ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MỸ LINH
PH¸P LUËT VÒ DÞCH Vô C¤NG
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MỸ LINH
PH¸P LUËT VÒ DÞCH Vô C¤NG
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ TRỌNG HÁCH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.3. Phân loa ̣i dich
̣ vu ̣ công .................................................................................13
1.2.
Những vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ công ....................................17
1.2.1.
Quan niệm pháp luật về dịch vụ công ........................................................17
1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về dịch vụ công .....................................................20
1.2.3. Vai trò của pháp luật về dịch vụ công .........................................................26
1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về dịch vụ công ..............32
1.3.
Pháp luật về dịch vụ công ở một số quốc gia và những vấn đề có
thể vận dụng ở Việt Nam ...........................................................................47
1.3.1. Pháp luật về dịch vụ công ở một số nước ....................................................47
1.3.2. Những vấn đề có thể vận dụng ở Việt Nam ................................................53
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM ...... 57
2.1.
Thực trạng nội dung pháp luật về dịch vụ công .....................................57
2.1.1. Những quy định về phạm vi cung cấp dịch vụ công ...................................57
2.1.2. Những quy định về chủ thể cung cấp dịch vụ công ....................................57
2.1.3. Những quy đinh
̣ về nguyên tắc quản lý dich
̣ vu ̣ công .................................63
3.2.2. Xây dựng pháp luâ ̣t dich
̣ vu ̣ công phù hơ ̣p với nề n hành chính phu ̣c
vụ nhân dân một cách chính quy , chuyên nghiê ̣p ........................................91
3.2.3. Xây dựng pháp luâ ̣t dich
̣ vu ̣ công phù hơ ̣p với yêu cầu cải cách kinh
tế - văn hóa ...................................................................................................94
3.2.4. Pháp luật về dịch vụ công phải đảm bảo dân chủ
, minh ba ̣ch , cạnh
tranh bình đẳng cho các chủ thể tham gia dich
̣ vu ̣ ......................................94
3.3.
Nhƣ̃ng giải pháp xây dƣṇ g p háp luâ ̣t dich
̣ vu ̣ công trong giai
đoa ̣n hiêṇ nay ..............................................................................................96
3.3.1. Nhâ ̣n thức, thể chế hóa các nguyên tắ c cung cấp dich
̣ vu ̣ công ..................96
3.3.2. Ban hành các quy pha ̣m pháp luâ ̣t điề u chỉnh chuyên biê ̣t trong liñ h
vực dich
̣ vu ̣ công ..........................................................................................99
3.3.3. Thực hiện thường xuyên rà soát
, pháp điể n hóapháp luật về dịchvụ công.......101
3.3.4. Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công ....................105
3.3.5.
Tăng cường các điều kiện đảm bảo để nâng cao chất lượng dịch vụ công ......109
nước một cách có hiệu lực, hiệu quả các vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng trong tình hình mới đã đặt ra những đòi hỏi mới với pháp luật về dịch vụ
công. Tất cả các yếu tố này đã tác động buộc hệ thống quy phạm pháp luật về
dịch vụ công phải không ngừng được bổ sung những quy định mới, tiến bộ, sửa
đổi, bãi bỏ những quy định không còn phù hợp, lạc hậu để phù hợp với nhu cầu
của toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay.
1
Từ những lí do trên , tôi chọn đề tài “Pháp luật về dịch vụ công ở Việt Nam
hiê ̣n nay” làm luận văn cao học Luâ ̣t, mã ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp
luâ ̣t, nhằ m mong muố n làm rõ hơn nhữn g vấn đề về lý luâ ̣n và thực tiễn của pháp
luâ ̣t dich
̣ vu ̣ công ở Viê ̣t Nam .
2. Tình hình nghiên cứu
Ở phương Tây, dịch vụ công được nhiều quốc gia nghiên cứu từ đầu thế
kỷ 20. Tuy nhiên, ở Việt Nam dịch vụ công là vấn đề mới nhưng đã và đang
khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Nhiều tác giả đã có những công trình
nghiên cứu, đề tài khoa học, bài viết về dịch vụ công có giá trị góp phần hoàn
thiện loại hình dịch vụ này cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Điển hình
một số đề tài liên quan như:
- Chu Văn Thành (chủ biên), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2004, là tập hợp bài viết của nhiều tác giả khác
nhau (hai mươi bảy bài viết) về ba mảng nội dung lớn: Một là về những vấn đề lý
luận về dịch vụ công ở Việt Nam như khái niệm dịch vụ, mối quan hệ dịch vụ công
với nhà nước, vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ, vai trò quản lý của
Nhà nước với việc cung ứng dịch vụ. Thứ hai là thực tiễn tổ chức thực hiện dịch vụ
công ở Việt Nam. Trong nội dung này, các bài viết không chỉ đề cập đến thực
trạng cung cấp dịch vụ công, bao gồm cả các dịch vụ công cộng và các dịch vụ
các vấn đề đặt ra trong giai đoạn đầu thực hiện xã hội hóa các dịch vụ công, bao
gồm các dịch vụ công cộng như vệ sinh môi trường, vận tải công cộng và các dịch
vụ sự nghiệp công như giáo dục, văn hóa, y tế, cũng được đề cập khá chi tiết. Các
nội dung trong cuốn sách đã phản ánh trung thực hiện trạng cung cấp dịch vụ cùng
với những ưu điểm và nhược điểm cần khắc phục. Điểm mạnh là tác giả đã đưa ra
các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến trình xã hội hóa các dịch vụ công
có tính thuyết phục cao. Các nghiên cứu đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ những
vấn đề về sự tồn tại khách quan của các dịch vụ công. Tuy nhiên, các nghiên cứu của
tác giả chủ yếu dưới góc độ quản lý, đối tượng nghiên cứu trong nội dung các cuốn
sách không phải là pháp luật về các hoạt động dịch vụ, vì thế pháp luật được nhắc
đến còn khá mờ nhạt, chưa toàn diện, chưa trực tiếp đi vào những quy định, giải
pháp có tính pháp lý cụ thể.
- Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên). Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch
3
vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin
xuất bản, năm 2002. Cuốn sách này tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, chia
thành ba phần lớn: Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, những bài
viết trong phần này chủ yếu đề cập đến bản chất của dịch vụ công, dịch vụ công
trong mối quan hệ với nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong cung ứng dịch
vụ công và quản lý dịch vụ công; Các mô hình cung ứng dịch vụ công, bàn về thực
tiễn triển khai thực hiện các dịch vụ công, trong đó có thí điểm thực hiện dịch vụ
công chứng, dịch vụ nhà đất ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và mô hình thí
điểm tại Ủy ban nhân dân Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở những
nghiên cứu này, trong Phần 3 các tác giả đã được tập trung giải quyết "Các vấn đề
bức xúc đặt ra từ thực tiễn và một số giải pháp". Các mô hình thí điểm về dịch
vụ hành chính công ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng được xem xét, đánh
giá để kết luận về sự phù hợp với tính chất của các dịch vụ công, từ đó rút ra bài học
, hoàn thiện
pháp luật về dịch vụ công phù hợp với tình hình hiê ̣n nay.
Để làm rõ mu ̣c đić h trên, luâ ̣n văn có nhiê ̣m vu :̣
- Làm rõ các khái niệm về: quan niê ̣m, đă ̣c điể m, phân loa ̣i dich
̣ vu ̣ công theo
quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành.
- Làm rõ khái niệm, đố i tươ ̣ng, phương pháp , nô ̣i dung của pháp luật về dịch
vụ công ; quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về dịch vụ công
; thực
trạng pháp luật về dịch vụ công hiện nay ở Việt Nam .
- Chỉ rõ sự cầ n thiế t phải xây dựng , hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công
để góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công , đáp ứng đòi hỏi của pháp luâ ̣t và
nhu cầu của người dân trong thời kỳ hô ̣i nhâ ̣p .
- Đưa ra các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công ở
Viê ̣t Nam .
4. Đối tƣơ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cƣ́u của luâ ̣n văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật về
dịch vụ công ở Việt Nam , có tham khảo pháp luật về dịch công của một số quốc
gia trên thế giới .
Phạm vi nghiên cứu tâ ̣p trung chủyế u vào hê ̣ thố ng pháp luâ ̣t về dich
̣ vu ̣ công ở
Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n khoảnghơn 10 năm trở la ̣i đây.
5
, đưa ra một số ưu điểm và
hạn chế ;
- Đưa ra những căn cứ khoa ho ̣c , xác đinh
̣ phương hướng, giải pháp nhằm
góp phần xây dựng hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong giai đoạn hiện nay .
7. Ý nghĩa lý luận và thƣc̣ tiễn của luâ ̣n văn
Kế t quả nghiên cứu của luâ ̣n văn bổ sung vào sự phát triể n của lý luâ ̣n
nhà nước và pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về dịch vụ công . Với
ý nghĩa đó, luâ ̣n văn góp phầ n :
- Thố ng nhấ t mô ̣t số nhâ ̣n thức cơ bản liên quan đế n dich
̣ vu ̣ công , pháp luật
về dich
̣ vu ̣ công.
- Khái quát quá trình hình thành và phát triển cũng như phân tić h những quy
đinh
̣ của pháp luật về dịch vụ công để đánh giá chất lượng , mức đô ̣ hoàn thiê ̣n... của
6
pháp luật về dịch vụ công ở Việt Nam ; chỉ ra những nguyên nhân , tồ n ta ̣i củ a pháp
luâ ̣t về dich
̣ vu ̣ công.
- Cung cấ p các căn cứ khoa ho ̣c cho viê ̣c hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về dich
.
̣ vu ̣ công
- Luâ ̣n văn có thể làm tài liê ̣u tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy,
những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên trong các cơ sở đào ta ̣o cử
nhân luâ ̣t , cử nhân hành chính , các trường đào tạo , bồ i dưỡng cán bô ̣ của Đảng
năng hoặc nhiệm vụ được thực hiện mà người ta có nhu cầu và do đó, tạo ra giá cả
hình thành nên một thị trường thích hợp. Dịch vụ là những hoạt động mang tính
phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội.
Trong thời đại mới, khi nói đến dịch vụ người ta thường nghĩ ngay đến dịch vụ gắn
liền với các nhiệm vụ kinh tế: là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm
mà là công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng
chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại. Vậy, dịch vụ là những hoạt động
mang tính phục vụ, là một quá trình luân chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến
người tiêu dùng hoặc các hoạt động khác nhằm đáp ứng nhu cầu sống của cá nhân
hay một nhóm người. Đó là một khái niệm rộng và dịch vụ công chỉ là một nhóm
trong số những nhóm dịch vụ nói chung.
Dịch vụ công được hiểu gắn với phạm trù hàng hóa công cộng. Khi loại hàng
hóa được cung cấp thỏa mãn được một số đặc tính cơ bản sau, dịch vụ đó sẽ được
gọi là dịch vụ công: 1. Đó là một loại hàng hóa mà mọi người đều phải sử dụng.
Nói cách khác, đối tượng cung cấp là loại hàng hóa cần thiết cho tất cả mọi người.
8
2. Sự công bằng, bình đẳng được bảo đảm. Không phân biệt giai tầng xã hội, không
phân biệt khu vực sinh sống và sắc tộc, loại dịch vụ này được cung cấp một cách
bình đẳng cho mọi người. 3. Hàng hóa được duy trì không chạy theo lợi nhuận kinh
tế. Ngay cả khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn được duy trì. Vậy
rõ ràng lợi nhuận kinh tế không phải là yếu tố quyết định sự tồn tại của loại hàng
hóa này mà mục đích chính là sự ổn định, phát triển xã hội và bảo đảm các điều
kiện sống thiết yếu cho người dân. Thậm chí có những loại hàng hóa công cộng
được nhà nước bao cấp một phần hoặc toàn bộ. Bởi vậy, nhiều người quan niệm,
dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước. Có thể nói dịch vụ công chính là
dịch vụ cung cấp loại hàng hóa vừa được làm rõ – hàng hóa công cộng [16, tr.8].
Các nhà nghiên cứu hành chính xuất phát từ góc nhìn của chủ thể quản lý
đảm nhiệm” [17]. Quan niệm khác lại cho rằng: “Dịch vụ công là một loại dịch vụ
do nhà nước (cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực
hiện hoặc ủy quyền cho các tổ chức, đơn vị ngoài nhà nước thực hiện dưới sự giám
sát của nhà nước” [37]. Danh mục các dịch vụ công cũng được xếp theo những
nhóm khác nhau ở những quốc gia khác nhau và mỗi nước lại có nhận thức khác
nhau về phạm vi của dịch vụ công. Ví dụ, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được
coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế tới các chính sách kinh tế xã
hội, môi trường, văn hóa… Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công
là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước
đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo tiêu chuẩn, quy định của nhà
nước. Hay ở Singapore quốc gia ở Đông Nam Á gần Việt Nam, những dịch vụ như
ngân hàng, bưu chính, giao thông công cộng và tiện ích cơ bản được tách khỏi hoạt
động của Nhà nước, họ đơn thuần là những pháp nhân thương mại. Chính phủ đã lập
ra các cơ quan quản lý để giám sát ở tầm vĩ mô dưới hình thức xem xét mức phí mà
các đơn vị này đặt ra, nhất là trong những lĩnh vực độc quyền.
Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công được hiểu đó là chức năng phục vụ
của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng mà không phải lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Nhiều người cho rằng dịch vụ công là những hoạt
động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của
xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu
vực tư nhân thực hiện.
Hiện nay, khái niệm của thuật ngữ dịch vụ công ở nước ta vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau. Tuy nhiên, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã quy định vấn đề
dịch vụ công trong chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước, như
Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Điều 8 Khoản 4 quy định các nhiệm vụ của Chính
phủ: “Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển kinh tế quốc dân, phát triển văn
10
11
các hoạt động kinh tế, dân sự sinh lợi khác, tổ chức và cá nhân cung cấp dịch vụ
công theo sự ủy quyền của nhà nước phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt mà
nhà nước đặt ra riêng cho lĩnh vực dịch vụ cung ứng.
1.1.2.2. Là một loại dịch vụ do Nhà nước (dưới hình thức là các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho
các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước,
nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội.
Ở đây, Nhà nước là người chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân, xã hội
về số lượng dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ. Trách nhiệm thể hiện qua việc
hoạch định chính sách, thể chế pháp luật, quy định thẩm quyền của các đơn vị công
lập và ngoài công lập cung ứng dịch vụ, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện
nghiệp vụ của các đơn vị này, đảm bảo hài hòa các mối quan hệ giữa các chủ thể
tham gia cung ứng dịch vụ công.
1.1.2.3. Đối tượng cung ứng là loại hàng hóa đặc biệt
Như phân tích ở phần khái niệm, loại hàng hóa được cung ứng ở đây là hàng
hóa “công cộng”. Dịch vụ buộc phải được duy trì ngay cả khi không sinh lợi và
không được tiêu dùng. Bắt nguồn từ mục đích chính là phục vụ lợi ích cộng đồng
nên loại hình dịch vụ công không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Vì thế loại
hàng hóa được cung ứng ở đây không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Hàng
hóa có thể là hiện vật hay phi hiện vật đều được người sử dụng trả tiền dưới hình
thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước chứ không trả trực tiếp (trừ một số phí và lệ
phí theo quy định). Có những dịch vụ người thụ hưởng chỉ phải đóng một phần hay
được miễn toàn bộ lệ phí.
1.1.2.4. Thể hiện rõ vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước:
Nhà nước nắm vai trò chủ đạo trong quá trình cung cấp dịch vụ công. Mặc
dù nhiều dịch vụ công được chuyển giao ra ngoài khu vực nhà nước, song không
thoát ly khỏi sự quản lý và kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Nhà nước bảo đảm
hành chính và sự nghiệp, có thẩm quyền tổ chức và điều hành mọi quá
trình kinh tế - xã hội và hoạt động của các tổ chức, công dân bằng văn
bản quy phạm để thi hành luật.
Hoặc một quan niệm khác lại cho rằng dịch vụ hành chính công là tổng thể
các chính sách, quy định, quy trình, thủ tục... được Nhà nước đầu tư ngân sách và
chịu trách nhiệm quản lý và điều hành, “tổ chức quản lý và thực hiện các hoạt động
của bộ máy chính phủ trong đó có các hoạt động thực thi luật, quy định và quyết
13
định của chính phủ, thực hiện quản lý cung ứng dịch vụ công” [32]. Từ những quan
niệm trên có thể thấy rằng dịch vụ hành chính công gắn liền với chức năng quản lý
của nhà nước. Chỉ có nhà nước mới là chủ thể đủ tư cách pháp lý để đảm nhận các
hoạt động cung ứng. Dịch vụ hành chính công liên quan đến những dịch vụ công
cốt lõi, bao gồm các dịch vụ mà Nhà nước là người duy nhất cung cấp và mọi công
dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng. Nhà nước cung cấp các loại dịch
vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản. Trước đây,
dịch vụ hành chính công đồng nhất với việc thực hiện các dịch vụ công cốt lõi và
Nhà nước là chủ thể duy nhất cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, sau này khi dịch vụ
công được mở rộng thì một vài dịch vụ hành chính công cũng đã được Nhà nước ủy
quyền cho khu vực tư nhân thực hiện.
Chủ thể thực hiện dịch vụ hành chính công là nhà nước hay các cá nhân, tổ
chức được nhà nước ủy quyền thực hiện. Các chủ thể này cung cấp dịch vụ hành
chính công liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước, cụ thể như các hoạt động thẩm định hồ sơ, ký phê duyệt, tổ chức cho
đăng ký, cấp các loại giấy phép, giấy tờ pháp lý (cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép khai thác khoáng
sản, cấp giấy phép xuất nhập khẩu, hải quan, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu...),
công chứng, chứng thực, an ninh, trật tự an toàn xã hội... Người dân thụ hưởng các
dịch vụ. Dịch vụ hành chính công phục vụ lợi ích hoặc tạo điều kiện cho việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức do cơ quan hành chính nhà nước, các tổ
chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân, tổ chức được Nhà nước cho
phép cung cấp theo nguyên tắc bình đẳng, không vì mục đích lợi nhuận, góp phần
thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước.
1.1.3.2. Dịch vụ xã hội công
a. Dịch vụ sự nghiệp công: Loại dịch vụ này bao gồm các hoạt động cung
cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, y tế,
chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội… Theo xu hướng chung hiện nay là Nhà nước
chỉ thực hiện những dịch vụ mà xã hội không thể làm được, vì vậy đối với loại dịch
vụ sự nghiệp công, nhà nước có thể chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ
cho khu vực tư nhân và tổ chức xã hội, nhằm giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai
thác nguồn lực trong xã hội, phá bỏ bao cấp, nâng cao chất lượng dịch vụ công phục
15
vụ người dân. Đây chính là điểm khác với loại dịch vụ hành chính công. Thuật ngữ
xã hội hóa các dịch vụ sự nghiệp công cũng được xuất hiện và mở rộng. Nhiều bệnh
viện, nhà trường và các tổ chức sự nghiệp khác do các tổ chức, cá nhân thực hiện
xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng. Mặc dù về mặt chất lượng cung ứng dịch vụ
còn nhiều điều phải bàn, song việc mở rộng chủ thể cung ứng đã phá vỡ thế độc
quyền của nhà nước, tạo ra những tiện ích đáng kể cho người sử dụng.
b. Dịch vụ công ích: đó là các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ cơ bản
thiết yếu cho người dân liên quan đến vệ sinh môi trường, cấp điện, nước, vận tải
công cộng, xử lý rác thải, phòng chống thiên tai… đều được coi là các dịch vụ công
ích. Các loại dịch vụ này thường được nhà nước ủy quyền cho các doanh nghiệp và
tư nhân thực hiện.
Với các đặc điểm đa dạng của mỗi loại dịch vụ công ích trên, có thể thấy rằng
cung ứng các dịch vụ này có hiệu quả, chất lượng là một điều khó khăn đòi hỏi phải
công vừa có tính chất phục vụ quyền, lợi ích của dân chúng, vừa bảo đảm mục
đích quản lý nhà nước, dưới góc độ khác, dịch vụ công liên quan đến việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, vừa liên quan đến hoạt động của bộ
máy nhà nước nên việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong dịch vụ
phải bằng pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Ở Việt Nam, chưa có sự đồng thuận tuyệt đối trong nhận thức về pháp luật
điều chỉnh dịch vụ công. Dịch vụ là những hoạt động có tính chất "bắc cầu" giữa
quản lý nhà nước với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, trong
giao dịch mà cá nhân, tổ chức tham gia vào. Từ phía các cơ quan nhà nước thì
đảm bảo dịch vụ công tồn tại và phát triển bằng cơ chế pháp luật là nhiệm vụ cần
hoàn thành. Xuất phát từ phía dân chúng thì dịch vụ công là những dịch vụ phục vụ
lợi ích của cá nhân, tổ chức phát sinh từ chính nhu cầu thiết yếu của đời sống hàng
ngày. So sánh với hoạt động quản lý nhà nước có thể thấy rằng quản lý dịch vụ
công là những hoạt động gắn với quyền lực nhà nước, dù được tổ chức thực hiện
như thế nào cũng luôn thể hiện tính đơn phương, tính bắt buộc phải phục tùng và
tính cưỡng chế [11, tr.9,10]. Các dịch vụ công được thực hiện trên cơ sở mối quan
hệ bình đẳng giữa cá nhân, tổ chức là người yêu cầu dịch vụ với cơ quan, tổ chức
cung cấp dịch vụ. Cơ quan nhà nước với tư cách là chủ thể cung cấp dịch vụ, nếu sử
dụng mệnh lệnh để duy trì việc cung cấp dịch vụ thì tính phục vụ của dịch vụ công
không còn. Vì thế, để điều chỉnh dịch vụ công cần sử dụng tổng hợp các quy phạm
17
pháp luật dân sự, thương mại hay quy phạm hành chính phù hợp với từng loại hình
của dịch vụ công. Pháp luật về dịch vụ công vừa phải thể hiện những yếu tố pháp luật
về tổ chức cung cấp, thủ tục cung cấp, quyền kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà
nước với việc cung cấp dịch vụ, vừa có những nội dung của pháp luật về dân sự như
các quy định về quyền, lợi ích của các bên khi tham gia cung ứng dịch vụ công.
Mặc dù có những đặc trưng riêng nhưng pháp luật về dịch vụ công không
chặt chẽ với nhau.
Về nội dung, pháp luật về dịch vụ công là những quy tắc hành vi cho các
chủ thể tham gia vào dịch vụ, ngoài ra còn bao gồm các nguyên tắc, các chủ
trương, chính sách, kế hoạch phát triển từng dịch vụ, nhóm dịch vụ công. Pháp luật
về dịch vụ công có thể chia thành hai nhóm nội dung chính là: các quy định về tổ
chức, cung cấp dịch vụ và các quy định về quản lý nhà nước đối với dịch vụ
công. Các nội dung cụ thể của pháp luật gồm: nguyên tắc của dịch vụ công; hình
thức cung cấp; các yêu cầu, điều kiện đối với việc cung cấp dịch vụ; quyền, nghĩa
vụ các bên trong dịch vụ, thủ tục thực hiện dịch vụ; quy định về tổ chức bộ máy,
tổ chức nhân sự; về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong dịch vụ công.
Về phạm vi tác động, đối tượng điều chỉnh, pháp luật về dịch vụ công tác
động đến các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức tham gia dịch vụ. Đối tượng
tác động của pháp luật về dịch vụ công có thể chia thành ba nhóm cơ bản. Một là,
các chủ thể cung cấp dịch vụ, đây là nhóm chủ thể bằng hoạt động của mình đáp
ứng nhu cầu về dịch vụ công của dân chúng, nhóm này bao gồm các cơ quan hành
chính, các đơn vị, tổ chức dịch vụ công thuộc cơ quan hành chính, các tổ chức
dịch vụ công của cá nhân, tổ chức được nhà nước cho phép cung cấp dịch vụ,
các cán bộ, công chức, viên chức, các cá nhân trực tiếp thực hiện những công
việc nhất định trong quá trình cung cấp một dịch vụ công cụ thể. Hai là, các chủ
thể yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ, đây là những cá nhân, tổ chức đã đưa ra yêu
cầu đến các chủ thể cung cấp dịch vụ và hưởng thụ dịch vụ phù hợp với quy định
của pháp luật. Có những dịch vụ chủ thể hưởng thụ chỉ có thể là cá nhân như
các dịch vụ đăng ký kết hôn, cấp chứng minh thư, cấp giấy phép điều khiển
phương tiện giao thông, cấp thẻ bảo hiểm y tế... cũng có những dịch vụ chủ thể chỉ
có thể là tổ chức như trong dịch vụ cấp giấy phép khai thác khoáng sản chủ thể
chỉ có thể là doanh nghiệp, có những dịch vụ chủ thể hưởng thụ có thể là cá
19
20