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (như Trọng tài kinh tế nhà nước trước
đây) và cũng không phải là cơ quan tư pháp (như Tòa án kinh tế hiện nay);
Thứ hai, hoạt động của TTTM dựa trên nguyên tắc tự trang trải trên cơ sở
thu phí từ các vụ giải quyết tranh chấp mà không được cấp kinh phí hoạt động từ
ngân sách Nhà nước;
Thứ ba, Trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh
quyền lực Nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết [13, tr. 222].
Khi đã có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại, các bên có
thể lựa chọn các Trung tâm TTTM (gọi là Trọng tài thường trực hay trọng tài quy
chế) hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc (gọi là Trọng tài vụ việc).
cơ quan “tài phán tư” nhưng có sự hỗ trợ của Nhà nước; Trọng tài viên là những
chuyên gia giỏi không chỉ am hiểu pháp luật trong nước mà còn hiểu biết sâu rộng
về luật pháp Quốc tế...
b. Khái niệm phán quyết TTTM
Phán quyết được hiểu là “ra một quyết định có giá trị pháp lý ai cũng phải thực
hiện” [43, tr. 985] hay là “quyết định để mọi người phải tuân theo” [42, tr. 766].
Khi các bên tranh chấp có thoả thuận Trọng tài về việc giải quyết tranh chấp,
Trọng tài sẽ thụ lý để giải quyết theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật về TTTM
quy định. Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp (gọi là tố tụng Trọng tài), TTTM
sẽ đưa ra quyết định giải quyết cuối cùng gọi là phán quyết. Có thể hiểu rằng, phán
quyết là kết quả cuối cùng của một trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định của pháp
luật. Như đã phân tích ở trên thì khi xảy ra tranh chấp, các bên có quyền lựa chọn
phương thức giải quyết khác nhau, đó có thể là Tòa án, Trọng tài hay thương lượng,
hòa giải. Dù lựa chọn bất kỳ phương thức giải quyết nào thì cuối cùng, điều mà các
bên tranh chấp mong muốn nhận được là kết quả giải quyết, ai đúng ai sai hay nói
12
cách khác phải có một phán quyết cuối cùng. Khoản 10, Điều 3 Luật TTTM năm
2010 quy định “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng TTTM giải quyết
toàn bộ vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài buộc các bên tranh chấp phải
thực hiện”.
Về khái niệm phán quyết Trọng tài, trong quá trình tiếp thu các ý kiến góp ý
để chính lý, hoàn thiện Luật TTTM, có ý kiến đề nghị không sử dụng khái niệm
“Phán quyết Trọng tài” mà dùng khái niệm “Quyết định Trọng tài”. Tuy nhiên,
trong Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật TTTM số 320/BCUBTVQH12 ngày 12/5/2010, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, “trong quá
trình tố tụng Trọng tài, Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền ban hành các quyết định
về tố tụng, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định giải quyết
toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Các quyết định nêu
Luật. Điều 61 Luật TTTM năm 2010 quy định rõ về nội dung và hình thức của phán
quyết Trọng tài, cụ thể, phán quyết Trọng tài phải được lập bằng văn bản và có các
nội dung chủ yếu sau đây: Ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết; Tên, địa chỉ
của nguyên đơn và bị đơn; Họ, tên, địa chỉ của Trọng tài viên; Tóm tắt đơn khởi
kiện và các vấn đề tranh chấp; Căn cứ để ra phán quyết, trừ khi các bên có thoả
thuận không cần nêu căn cứ trong phán quyết; Kết quả giải quyết tranh chấp; Thời
hạn thi hành phán quyết; Phân bổ chi phí trọng tài và các chi phí khác có liên quan;
Chữ ký của Trọng tài viên. Trên cơ sở quy định chung về nội dung và hình thức
Phán quyết Trọng tài, mỗi một Trung tâm trọng tài hay một Hội đồng trọng tài vụ
việc có thể có những cách luận giải, trình bày khác nhau nhưng bắt buộc phải tuân
theo quy định chung đó.
Khi phán quyết Trọng tài được đưa ra đồng nghĩa với việc vụ tranh chấp đã được
giải quyết toàn bộ và thủ tục trọng tài chấm dứt. Như vậy, có thể hiểu phán quyết
của Trọng tài là sản phẩm cuối cùng của quá trình tố tụng trọng tài. Với ý nghĩa là
phán quyết của một cơ quan tài phán, phán quyết Trọng tài kết thúc quá trình tố
tụng. Về hình thức, phán quyết Trọng tài tạo ra một sự kiện pháp lý mà theo đó
tranh chấp chấm dứt. Về nội dung, phán quyết Trọng tài đưa ra các kết luận khách
quan về tranh chấp, quy định quyền và nghĩa vụ mà các bên tham gia tranh chấp
phải thực hiện.
Hai là, Phán quyết Trọng tài buộc các bên tranh chấp phải thực hiện.
Một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTTM là “Phán quyết Trọng tài
là chung thẩm” (Khoản 5, Điều 4 Luật TTTM), có nghĩa là sau khi TTTM đưa ra
phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hoặc
một Tòa án nào (trừ trường hợp có đủ bằng chứng cho rằng phán quyết đó có vi
14
phạm pháp luật thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy). Đây là một ưu thế
xuất phát từ bản chất của TTTM. Phán quyết của TTTM là do một chủ thể (Trọng
15
Điều này làm cho phán quyết Trọng tài mang tính chung thẩm và phù hợp với quy
định của pháp luật, tạo điều kiện để tranh chấp được giải quyết một cách nhanh
chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên tranh chấp. Các trường hợp hủy
quyết định của Trọng tài do có sai sót liên quan đến thủ tục tố tụng và rất hiếm khi
xảy ra, do đó giá trị chung thẩm của phán quyết Trọng tài hầu như được đảm bảo.
Tuy nhiên để một phán quyết Trọng tài đạt được tính hiệu lực chung thẩm như trên,
phán quyết Trọng tài phải là kết quả của một quá trình xét xử công minh, vô tư, phải
tuân theo các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và phải được tuyên
bố theo đúng thủ tục ra phán quyết Trọng tài mà pháp luật về TTTM quy định.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Phán quyết TTTM là văn bản có
giá trị pháp lý của Hội đồng TTTM giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp thương mại
giữa các bên tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài buộc các bên tranh chấp
phải thực hiện.
1.1.2. Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của pháp luật về thi hành phán quyết
trọng tài
a. Khái niệm thi hành phán quyết Trọng tài
Cơ quan Tài phán khi ban hành một quyết định, có hiệu lực theo quy định
của pháp luật thì những đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện phải tự giác chấp
hành, đó là điều không phải bàn cãi. Phán quyết Trọng tài là văn bản có giá trị pháp
lý chung thẩm, các bên tranh chấp phải có nghĩa vụ thi hành. Thuật ngữ “thi hành”
có nghĩa là “làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định” [42, tr.
936], nghĩa là một quyết định đã được đưa ra thì phải “làm cho” nó trở thành hiện
thực, không chỉ là lý thuyết suông hay “giấy tờ” không có giá trị. “Có thể nói một
cách hình ảnh thì nếu tố tụng là quá trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý (pháp
luật) thì thi hành pháp luật là quá trình thực thi chân lý bằng công lý. Ở đây chân lý
đã rõ, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, còn thi hành pháp luật là quá trình tiến
hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án, TTTM”
tục do pháp luật quy định.
Thi hành phán quyết Trọng tài là hoạt động diễn ra sau quá trình tố tụng
trọng tài - được kết thúc bằng một phán quyết. Phán quyết trọng tài có giá trị chung
thẩm và đó là cơ sở để tiến hành các hoạt động “thi hành”. Do đó, có thể khẳng định
rằng, không có kết quả của hoạt động tố tụng trọng tài thì không thể có hoạt động
thi hành phán quyết Trọng tài. Song thi hành phán quyết Trọng tài là một dạng hoạt
động hành chính - tư pháp, là hoạt động có tính chấp hành chứ không phải là hoạt
động tố tụng (hình sự, dân sự), bởi vì, xét về mặt bản chất thì tố tụng là xác định sự
thật của vụ việc và khi có phán quyết của Trọng tài là khi sự thật được khẳng định
17
và việc áp dụng pháp luật đã hoàn thành. Nhiệm vụ sau đó là phải thi hành, tức là
“làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định” [42]. Mục đích
cuối cùng của hoạt động thi hành phán quyết Trọng tài là bảo đảm trên thực tế các
nội dung của phán quyết Trọng tài phải được thi hành chứ không phải là ra các văn
bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành như trong hoạt động
của cơ quan hành chính Nhà nước.
b. Nguyên tắc thi hành phán quyết TTTM
Mọi hoạt động kinh doanh thương mại đều phải dựa trên những nguyên tắc
nhất định, đó là nền tảng, là bộ khung, “xương sống” nâng đỡ toàn bộ quá trình giải
quyết một sự việc, định hướng hoạt động vào một khuôn khổ nhất định. Thi hành
phán quyết Trọng tài cũng là một hoạt động pháp lý, vì vậy trong quá trình thi hành,
các bên tranh chấp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thi hành và các cá nhân, tổ
chức có liên quan cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc thi
hành phán quyết Trọng tài là những quan điểm chỉ đạo, quán triệt trong toàn bộ quá
trình tổ chức thi hành phán quyết Trọng tài thương mại, phán ánh tính chất đặc thù
của hoạt động này.
* Nguyên tắc đảm bảo hiệu lực thi hành phán quyết Trọng tài.