ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MỸ LINH
PH¸P LUËT VÒ DÞCH Vô C¤NG
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MỸ LINH
PH¸P LUËT VÒ DÞCH Vô C¤NG
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ TRỌNG HÁCH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Những vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ công....................................17
1.2.1.
Quan niệm pháp luật về dịch vụ công ........................................................17
1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về dịch vụ công .....................................................20 1.2.3.
Vai trò của pháp luật về dịch vụ công .........................................................26 1.2.4. Quá
trình hình thành và phát triển của pháp luật về dịch vụ công..............32
1.3.
Pháp luật về dịch vụ công ở một số quốc gia và những vấn đề có
thể vận dụng ở Việt Nam...........................................................................47
1.3.1. Pháp luật về dịch vụ công ở một số nước....................................................47 1.3.2.
Những vấn đề có thể vận dụng ở Việt Nam ................................................53
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM ......57
2.1.
Thực trạng nội dung pháp luật về dịch vụ công .....................................57
2.1.1. Những quy định về phạm vi cung cấp dịch vụ công ...................................57
2.1.2. Những quy định về chủ thể cung cấp dịch vụ công ....................................57
2.1.3. Những quy điṇ h về nguyên tắc quản lý dic̣ h vu ̣ công .................................63
2.2.
Những thành tựu và hạn chế của pháp luật về dịch vụ công ................66
, minh bac̣ h , cạnh
tranh bình đẳng cho các chủ thể tham gia dic̣ h vu ̣ ......................................94
3.3.
Nhƣ̃ng giải pháp xây dƣng p
háp luâṭ dic̣ h vu ̣ công trong giai
đoan hiên nay..............................................................................................96
3.3.1. Nhâṇ thức, thể chế hóa các nguyên tắc cung cấp dic̣ h vu ̣ công ..................96
3.3.2. Ban hành các quy pham pháp luâṭ điều chỉnh chuyên biêṭ trong lĩnh
vưc dic̣ h vu ̣ công ..........................................................................................99
3.3.3. Thực hiện thường xuyên rà soáthápđiển hóapháp luật về dịchvụ công.......101 ,p
3.3.4. Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công....................105
3.3.5.
Tăng cường các điều kiện đảm bảo để nâng cao chất lượng dịch vụ công ......109
3.3.6. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân để thuận tiện
tiếp nhận và thụ hưởng các dịch vụ công ..................................................110
3.3.7. Tiếp tục xã hội hóa và tranh thủ nguồn lực tại chỗ, nguồn lực trong
nước và quốc tế cho việc phát triển dịch vụ công .....................................111
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................115
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dịch vụ công là dịch vụ mới trong xã hội, sự xuất hiện của dịch vụ công đã
luâṭ dic̣ h vu ̣ công ở Viêṭ Nam .
2. Tình hình nghiên cứu
Ở phương Tây, dịch vụ công được nhiều quốc gia nghiên cứu từ đầu thế
k ỷ 2 0 . T u y n h i ê n , ở V i ệ t N a m d ịc h v ụ c ôn g l à v ấ n đ ề mớ i n hư n g đ ã v à đa n g k h ẳ n
g đị n h vị tr í củ a mì n h t r o n g xã h ội . Nh i ề u tá c gi ả đã c ó n hữ n g c ô n g t r ì nh n g h i ê n c ứ
u , đề tà i kho a h ọ c, bà i vi ế t v ề d ịc h v ụ c ô n g c ó g i á t r ị g ó p p h ần h oà n thiện loại hình
dịch vụ này cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Điển hình
mộ t s ố đ ề t ài l iê n q ua n n h ư :
- Chu Văn Thành (chủ biên), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, năm 2004, là tập hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau (hai
mươi bảy bài viết) về ba mảng nội dung lớn: Một là về những vấn đề lý luận về dịch vụ
công ở Việt Nam như khái niệm dịch vụ, mối quan hệ dịch vụ công với nhà nước, vai trò
của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ, vai trò quản lý của Nhà nước với việc cung ứng
dịch vụ. Thứ hai là thực tiễn tổ chức thực hiện dịch vụ công ở Việt Nam. Trong nội dung
này, các bài viết không chỉ đề cập đến thực trạng cung cấp dịch vụ công, bao gồm cả
các dịch vụ công cộng và các dịch vụ hành chính công, mà còn nhấn mạnh đến quá
trình chuyển giao việc thực hiện các dịch vụ công cộng cho cá nhân, tổ chức ngoài nhà
nước thực hiện. Ba là kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong cung ứng dịch vụ
công và quản lý cung ứng dịch vụ công. Mặc dù vậy, những quan điểm trong các bài
viết về xã hội hóa các dịch vụ công (chủ yếu tập trung vào các dịch vụ công cộng) đã chỉ
ra xu hướng phát triển tất yếu của các dịch vụ công ở nước ta trong xã hội ngày nay.
- Chu Văn Thành, Dịch vụ công - Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt
Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2007, tác giả tập trung
nghiên cứu về cung ứng dịch vụ và quản lý dịch vụ công dưới góc nhìn đổi mới của cải
cách hành chính. Trong cuốn sách này tác giả trình bày có hệ
2
thống về các vấn đề có liên quan đến dịch vụ công, dịch vụ công cộng, dịch vụ
vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin
xuất bản, năm 2002. Cuốn sách này tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, chia thành ba
phần lớn: Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, những bài viết trong phần
này chủ yếu đề cập đến bản chất của dịch vụ công, dịch vụ công trong mối quan hệ với
nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công và quản lý dịch vụ
công; Các mô hình cung ứng dịch vụ công, bàn về thực tiễn triển khai thực hiện các dịch
vụ công, trong đó có thí điểm thực hiện dịch vụ công chứng, dịch vụ nhà đất ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh và mô hình thí điểm tại Ủy ban nhân dân Quận 1 thành phố
Hồ Chí Minh; trên cơ sở những nghiên cứu này, trong Phần 3 các tác giả đã được tập
trung giải quyết "Các vấn đề bức xúc đặt ra từ thực tiễn và một số giải pháp". Các mô
hình thí điểm về dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng được
xem xét, đánh giá để kết luận về sự phù hợp với tính chất của các dịch vụ công, từ đó rút ra
bài học và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. Nội dung cuốn sách Vai trò
của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp vừa
tập trung phân tích những vấn đề có tính lý luận, vừa giải quyết những yêu cầu của thực
tiễn đặt ra nên có ý nghĩa lớn cả trong khoa học và thực tiễn.
- Đỗ Thị Hải Hà, "Quản lý Nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công", Nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ thuật, năm 2007, tác giả dựa trên các kết quả nghiên cứu, tìm tòi
các bài học, kinh nghiệm của nước ngoài trong quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch
vụ công - một công việc cần thiết và bổ ích, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Qua đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả việc cung ứng các dịch vụ công cho xã hội của nước ta.
- Đặng Đức Đạm - Phó trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Đổi mới
cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, đăng trên website: http://www.vnep.org.vn/
Modules/CMS/Upload/6/ đưa ra quan điểm hữu ích về khái niệm dịch vụ công và giải
pháp hoàn thiện việc cung ứng nhiều loại hình dịch vụ công.
4
Phạm vi nghiên cứu tâp̣ trung chủyếu vao hê ṭ hống phap luâṭ về dic̣ h vu ̣ công ở
Viêṭ Nam trong giai đoaṇ khoảnghơn 10 năm trở laị đây.
5
; thưc
5. Cơ sở lý luân và phƣơng pháp nghiên cƣ́u của luân văn
Cơ sở lý luâṇ của viêc̣ nghiên cứu đề tài là nhưng luâṇ điểm trong học thuyết
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật ; các quan điểm
của Đảng Công sản ViêṭNam , tư tưởng HồChíMinh vềcải cách bô ̣máy nhànước,
xây dưng Nhà nước phap quyền Viêṭ Nam xã hôị chủ nghia, về xây dựng hoàn thiện
hê ṭ hống pháp luâṭ Viêṭ Nam trong giai đoaṇ hiêṇ nay.
Đồng thời , tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình
nghiên cứu của các nhà khoa hoc̣ về dic̣ h vu ̣ công .
Các phương pháp đươc tác giả sử dung trong luâṇ văn gồm : phương pháp
phân tich , tổng hơp , diễn dic̣ h , quy nap̣ , phương phap lic̣ h sử , phương phap hê ̣
thống, phương pháp so sánh, phương pháp xã hôị hoc̣ ...
6. Nhƣng điểm mới của luân văn
Với muc̣ đich và nhiêm vu ̣ nêu trên , những nôị dung sau đây là những đóng
góp mới:
- Hê ṭ hống phân tich , bổ sung nhưng vấn đề có tính lý luâṇ về dịch vụ công ,
yêu cầu cung cấp các dic̣ h vu ̣ công cho xã hôị và phuc̣ vụ đời sống nhân dân.
- Đanh giá về thưc traṇ g chất lương
, tính đồng bộ , thống nhất , đầy đủ
Chương 1: Cơ sở lý luâṇ của pháp luâṭ về dic̣ h vu ̣ công.
Chương 2: Thưc traṇ g phap luâṭ về dic̣ h vu ̣ công ở Viêṭ Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công
ở Việt Nam hiện nay.
7
Chương 1
CƠ SỞLÝLUẬN CỦAPHÁPLUẬTVỀDICH VỤCÔNG
1.1. Nhƣng vấn đề lý luân về dic̣ h vu ̣ công
1.1.1. Quan niêm về dic̣ h vụ công
Khái niệm "dịch vụ công" được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau
Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Dịch vụ công theo từ tiếng Anh là "public service",
trong tiếng Pháp là"service public". Trong từ điển English Dictionary định nghĩa: từ
Service (dịch vụ, phục vụ) The performance of duties by a waiter or servant - dịch vụ
là sự thực hiện nhiệm vụ của người phục vụ. Theo nghĩa Hán - Việt: dịch (làm, biến
đổi, chuyển dời); vụ (chuyên, vụ việc, phục vụ), công việc mang tính chuyên môn phục
vụ cho con người, cho xã hội. Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: dịch vụ là những
hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Từ điển
Kinh tế học hiện đại: dịch vụ là các chức năng hoặc nhiệm vụ được thực hiện mà người
ta có nhu cầu và do đó, tạo ra giá cả hình thành nên một thị trường thích hợp. Dịch vụ là
những hoạt động mang tính phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của
con người, của xã hội. Trong thời đại mới, khi nói đến dịch vụ người ta thường nghĩ ngay
đến dịch vụ gắn liền với các nhiệm vụ kinh tế: là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là
vật phẩm mà là công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức và kỹ
năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại. Vậy, dịch vụ là những hoạt động
mang tính phục vụ, là một quá trình luân chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người
tiêu dùng hoặc các hoạt động khác nhằm đáp ứng nhu cầu sống của cá nhân hay một
nhóm người. Đó là một khái niệm rộng và dịch vụ công chỉ là một nhóm trong số những
. Yếu tố về tổ chức (người trực tiếp
cung ứng dịch vụ công ) không cọ̀ n là yếu tố quyết định để biết xem một dịch vụ có
phải là dịch vụ công hay không . Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra không phải ai là người trực
tiếp cung ứng một dịch vụ phục vụ lợi ích chung, mà là ở chỗ ai chịu trách nhiệm cuối
cùng về việc cung ứng dịch vụ này cho xã hội. Từ đó, các tác giả cho rằng, "một hoạt động
lợi ích chung được một pháp nhân công quyền đảm nhiệm được coi là một dịch vụ công"
- "đảm nhiệm" ở đây được hiểu như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung
ứng dịch vụ công. Như vậy, một hoạt động với lợi ích chung do một tư nhân đảm trách
không được xem là một dịch vụ công, trừ phi có sự tác động của Nhà nước đến việc cung
ứng dịch vụ đó [19].
9
Quan niệm về dịch vụ công cũng thay đổi từng thời kỳ, tùy thuộc vào bối
cảnh từng quốc gia và mức độ ưu tiên cung ứng loại dịch vụ này. Có nước cho rằng "dịch
vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm"
[17]. Quan niệm khác lại cho rằng: "Dịch vụ công là một loại dịch vụ do nhà nước (cơ
quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền
cho các tổ chức, đơn vị ngoài nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của nhà nước" [37].
Danh mục các dịch vụ công cũng được xếp theo những nhóm khác nhau ở những quốc
gia khác nhau và mỗi nước lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công. Ví
dụ, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh,
pháp chế tới các chính sách kinh tế xã hội, môi trường, văn hóa… Trong khi đó, Pháp và
Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người
dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo tiêu
chuẩn, quy định của nhà nước. Hay ở Singapore quốc gia ở Đông Nam Á gần Việt Nam,
những dịch vụ như ngân hàng, bưu chính, giao thông công cộng và tiện ích cơ bản được
nước có ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân khác thực hiện thì nhà nước vẫn chịu trách
nhiệm quản lý, điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng t r o n g p h â n p h ố i c á c dị c h v ụ n à y v
à k h ắ c ph ụ c sự bấ t cậ p c ủ a t hị t rư ờ n g t r o n g t i ế n tr ì n h h ộ i nh ậ p hi ện n a y .
Từ những phân tích trên, tôi cho rằng: Dịch vụ công là dịch vụ cung cấp hàng
hóa công cộng do nhà nước bảo đảm thực hiện bằng cách trực tiếp hoặc ủy quyền,
nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân, vì lợi ích chung của cộng đồng và sự
phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ công
1.1.2.1. Dịch vụ công mang tính chất xã hội:
Dịch vụ được thực hiện trong phạm vi rộng, bao gồm các hoạt động vì lợi ích
chung của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người dân một cách công bằng,
bình đẳng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội. Dịch vụ công có vai trò bảo đảm ổn
định xã hội và mang tính quần chúng rộng rãi. Từ đó có thể nhận thấy lợi ích kinh tế
không phải là điều kiện tiên quyết chi phối các dịch vụ này. Khác với
11
các hoạt động kinh tế, dân sự sinh lợi khác, tổ chức và cá nhân cung cấp dịch vụ
công theo sự ủy quyền của nhà nước phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt mà nhà
nước đặt ra riêng cho lĩnh vực dịch vụ cung ứng.
1.1.2.2. Là một loại dịch vụ do Nhà nước (dưới hình thức là các cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các cá
nhân, tổ chức ngoài nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước, nhằm đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của xã hội.
Ở đây, Nhà nước là người chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân, xã hội về số
lượng dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ. Trách nhiệm thể hiện qua việc hoạch định
chính sách, thể chế pháp luật, quy định thẩm quyền của các đơn vị công lập và ngoài công
lập cung ứng dịch vụ, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghiệp vụ của các đơn
vị này, đảm bảo hài hòa các mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ
1.1.3. Phân loaị dic̣ h vụ công
Có nhiều cách phân loại các loại hình dịch vụ công. Căn cứ vào điều kiện
thực tế ở Việt Nam, xét theo chủ thể cung ứng có thể chia thành các loại: dịch vụ do nhà
nước trực tiếp cung ứng, dịch vụ do nhà nước ủy quyền toàn phần hoặc một phần. Tuy
nhiên, để nghiên cứu một cách tổng thể, dựa vào tính chất của dịch vụ
công được chia thành các nhóm như sau:
1.1.3.1. Dịch vụ hành chính công
Một số nhà nghiên cứu cho rằng hành chính công được quan niệm là hoạt
động của cơ quan nhà nước, mang tính quyền lực và sử dụng quyền lực của nhà nước
phục vụ lợi ích hợp pháp của công dân. Trong Giáo trình Hành chính học đại
cương, tác giả đưa ra khái niệm:
Hành chính công là một thiết chế được tạo thành bởi hệ thống các pháp
nhân chính phủ, bộ, ủy ban nhân dân, cơ quan nhà nước, công sở hành
chính và sự nghiệp, có thẩm quyền tổ chức và điều hành mọi quá trình kinh
tế - xã hội và hoạt động của các tổ chức, công dân bằng văn bản quy phạm
để thi hành luật.
Hoặc một quan niệm khác lại cho rằng dịch vụ hành chính công là tổng thể các
chính sách, quy định, quy trình, thủ tục... được Nhà nước đầu tư ngân sách và chịu trách
nhiệm quản lý và điều hành, "tổ chức quản lý và thực hiện các hoạt động của bộ máy chính
phủ trong đó có các hoạt động thực thi luật, quy định và quyết
13
định của chính phủ, thực hiện quản lý cung ứng dịch vụ công" [32]. Từ những quan
niệm trên có thể thấy rằng dịch vụ hành chính công gắn liền với chức năng quản lý của nhà
nước. Chỉ có nhà nước mới là chủ thể đủ tư cách pháp lý để đảm nhận các hoạt động cung
ứng. Dịch vụ hành chính công liên quan đến những dịch vụ công cốt lõi, bao gồm các
dịch vụ mà Nhà nước là người duy nhất cung cấp và mọi công dân bắt buộc phải nhận khi
có nhu cầu về chúng. Nhà nước cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và
thủ tục và thực hành, trực tiếp tác động đến người dân khi họ có nhu cầu sử dụng dịch
vụ.
- Mục tiêu của dịch vụ hành chính công nhằm cung cấp các dịch vụ với chất lượng
tốt cho mọi người dân một cách công bằng, bình đẳng, đặc biệt là người nghèo. Dịch
vụ hành chính công đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo bởi vì nó khuyến
khích tính minh bạch và trách nhiệm giải trình từ những cán bộ và cơ quan nhà nước.
Một cách chung nhất, dịch vụ hành chính công được hiểu là toàn bộ các yếu tố như
bộ máy chung, thủ tục, hệ thống, nhân sự... được nhà nước trả lương để quản lý, định
hướng về các vấn đề thực hành quản lý; quản lý và thực thi các hoạt động quản lý nhà nước,
mang tính quyền lực nhà nước. Bao gồm các quá trình thi hành luật, quy định và quyết
định của chính phủ và việc quản lý liên quan đến cung cấp dịch vụ. Dịch vụ hành chính
công phục vụ lợi ích hoặc tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân,
tổ chức do cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức thuộc cơ quan hành chính nhà
nước, cá nhân, tổ chức được Nhà nước cho phép cung cấp theo nguyên tắc bình đẳng,
không vì mục đích lợi nhuận, góp phần thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự quản lý hành
chính nhà nước.
1.1.3.2. Dịch vụ xã hội công
a. Dịch vụ sự nghiệp công: Loại dịch vụ này bao gồm các hoạt động cung
cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, y tế,
chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội… Theo xu hướng chung hiện nay là Nhà nước chỉ thực
hiện những dịch vụ mà xã hội không thể làm được, vì vậy đối với loại dịch vụ sự nghiệp
công, nhà nước có thể chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ cho khu vực tư nhân
và tổ chức xã hội, nhằm giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác nguồn lực trong xã
hội, phá bỏ bao cấp, nâng cao chất lượng dịch vụ công phục
15
vụ người dân. Đây chính là điểm khác với loại dịch vụ hành chính công. Thuật ngữ
xã hội hóa các dịch vụ sự nghiệp công cũng được xuất hiện và mở rộng. Nhiều bệnh viện, nhà
tự kinh tế, trật tự mua bán trên thị trường thông qua việc xây dựng và thực thi thể
chế kinh tế thị trường; Cung cấp các tiện ích công cộng cho toàn thể thành viên trong
xã hội như bảo vệ sức khỏe, giao thông công cộng, thông tin, thư viện công cộng…;
Quản lý tài nguyên và tài sản công cộng như: quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ môi trường, tài
nguyên thiên nhiên; Bảo vệ quyền công dân, quyền con người...
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ công
1.2.1. Quan niệm pháp luật vềdịch vụcông
Khi dịch vụ công ra đời thì đồng thời xuất hiện nhu cầu cần có các quy tắc
chung làm cơ sở cho hành vi của các bên chủ thể tham gia hoạt động này. Dịch vụ công
vừa có tính chất phục vụ quyền, lợi ích của dân chúng, vừa bảo đảm mục đích quản lý
nhà nước, dưới góc độ khác, dịch vụ công liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
của cá nhân, tổ chức, vừa liên quan đến hoạt động của bộ máy nhà nước nên việc điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong dịch vụ phải bằng pháp luật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành.
Ở Việt Nam, chưa có sự đồng thuận tuyệt đối trong nhận thức về pháp luật điều
chỉnh dịch vụ công. Dịch vụ là những hoạt động có tính chất "bắc cầu" giữa quản lý
nhà nước với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, trong giao dịch mà
cá nhân, tổ chức tham gia vào. Từ phía các cơ quan nhà nước thì đảm bảo dịch vụ công
tồn tại và phát triển bằng cơ chế pháp luật là nhiệm vụ cần hoàn thành. Xuất phát từ phía
dân chúng thì dịch vụ công là những dịch vụ phục vụ lợi ích của cá nhân, tổ chức phát
sinh từ chính nhu cầu thiết yếu của đời sống hàng ngày. So sánh với hoạt động quản lý
nhà nước có thể thấy rằng quản lý dịch vụ công là những hoạt động gắn với quyền lực nhà
nước, dù được tổ chức thực hiện như thế nào cũng luôn thể hiện tính đơn phương, tính
bắt buộc phải phục tùng và tính cưỡng chế [11, tr.9,10]. Các dịch vụ công được thực hiện
trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng giữa cá nhân, tổ chức là người yêu cầu dịch vụ với cơ
quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Cơ quan nhà nước với tư cách là chủ thể cung cấp dịch vụ,
nếu sử dụng mệnh lệnh để duy trì việc cung cấp dịch vụ thì tính phục vụ của dịch vụ công
không còn. Vì thế, để điều chỉnh dịch vụ công cần sử dụng tổng hợp các quy phạm
17
dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ
quan
18
nhà nước. Do tính đa dạng, phong phú của các dịch vụ công nên không có một
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp, các quy phạm pháp luật về dịch vụ
công được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, liên kết chặt
chẽ với nhau.
Về nội dung, pháp luật về dịch vụ công là những quy tắc hành vi cho các chủ thể
tham gia vào dịch vụ, ngoài ra còn bao gồm các nguyên tắc, các chủ trương, chính
sách, kế hoạch phát triển từng dịch vụ, nhóm dịch vụ công. Pháp luật về dịch vụ công có
thể chia thành hai nhóm nội dung chính là: các quy định về tổ chức, cung cấp dịch vụ
và các quy định về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công. Các nội dung cụ thể của
pháp luật gồm: nguyên tắc của dịch vụ công; hình thức cung cấp; các yêu cầu, điều kiện
đối với việc cung cấp dịch vụ; quyền, nghĩa vụ các bên trong dịch vụ, thủ tục thực hiện
dịch vụ; quy định về tổ chức bộ máy, tổ chức nhân sự; về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi
phạm trong dịch vụ công.
Về phạm vi tác động, đối tượng điều chỉnh, pháp luật về dịch vụ công tác động
đến các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức tham gia dịch vụ. Đối tượng tác động
của pháp luật về dịch vụ công có thể chia thành ba nhóm cơ bản. Một là, các chủ thể
cung cấp dịch vụ, đây là nhóm chủ thể bằng hoạt động của mình đáp ứng nhu cầu về
dịch vụ công của dân chúng, nhóm này bao gồm các cơ quan hành chính, các đơn vị, tổ
chức dịch vụ công thuộc cơ quan hành chính, các tổ chức dịch vụ công của cá nhân, tổ
chức được nhà nước cho phép cung cấp dịch vụ, các cán bộ, công chức, viên chức, các
cá nhân trực tiếp thực hiện những công việc nhất định trong quá trình cung cấp một
dịch vụ công cụ thể. Hai là, các chủ thể yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ, đây là những cá
nhân, tổ chức đã đưa ra yêu cầu đến các chủ thể cung cấp dịch vụ và hưởng thụ dịch vụ
phù hợp với quy định của pháp luật. Có những dịch vụ chủ thể hưởng thụ chỉ có thể là
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Các phong tục, tập quán, các quy phạm đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo so với
các quy phạm pháp luật có sự hạn chế về phạm vi tác động, thiếu chặt chẽ và thống
nhất đã làm cho các loại quy tắc hành vi này không thể là chuẩn mực để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ công. Do vậy, tất yếu cần có sự điều
chỉnh pháp lý đối với quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ công. Dịch vụ công cũng
xa lạ với các phong tục, tập quán vốn có và cũng không
20