“ Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
A/ LỜI MỞ ĐẦU
B/ NỘI DUNG
I/ Những vấn đề cơ bản về dịch vụ logistics ở Việt Nam
1/ Một số hình ảnh về hoạt động logistics ở Việt Nam………………………………..2
2/ Khái niệm và phân loại dịch vụ logistics……………………………………………3
3/ Đặc trưng của dịch vụ logistics……………………………………………………..5
4/ Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp và đối với nền kinh tế………………….6
II/ Quy định của pháp luật hiện hành về dịch vụ logistics
1/ Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động logistics ở Việt Nam……………………….7
2/ Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics ở Việt Nam…………..8
2.1/ Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics……………………………....8
2.2/ Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ dịch vụ logistics……………………..12
2.2.1/ Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics………........13
2.2.2/ Quyền và nghĩa vụ của khách hàng…………………………………………....15
2.3/ Trách nhiệm của người làm dịch vụ logistics…………………………………....16
2.4/ Quy định về quản lý nhà nước về logistics………………………………………18
III/ Thực trạng hoạt động logistics ở Việt Nam cũng như các quy định điều chỉnh
về logistics và phương hướng hoàn thiện pháp luật về logistics
1/ Thực tế hoạt động logistics ở Việt Nam…………………………………………...19
2/ Thực trạng pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics………………………….…...20
3/ Phương hướng hoàn thiện pháp luật hiện hành về dịch vụ logistics…………..…..22
C/ KẾT BÀI
1
A/ LỜI MỞ ĐẦU
Logistics là dịch vụ có cái tên rất mới mẻ đối với nhiều người Việt Nam.
Nhưng có một vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất – kinh doanh của một
ngành và cả nền kinh tế. Với doanh số hàng tỷ đô la thu về mỗi năm, dịch vụ này đang
trở thành một hoạt động hấp dẫn rất nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc
biệt là các doanh nghiệp nước ngoài đã đem đến một thị trường sôi động cho hoạt
động dịch vụ này tại Việt Nam. Dịch vụ logistics là một trong 12 nhóm ngành ưu tiên

vận tải, thông tin liên lạc…đã làm cho logistic có bộ mặt mới và có thể thay đổi về
chất so với bản chất nguyên thuỷ ban đầu là cung ứng “ dịch vụ hậu cần” của nó.
Theo quy định tại Điều 233 của Luật thương mại ( LTM ) 2005: “ Dịch vụ
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc
nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải
quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu,
giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách
hàng để hưởng thù lao”. Như vậy nói một cách đơn giản, dịch vụ logistics là việc thực
hiện và kiểm soát hàng hoá cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên
hàng hoá đến nơi tiêu thụ hàng hoá cuối cùng.
* Phân loại dịch vụ logistics
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại dịch vụ logistics
khác nhau. Theo Điều 4 Nghị Định số 140/2007/ NĐ-CP thì dịch vụ logistic được
phân loại như sau:
Thứ nhất, Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
5
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-
gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho,
hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và
thuê mua container.
Thứ hai, Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải;
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
- Dịch vụ vận tải hàng không;

Thứ ba, Dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ. thương nhân kinh
doanh dịch vụ này được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí hợp lý khác từ
việc cung ứng.
4/ Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp và đối với nền kinh tế
4.1/ Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở
cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi
như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh
nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của
doanh nghiệp
Logistics giúp giải quyết cả đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp một cách hiệu
quả, tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ…logistics
giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp
đã thành công lớn nhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn. Nhưng cũng
không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại vì có những quyết định sai lầm
trong hoạt động logistics như: chọn sai vị trí, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận
chuyển không hiệu quả… Ngoài ra logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động
Maketting. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng
nơi cần đến, vào thời điểm thích hợp. Sản phẩm, dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn
khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn, địa
điểm quy định.
4.2/ Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế và quốc gia. Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay, sự
7
cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn.
Điều này đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của
quốc gia. Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụ logistics toàn cầu thì có thể
tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từ các nước trên thế giới.Chẳng hạn
như: Chi lê - một nước mặc dù ở cách xa hầu hết các thị trường lớn, nhưng lại có vai

- Bộ luật dân sự 2005
- Luật doanh nghiệp 2005
- Luật đầu tư 2005
- Luật cạnh tranh 2004
- Luật Hải quan sửa đổi 2005
- Các quy định khác
* Các quy định chuyên ngành:
- Luật đường sắt 2005
- Luật giao thông đường bộ 2001
- Thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng đường ô tô 1990
- Nghị định số 110/2006/NĐ- CP ngày 28/9/2006 về điều kiện kinh doanh vận
tải bằng ô tô
- Luật giao thông đường thuỷ nội địa 2004
- Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006
- Điều lệ vận chuyển hàng hoá quốc tế của hãng hàng không quốc gia Việt
Nam 1993
- Bộ luật hàng hải 2005
- Nghị định số 49/2006/NĐ-CP về thủ tục đăng ký tàu biển
- Nghị định số 115/2007/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển
- Pháp lệnh bưu chính và viễn thông năm 2002
- Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 18/8/2004 quy định chi tiết việc thi hành
một số điều khoản về bưu chính của pháp lệnh bưu chính và viễn thông 2002
- Thông tư số 01/2005 hướng dẫn thi hành Nghị định số 157.
2/ Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics ở Việt Nam
2.1/ Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
Tại Điều 234 LTM 2005 chỉ quy định rất chung về điều kiện kinh doanh dịch
vụ logistics cụ thể: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp kinh
9
doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật, Chính phủ quy định chi tiết điều
kiện kinh doanh dịch vụ logistics trong các văn bản hướng dẫn thi hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status