VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯƠNG LINH
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU THEO PHÁP LUẬT
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trung Tín
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
VÔ HIỆU........................................................................................................... 5
điều kiện đầu tiên cần có là phải có thỏa thuận trọng tài. Nếu không có thỏa
thuận trọng tài thì tranh chấp thương mại không thể được giải quyết bằng
trọng tài. Trong quy định về thỏa thuận trọng tài còn nhiều điểm chưa được
giải thích rõ ràng trong Luật Trọng tài Thương mại 2010, gây khó khăn cho
việc hiểu và áp dụng pháp luật đối với những tổ chức, cơ quan trực tiếp áp
dụng đó là các tổ chức Trọng tài Thương mại, Tòa án và đặc biệt là các doanh
nghiệp có tranh chấp yêu cầu trọng tài giải quyết. Bên cạnh đó, nhiều doanh
nghiệp chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của thỏa thuận trọng tài cũng như
chưa có được kiến thức đầy đủ về thỏa thuận trọng tài nên việc soạn thảo thỏa
thuận trọng tài còn một số hạn chế dẫn tới thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Thỏa
thuận trọng tài vô hiệu khiến cho thẩm quyền giải quyết tranh chấp không còn
thuộc thẩm quyền của trọng tài, khiến việc giải quyết tranh chấp bị kéo dài
hơn và trong nhiều trường hợp dẫn tới những thiệt hại về kinh tế cho các bên
tranh chấp.
Vì vậy việc nghiên cứu những quy định của pháp luật và thực trạng áp
dụng pháp luật trọng tài thương mại thông qua một số vụ việc liên quan đến
thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả
1
của việc áp dụng pháp luật trọng tài thương mại về thỏa thuận trọng tài vô
hiệu là rất cần thiết. Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Thỏa thuận trọng
tài vô hiệu theo pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay” làm
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thỏa thuận trọng tài và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đã
được khá nhiều tác giả phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều công
trình nghiên cứu khá công phu, có tính hệ thống những vấn đề pháp lý về
trọng tài, trong từng nội dung cụ thể, cùng với việc phân tích các quy phạm
pháp luật của Việt Nam (Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Luật trọng
Luận văn tìm hiểu về trọng tài thương mại, hậu quả pháp lý của thỏa
thuận trọng tài vô hiệu, từ đó đánh giá ý nghĩa của việc nghiên cứu về thỏa
thuận trọng tài vô hiệu đối với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Phân
tích, đánh giá thực trạng thỏa thuận trọng tài vô hiệu, nghiên cứu, nhận xét
một số vụ tranh chấp điển hình trên thế giới và Việt Nam làm cơ sở rút ra
những điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, tác giả đặt ra việc giải quyết các
nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
+ Đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và
thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam
+ Xây dựng các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa
thuận trọng tài vô hiệu và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận
trọng tài vô hiệu tại Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ liên quan thỏa thuận trọng tài
3
- Phạm vi nghiên cứu: Các quan hệ liên quan đến thỏa thuận trọng tài
vô hiệu ở Việt Nam hiện nay
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp luận chung đó, tác giả sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp thống kê, so
sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
tài sẽ không có tố tụng trọng tài”. Vì vậy, thỏa thuận trọng tài được định
nghĩa rõ ràng trong các đạo luật quốc gia cũng như trong các văn bản luật
quốc tế về trọng tài thương mại.
Theo Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL: “Thỏa thuận trọng tài là
thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài tất cả hoặc một số tranh chấp phát
sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên trong quan hệ pháp lý xác định cho
dù đó có là quan hệ hợp đồng hay không. Thoả thuận trọng tài có thể dưới
hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả
thuận riêng”.
Điều 2 Công ước New York 1958 thể hiện khái niệm về thỏa thuận
trọng tài như sau: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận
bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp
đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là
quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải
quyết được bằng trọng tài”.
Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 định nghĩa: “Thỏa
thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài
tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”.
5
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra một cách hiểu chung về thỏa
thuận trọng tài như sau: thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc
giải quyết tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động
thương mại mà pháp luật cho phép giải quyết bằng thể thức trọng tài.
- Bản chất của thỏa thuận trọng tài
Bản chất của thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Điều này khác với việc các
bên tranh chấp yêu cầu giải quyết tại Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xét xử
chức trọng tài.
+ Thỏa thuận trọng tài riêng biệt liên quan đến tranh chấp đã phát sinh
trên thực tế. Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận
riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính. Vì thỏa thuận này được
lập khi tranh chấp đã phát sinh, các bên đã biết rõ về loại tranh chấp, tính chất
và mức độ của tranh chấp nên nội dung của thỏa thuận khá chi tiết, có tính
khả thi cao. Tuy nhiên, khi tranh chấp đã xảy ra thì việc các bên ngồi lại đàm
phán cho thỏa thuận trọng tài riêng biệt sẽ phức tạp hơn nhiều so với đàm
phán về điều khoản trọng tài trong hợp đồng.
1.1.2. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài là điều kiện đầu tiên và quan trọng của tố tụng
trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài được xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình
đẳng của các bên, bởi vậy nó có vai trò ràng buộc các bên phải tiến hành giải
quyết tranh chấp tại trọng tài đúng như thỏa thuận đã được xác lập.
Thỏa thuận trọng tài là bằng chứng cho thấy các bên lựa chọn trọng tài
chứ không phải tòa án để giải quyết tranh chấp. Thông qua thảo thuận trọng
tài, các bên gián tiếp khước từ thẩm quyền xét xử của tòa án. Tòa án phải từ
chối thụ lý khi thỏa thuận trọng tài giữa hai bên có hiệu lực. Tuy nhiên thỏa
7
thuận trọng tài không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc giải quyết
tranh chấp trong trường hợp có khiếu nại liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô
hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và khi có căn cứ pháp
luật để đề nghị Tòa án hủy quyết định trọng tài.
Như vậy, yếu tố cơ bản nhất trong phương thức trọng tài là yếu tố thỏa
thuận. Thỏa thuận trọng tài có vai trò quyết định trong việc sử dụng trọng tài
như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Không có thỏa
thuận trọng tài sẽ không có giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.Tuy nhiên để
Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống
nhất ý chí giữa các bên. Theo pháp luật của hầu hết quốc gia, hình thức của
thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản với mục đích dựa vào hình thức của
thỏa thuận trọng tài để làm căn cứ xác nhận rằng thỏa thuận giữa các bên đã
đạt được. Yêu cầu hình thức văn bản đối với thỏa thuận trọng tài là nhằm đảm
bảo khả năng chứng minh một cách dễ dàng hơn về sự tồn tại của một thỏa
thuận trọng tài cũng như các nội dung chứa đựng trong đó. Một thỏa thuận chỉ
có giá trị pháp lý khi nó tuân thủ điều kiện về hình thức.
- Điều kiện về nội dung của thỏa thuận trọng tài
Ngoài các điều kiện về chủ thể ký kết và hình thức, thỏa thuận trọng
tài cần phải thỏa mãn các điều kiện về nội dung thì mới có hiệu lực.
Thứ nhất, tranh chấp phải phát sinh từ một mối quan hệ pháp lý xác
định. Tuy nhiên không phải một tranh chấp bất kỳ phát sinh giữa các bên đều
có thể đưa ra trọng tài giải quyết. Thỏa thuận trọng tài này phải liên quan đến
một mối quan hệ pháp lý cụ thể mà thông thường là hợp đồng giữa các bên.
Thứ hai, tranh chấp đó phải thuộc lĩnh vực có thẩm quyền giải quyết
của trọng tài. Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết bằng trọng tài
dù các bên có tự nguyện thỏa thuận. Các tranh chấp liên quan đến các quyền
9
nhân thân, quan hệ hôn nhân, gia đình, thừa kế, phá sản…. thường là các
tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài.
1.1.4. Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài
Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài thể hiện ở những điểm sau:
- Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng
không làm ảnh hưởng tới hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Nói cách khác,
hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ nhưng trong hai
trường hợp này cũng không tự động kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng
theo.
Tương tự Luật Trọng tài thương mại 2010 cũng quy định: “Thỏa
thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng.Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ
hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”.
Sở dĩ ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong
hợp đồng chính thì nó vẫn độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng tài
có đối tượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường
hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong khi đối tượng của hợp đồng là
xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất
định.
Như vậy dù thỏa thuận trọng tài là một văn bản riêng biệt hay một
điều khoản trong hợp đồng thì thỏa thuận trọng tài cũng tồn tại độc lập với
hợp đồng, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc hiệu lực hợp
đồng.
Tuy nhiên tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với hợp
đồng chính cũng không phải là tuyệt đối mà là tương đối. Nếu nguyên nhân
dẫn đến hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài vô hiệu trùng nhau, ví dụ như
chủ thể ký kết không đủ thầm quyền theo quy định của pháp luật, thì khi hợp
11
đồng chính vô hiệu, thỏa thuận trọng tài với tư cách là một điều khoản trong
hợp đồng chính cũng vô hiệu.
1.2 . Khái quát về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
1.2.1. Định nghĩa thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Các văn bản pháp luật không đưa ra định nghĩa cụ thể về thỏa thuận
trọng tài vô hiệu tuy nhiên có thể hiểu bản chất của thỏa thuận trọng tài vô
hiệu là thỏa thuận trọng tài rơi vào tình trạng mất hiệu lực ngay từ ban đầu.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu khác với thỏa thuận trọng tài không còn
định của pháp luật.
1.2.3. Những trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu dẫn đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp
của trọng tài bị loại bỏ. Công ước New York 1958 và Luật mẫu UNCITRAL
đều không có quy định cụ thể nào về định nghĩa cũng như các trường hợp
thỏa thuận trọng tài vô hiệu, vì vậy có thể dựa vào các điều kiện có hiệu lực
của thỏa thuận trọng tài để suy ra các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
- Chủ thể của thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền, không có đủ
năng lực hành vi dân sự hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Chỉ người có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật mới được
ký kết thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận do người không có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật ký kết sẽ trở nên không có hiệu lực.
Tương tự như vậy, những người không đủ năng lực hành vi dân sự
như người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế
năng lực hành vi dân sự nếu ký kết thỏa thuận trọng tài sẽ khiến thỏa thuận
trọng tài trở nên vô hiệu.
Nếu trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài, một bên bị bên kia
lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, sau đó có yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận
trọng tài vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu.
13
- Hình thức của thỏa thuận trọng tài không đáp ứng yêu cầu của luật
điều chỉnh
Pháp luật hầu hết các quốc gia quy định hình thức của thỏa thuận
trọng tài là văn bản hoặc các hình thức khác được coi là văn bản.Nếu thỏa
thuận trọng tài vi phạm quy định về hình thức xác lập thì thỏa thuận trọng tài
bị vô hiệu. Tuy nhiên khái niệm “văn bản” ở mỗi nguồn luật lại có những
điểm khác nhau. Đặc biệt theo Công ước New York, thỏa thuận trọng tài phải
bằng văn bản có chữ ký của các bên. Theo luật của các quốc gia thì quy định
dung. Tuy nhiên, nếu quyết định cuối cùng của trọng tài cần được công nhận
và thi hành ở quốc gia A thì khi đó bên được thi hành sẽ không thể hy vọng
vào sự ra quyết định về vấn đề đó của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia A
nếu như bên phải thi hành không tự nguyện thực thi quyết định.
Trong trường hợp thứ hai, thoả thuận trọng tài sẽ bị coi là vô hiệu về
mặt nội dung, điều này không phụ thuộc vào việc các bên tranh chấp đã ghi
trong thoả thuận trọng tài đã nêu là chọn trọng tài thường trực quốc gia A hay
quốc gia B hoặc trọng tài sự vụ được thành lập ở một trong hai quốc gia trên.
Theo khoản 1 Điều II và khoản 2 Điều V của Công ước New York
1958, việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài có thể bị từ chối nếu cơ
quan có thẩm quyền của quốc gia, nơi việc công nhận và thi hành đó được
yêu cầu, cho rằng: Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được
bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó; hoặc việc công nhận và cho thi
hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó. Qua đó có thể thấy,
thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phụ thuộc vào quy định của
luật pháp từng quốc gia. Thông thường, các vấn đề không được áp dụng trọng
tài là: các vấn đề về tình trạng cá nhân, tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu
hàng hóa và bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảo hiểm, tham nhũng,
phá sản, tranh chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệ lao động ....
15
Pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới đều quy định cho
trọng tài thẩm quyền rất rộng. Việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài, pháp luật các nước có thể dùng phương pháp loại trừ, tức
là pháp luật chỉ liệt kê những loại việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài
như tại Điều 5 Luật Trọng tài Newzerland: “Mọi quyền tùy thuộc vào các bên
có thể được giải quyết bằng trọng tài, trừ trường hợp phụ thuộc vào quyền xét
xử bắt buộc dành riêng cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật”. Ngoài ra có thể quy định thẩm quyền trọng tài bằng cách kết
Khi xem xét thụ lý đơn kiện
Điều 2 Công ước New York 1958 quy định: “Toà án của một Quốc
gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn
đề đó các bên đã có thoả thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu
cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Toà án thấy rằng thoả
thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện
được”.Điều đó có nghĩa là khi tranh chấp phát sinh nhưng quá trình tố tụng
trọng tài chưa diễn ra, nếu một bên nhận thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu
có thể khởi kiện ra Tòa án, khi đó Tòa án có thẩm quyền bác bỏ thỏa thuận
trọng tài và thụ lý vụ án.
Khi tranh chấp đã được trọng tài thụ lý nhưng chưa giải quyết, Hội
đồng trọng tài trước tiên phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và
thẩm quyền của mình. Nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc tranh chấp
không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì tổ chức trọng tài từ chối
thụ lý vụ việc. Khi đó một bên tranh chấp có quyền khởi kiện ra Tòa án.
-
Trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp
Trong quá trình giải quyết tranh chấp mà thỏa thuận trọng tài bị
phát hiện là vô hiệu thì Hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ việc. Nếu các bên không đồng ý với quyết định về thẩm quyền của
Hội đồng trọng tài, các bên tranh chấp có quyền gửi đơn khiếu nại ra Tòa án,
17
yêu cầu xem xét và quyết định thẩm quyền của trọng tài với việc giải quyết
tranh chấp. Trường hợp Tòa án kết luận thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì đây là
thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ
hợp đồng hay không, liên qn
giải quyết và bác yêu cầu của Bị đơn [22, tr.3].
Bình luận:
Phán quyết của trọng tài hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật mẫu:
“…Điều khoản trọng tài trở thành bộ phận của hợp đồng sẽ được coi là thoả
thuận độc lập với các Điều khoản khác của hợp đồng. Quyết định của ủy ban
Trọng tài về hợp đồng bị vô hiệu không làm cho Điều khoản trọng tài bị vô
hiệu theo”.
- Vụ việc thứ hai
Tóm tắt vụ việc:
Nguyên đơn là một công ty tại New York hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất, bán và thực hiện các dịch vụ đối với một số loại trang thiết bị và các
43
hoạt động kèm theo khác. Bị đơn là một công ty Ấn Độ hoạt động trong lĩnh
vực bán các sản phẩm được sản xuất bằng các trang thiết bị của Nguyên đơn
tại Ấn Độ.
Theo Hợp đồng, Nguyên đơn thỏa thuận bán và cung cấp cho Bị đơn
thiết bị và thực hiện các dịch vụ cho một nhà máy mới tại Ấn Độ; Luật của
bang New York sẽ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên. Điều khoản trọng
tài quy định như sau: “Bất cứ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến
hợp đồng này mà các bên không có khả năng giải quyết thông qua đàm phán
thương lượng thì sẽ được giải quyết chung thẩm theo quy tắc trọng tài ICC.
Như quy định trong Quy tắc này, mỗi bên sẽ chọn một trọng tài viên, và Tòa
trọng tài của ICC sẽ chọn trọng tài viên thứ ba. Tố tụng trọng tài sẽ được
thực hiện vào thời gian và tại địa điểm do Tòa Trọng tài quyết định. Phán
quyết trọng tài có thể được cho thi hành tại bất kỳ tòa án có thẩm quyền nào”.
không thể tách rời của hợp đồng và không thể tồn tại độc lập với hợp đồng.
Như vậy, tranh chấp liên quan đến các kỳ phiếu cũng thuộc phạm vi áp
dụng của điều khoản trọng tài.
Ủy ban trọng tài cũng nhấn mạnh thêm rằng ngay cả khi các kỳ phiếu
nói trên tồn tại độc lập, tách biệt với hợp đồng thì theo Ủy ban trọng tài phạm
vi áp dụng điều khoản về trọng tài cũng vẫn đủ rộng để bao hàm cả những
tranh chấp phát sinh giữa các bên từ các kỳ phiếu đó.
Phán quyết của trọng tài:
Ủy ban trọng tài đã bác bỏ lập luận “thỏa thuận trọng tài vô hiệu” của
Bị đơn và ra phán quyết về vấn đề này như sau: “Khiếu nại của Nguyên đơn
nằm trong phạm vi điều chỉnh của điều khoản trọng tài.” [22, tr.37]
Bình luận:
Trong trường hợp này, kỳ phiếu là một phần không thể tách rời của
Hợp đồng nên tranh chấp phát sinh từ kỳ phiếu đồng thời cũng là tranh chấp
phát sinh từ quan hệ hợp đồng – một quan hệ pháp lý xác định. Như vậy thỏa
thuận trọng tài có hiệu lực đúng theo quy định của Công ước New York và
45
Luật mẫu UNCITRAL: “…tranh chấp phải phát sinh từ một quan hệ pháp lý
xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không”. Phán quyết của trọng tài trong
trường hợp này là đúng theo quy định của các văn bản luật quốc tế.
Kết luận chương 2
Từ những vấn đề lý luận được đề cập đến trong chương 1, Luận văn áp
dụng để nghiên cứu thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và
thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam trong
chương 2.
Khi nghiên cứu về thực trạng thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam,
Luận văn chủ yếu nghiên cứu về các quy định trong văn bản hiện hành về
trọng tài thương mại là Luật Trọng tài thương mại 2010, bên cạnh đó cũng đó