11 cơ chế thi hành quyết định của trọng tài theo pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 2 - Pdf 26

Mục lục
Lời nói đầu
Phần Nội dung
Phần Nội dung
I/ Thc trng gii quyt tranh chp ti trng t i th ng mi 2003 hin
nay.
II/ Các quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế thi hành quyết định
của Trọng tài thơng mại ở Việt Nam
1/ Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài thơng mại.
a. Khái quát về cơ quan thi hành án
b. Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài thơng mại
c. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế thi hành quyết
định trọng tài
III/ Một số kiến nghị và giải pháp.
1/ Thực trạng của việc thực hiện các quyết định của trọng tài thông qua
cơ quan thi hành án.
a. Về việc cho thi hành các quyết định của Trọng tài trong nớc.
b. Về việc hủy các quyết định của trng tài Việt Nam và việc công nhận và
cho thi hành các quyết định của Trọng tài nớc ngoài.
2/ Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế thi hành các quyết định của Trọng
tài thơng mại ở Việt Nam
a. Việc thực hiện các quy định của trọng tài thông qua cơ quan thi hành án
b. Đối với vấn đề huỷ các quyết định của trọng tài trong nớc và vấn đề công
nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nớc ngoài
Phần Kết luận
1
Lời nói đầu
Trọng tài thơng mại là hỡnh thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động
thơng mại phổ biến trên thế giới hiện nay nhờ vào những u điểm của nó. Các
nhà kinh doanh trên thế giới rất a chuộng hình thức trọng tài, vì Trọng tài có
những u điểm không thể phủ nhận nh: Giải quyết nhanh và hiệu quả các tranh

tôi chọn đề tài: Cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài th
ơng mại làm đề
ơng mại làm đềtài tiểu luận cho
tài tiểu luận cho
mỡnh
mỡnh
2
PhÇn Néi dung
PhÇn Néi dung
I/ Thực trạng giải quyết tranh chấp tại trọng t i thà ương mại 2003 hiện
nay.
Giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài được nhìn nhận như một
hình thức phổ biến giải quyết các tranh chấp thương mại ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển. Ưu điểm nối bật của xét xử bằng TT so với tòa
án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của TT có giá trị chung thẩm, tức
có hiệu lực cuối cùng và được cưỡng chế thi hành. Các bên có quyền tự do
lựa chọn trọng tài, tự do lựa chọn địa điểm, luật áp dụng với những tranh chấp
có yếu tố nước ngoài, thời gian xét xử. Nếu giải quyết qua con đường Tòa án
ở nước ngoài thì Tòa án Việt Nam có thể không công nhận thi hành bản án
nếu nước đó không có trong hiệp định tương trợ tư pháp. Trong khi nếu là
quyết định của TT thì sẽ rất dễ dàng bởi những nước nào tham gia Công ước
Newyork (Công ước của Liên Hiệp Quốc về công nhận và thi hành bản án của
TT) thì Tòa án sẽ phải mở thủ tục công nhận hiệu lực phán quyết của TT.
Quyết định trọng tài được công nhận và có hiệu lực thi hành tại hơn 130 quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Tuy có nhiều lợi thế, nhưng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
(VIAC) mỗi năm cũng chỉ xử lý được 20-25 vụ. Các trung tâm khác khoảng

mt s vic nht nh, nh khụng phi gii quyt nhng v vic m xó hi cú
th t gii quyt, nht l trong bi cnh h thng Tũa ỏn ang quỏ ti nh hin
nay.
II/ Các quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế thi hành quyết định
của Trọng tài thơng mại ở Việt Nam
1/ Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài thơng
mại.
a. Khái quát về cơ quan thi hành án
4
Cơ quan thi hành án là cơ quan có trách nhiệm đa các bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà án áp dụng vào thực tiễn. Vì vậy, thi hành án
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc củng cố đợc hiệu quả pháp luật, tăng
cờng pháp chế, bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của công dân
và bằng cách đó nâng cao uy tín của bộ máy nhà nớc (mà đại diện là các cơ
quan bảo vệ pháp luật và Toà án). Bởi vì, một bản án hay quyết định của Toà
án dù đợc xử đúng đến đâu thì quyền lợi của các bên bị xâm phạm cũng cha
đợc bảo đảm trên thực tế; chỉ khi bản án, quyết định đó đợc thi hành thì chủ
thể bị xâm phạm quyền lợi của mới thực sự đợc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
ở Việt Nam, công tác thi hành án dân sự đợc thực hiện theo Pháp lệnh thi
hành án dân sự ngày 14/01/2004. Theo điều 11 Pháp lệnh thi hành án dân sự,
các cơ quan thi h nh án dân sự gồm có: Cơ quan thi h nh án dân sự cấp tỉnh,
cơ quan thi h nh án dân sự cấp huyện, cơ quan thi h nh án quân khu v trung
ơng và tơng tơng. Hệ thống cơ quan thi hành án đợc quản lí thống nhất bởi Cơ
quan quản lí thi hành án dân sự thuộc Bộ T pháp.
Pháp lệnh thi hành án dân sự đã có quy định rất rõ về những bản án,
quyết định dân sự đợc cơ quan thi hành án dân sự thi hành. Điều 1 Pháp lệnh
thi hành án dân sự (1993) quy định: Những bản án, quyết định dân sự của
Toà án nói trong Pháp lệnh này bao gồm bản án, quyết định về dân sự, hôn
nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình

môi trờng đầu t kinh doanh ở Việt Nam.
b. Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài thơng
mại
Để khắc phục những hạn chế của việc giải quyết các tranh chấp bằng
trọng tài, bên cạnh việc nâng cao trình độ của các trọng tài viên, tăng cờng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho các trung tâm trọng tài thì vấn đề quan trọng là phải
có một cơ chế thi hành quyết định của Trọg tài một cách hợp pháp. Sự cần
thiết này xuất phát từ những cơ sở sau đây:
Thứ
nhất, xuất phát từ bản chất của trọng tài
6
Trọng tài là cơ quan tài phán phi Chính phủ có thẩm quyền một phần bắt
nguồn từ quyền lực hợp đồng hay còn gọi là quyền lực đại diện, do các
bên tranh chấp giao phó, uỷ nhiệm. Phán quyết trọng tài không mang tính
quyền lực nhà nớc, không đại diện cho ý chí Nhà nớc mà đại diện cho ý chí
của các bên tranh chấp. Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài
gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với việc thi hành phán quyết của trọng
tài: khi trọng tài đã ra phán quyết, nếu một trong các bên không tự nguyện thi
hành, thì bản thân trọng tài cũng không có cơ quan cỡng chế của riêng mình
để cỡng chế thi hành v.v
Thực tế này đặt ra vấn đề cần phải có sự hỗ trợ của cơ quan t pháp để
hiện thực hoá các quyết định của Trọng tài. Có nh vậy, mới đảm bảo cho quá
trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài đợc thông suốt và hiệu quả; đảm bảo
quyền tự do lựa chọn hình thức và cách thức giải quyết tranh chấp của các chủ
thể kinh doanh đợc thực hiện trên thực tế, đảm bảo môi trờng đầu t kinh doanh
lành mạnh và hấp dẫn tại Việt Nam.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn giải quyết tranh chấp ở Việt Nam
Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực phát triển một nền kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa ,có sự quản lí của Nhà nớc, trong đó các quan hệ
kinh tế đang phát triển hết sức phong phú và sôi động. Vì thế, các tranh chấp

trọng tài đợc củng cố, ghi nhận sự hỗ trợ từ phía các cơ quan t pháp thì cũng
chính là chúng ta làm tăng tính hiệu quả hoạt động của Toà án, đồng thời bảo
vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tranh chấp. Các thơng
nhân khi có tranh chấp có thể yên tâm chọn trọng tài để yêu cầu bảo vệ quyền
lợi cho mình.
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng giải quyết tranh chấp của trọng tài ở Việt
Nam
Với thực trạng đã đợc chỉ ra ở trên, trong một thời gian dài hoạt động của
trọng tài rất kém hiệu quả, các vụ tranh chấp đa ra trọng tài quá ít trong khi
Toà án thì lại trong tình trạng quá tải. Các phán quyết của trọng tài dù đã đợc
tuyên nhng khó có khả năng thi hành trên thực tế bởi nếu một bên không chịu
thi hành thì phán quyết đó cũng không đợc cơ quan t pháp cỡng chế thi hành.
8
Do đó, các bên sẽ không lựa chọn trọng tài vì đây là hình thức giải quyết tranh
chấp cha đảm bảo đợc quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm hại.
Mặt khác, pháp luật đã thừa nhận Trọng tài là một thiết chế tài phán độc lập
cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nh Toà án thì cũng phải có cơ chế
đảm bảo việc thực thi phán quyết của trọng tài nh đối với các phán quyết của
Toà án. Từ những yêu cầu trên của thực tiễn, Pháp lệnh trọng tài thơng mại
(2003) lần đầu tiên đã quy định những biện pháp hỗ trợ của cơ quan t pháp đối
với việc thực thi các quyết định của Trọngt ài thơng mại.
Nh vậy, việc Pháp lệnh trọng tài thơng mại quy định sự hỗ trợ của cơ
quan thi hành án đối với các quyết định của Trọng tài thơng mại là xuất phát
từ những cơ sở lí luận mang tính khoa học và đòi hỏi bức xúc của thực tiễn.
Những quy định này sẽ đảm bảo đợc quyền lợi của các bên tranh chấp và đảm
bảo tính khả thi của quyết định trọng tài vốn là một trong những điểm yếu
quan trọng của Trọng tài.
c. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế thi hành
quyết định trọng tài
C1. Cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài trong nớc.

ợc tuyên thì quyền lợi của các bên sẽ không thể đợc đảm bảo một cách đầy
đủ. Hơn nữa, tổ chức trọng tài tuy là phi Chính phủ, nhng nó vẫn hoạt động
trong khuôn khổ quy định pháp luật của một quốc gia nhất định. Do vậy, phán
quyết của trọng tài đa ra cũng cần phải đợc tôn trọng và cho thi hành nh bản
án của Tòa án nếu phán quyết đó là đúng đắn và khách quan. Nh vậy, mục
đích của việc công nhận và cho thi hành các phán quyết của trọng tài nớc
ngoài không gì khác hơn là đảm bảo hiệu lực của các quyết định trọng tài đã
đựơc tuyên, qua đó, đảm bảo quyền lợi cho các bên, tránh xét xử hai lần cùng
một vụ việc, đồng thời đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của các quốc gia,
giải quyết các xung đột về quyền tài phán.
ở Việt Nam, vấn đề công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng
tài nớc ngoài đã đợc quan tâm từ những năm 90. Cụ thể qua hai Pháp lệnh: PL
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định dân sự của Tòa án
nớc ngoài năm 93 và PL công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định
10
của tòa án nớc ngoài năm 95. Để đáp ứng nhu cầu công nhận và cho thi hành
các phán quyết của trọng tài nớc ngoài đang ngày một gia tăng, bên cạnh việc
luật hóa các quyết định của Pháp lệnh trớc đây về vấn đề này (Bộ luật Tố tụng
Dân Sự 2004 - phần VI), chúng ta đã tham gia, kí kết các điều ớc quốc tế về
công nhận và cho thi hành các quyết định của Trọng tài Nớc ngoài nhằm đảm
bảo quyền lợi cho các bên liên quan. Cụ thể: cho đến nay Việt Nam đã kí 14
Hiệp ịnh song phơng về tơng trợ t pháp với nhiều nớc khác nhau, trong các
điều ớc đó đều có công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nớc
ngoài, đặc biệt chúng ta đã là thành viên của Công Ước New York 1958 về
công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nớc ngoài. Đây là một
cơ sở pháp lý quan trọng, tăng cờng niềm tin của các đối tác nớc ngoài khi kí
kết hợp đồng thơng mại với bên Việt Nam.
Cụ thể, pháp luật Việt Nam, phần VI BLTTDS 2004 có quy định về vấn
đề công nhận và cho thi hành các quyết định của Trọng tài nớc ngoài. Theo
đó, không phải mọi quyết định của trọng tài nớc ngoài đều đợc Tòa án Việt

pháp lệnh đã và đang phát huy hiệu quả tích cực, đóng góp một phần quan
trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm trọng tài tại
Việt Nam, làm cho hình thức giải quyết tranh chấp này trở lên hấp dẫn hơn
đối với các doanh nghiệp.
III/ Một số kiến nghị và giải pháp.
1/ Thực trạng của việc thực hiện các quyết định của trọng tài thông qua
cơ quan thi hành án.
Pháp lệnh Trọng tài thơng mại (2003) ra đời đã cải thiện đáng kể hiệu
quả hoạt động của các Trung tâm trọng tài tại Việt Nam. Đặc biệt với việc quy
định việc thực thi các quyết định của Trọng tài thơng mại đã củng cố thêm
lòng tin của các doanh nghiệp đối với quyết định trọng tài. Tuy nhiên, trong
thực tế, việc áp dụng cơ chế này còn phát sinh nhiều vấn đề vớng mắc cần đ-
ợc giải quyết
a. Về việc cho thi hành các quyết định của Trọng tài trong nớc.
Các quyết định của Trọng tài chỉ thực sự có giá trị khi đợc các bên thi
hành trên thực tế. Vì thế, vai trò của cơ quan thi hành án trong việc hỗ trợ hoạt
12
động của Trọng tài là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, đối với các phán quyết của
Trong tài nớc ngoài thì pháp luật hiện hành đã có cơ chế pháp lý rất đầy đủ để
thực hiện việc hỗ trợ thi hành phán quyết của Trọng tài. Còn với các quyết
định của Trọng tài Việt Nam thì chỉ có quy định mang tính nguyên tắc tại điều
57 Pháp lệnh Trọng tài thơng mại (2003) mà không có quy định cụ thể nào
khác cho vấn đề này. Chẳng hạn những quy định về vấn đề nộp lệ phí của ngời
thi hành án và ảnh hởng của vấn đề này đến việc cho thi hành các quyết định
của Trọng tài nớc ngoài, điều kiện thi hành các phán quyết của Trọng tài cần
phải đựơc làm rõ hơn.
Ngoài ra, một điểm nữa cần lu ý là: Bộ luật tố tụng dân sự đã có những
quy định về việc công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nớc
ngoài dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Tuy nhiên, các quy định này cha định
ra đợc thẩm quyền, trình tự thủ tục cho việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại

đó, rõ ràng là chỉ nên đặt ra vấn đề công nhận đối với phán quyết của Trọng
tài Việt Nam để đảm bảo sự tôn trọng hệ thống pháp luật của cả bên Việt Nam
và bên nớc ngoài, đặc biệt là đảm bảo quyền lợi của các bên tranh chấp.
Một điểm quan trọng nữa là khi xét đơn yêu cầu công nhận hoặc không
công nhận quyết định của Trọng tài nớc ngoài, có trờng hợp Hội đồng xét đơn
đã xét luôn cả nội dung vụ việc. Nguyên nhân chủ yếu là do Hội đồng xét đơn
yêu cầu thờng so sánh việc áp dụng luật của nớc ngoài với pháp luật Việt Nam
để xem xét lại nội dung vụ việc có đúng với pháp luật Việt Nam hay không,
sau đó, mới ra quyết định công nhận hoặc quyết định không công nhận phán
quyết của Trọng tài nớc ngoài.
Vấn đề tiếp theo là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong thủ
tục xét đơn yêu cầu công nhận quyết định của Trọng tài nớc ngoài còn cha
chặt chẽ. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Bộ T pháp là cầu nối giữa
cơ quan có thẩm quyền và cá nhân, tổ chức yêu cầu công nhận và thi hành
phán quyết của Trọng tài. Nhng khi các Tòa án tiến hành thụ lý đơn cũng nh
trong quá trình xét xử thờng có một thực tế là các Tòa án hoàn toàn không có
thông báo cũng nh báo cáo Bộ T pháp về các hoạt động của mình. Do vậy, Bộ
T pháp hoàn toàn bị động trớc các vấn đề mà cá nhân hoặc tổ chức nớc ngoài
14
yêu cầu. Về hớng dẫn giải quyết các tình huống này, Tòa án nhân dân tối cao
còn cha quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng mỗi Tòa án áp dụng một cách,
không thống nhất và gây tâm lý không tốt cho các cá nhân, tổ chức nớc ngoài.
Một vấn đề nữa cũng cần đợc xem xét đến xung quanh vấn đề công nhận
và cho thi hành các phán quyết của trọng tài nơc ngoài là, trên thực tế, hầu nh
cha có một hoạt động chuyển tiền và tài sản nào từ Việt Nam ra nớc ngoài để
thực hiện việc thi hành án. Do một số tổ chức, cá nhân và thậm chí một số
thẩm phán cũng cho rằng làm nh vậy là vi phạm nguyên tắc bảo vệ quyền và
lợi ích của Nhà nớc, công dân và pháp nhân Việt Nam. Điều này đã làm ảnh
hởng đến danh dự uy tín của nhà nớc Việt Nam, ảnh hởng đến việc thu hút
đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đồng thời cũng gây tâm lý lo ngại cho các nớc

công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nớc ngoài
Đối với các quyết định của trọng tài trong nớc, nhất là các quyết định của
trọng tài giải quyết các vụ tranh chấp có yếu tố nớc ngoài, cũng chỉ nên đặt ra
vấn đề công nhận chứ không sử dụng thuật ngữ huỷ quyết định trọng tài. Nh
vậy mới đảm bảo công bằng giữa các phán quyết của trọng tài trong nớc với
các phán quyết của trọng tài nớc ngoài . Đồng thời, đảm bảo quyền lợi cho cả
bên Viêt Nam cũng nh bên nớc ngoài tại Việt Nam.
Ngoài ra, Trong việc phối hợp giữa cơ quan t pháp với toà án có thẩm
quyền trong việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành các phán quyết
của Trọng tài nớc ngoài cần chặt chẽ hơn. Pháp luật nên quy định trong quá
trình thụ lý đơn cũng nh trong quá trình xét xử, Toà án phải có những thông
báo bằng văn bản cho Bộ T pháp biết để cơ quan này chủ động giải đáp những
thắc mắc cũng nh hỗ trợ và có các hớng dẫn kịp thời cho các bên đơng sự.
16
Phần Kết luận
Cơ chế thi hành đối với các quyết định của Trọng tài thơng mại là một
chế định mới trong pháp luật về Trọng tài, đợc Pháp lệnh Trọng tài thơng mại
quy định khá chi tiết. Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tập trung phân
tích khái quát bản chất Trọng tài, đặc biệt, đề tài đã tập trung phân tích sâu sắc
nội dung của cơ chế thi hành án theo quy định của pháp luật hiện hành; những
tồn tại trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về Trọng tài về vấn
đề thi hành án; qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật trọng tài về vấn đề này ở Việt Nam. Mặc dù mới xuất hiện và đợc áp
dụng vào thực tiễn trong một thời gian không dài (từ 01/07/2003 đến nay) nh-
ng những biện pháp nhằm thực thi quyết định của Trọng tài thơng mại ở Việt
Nam hiện nay đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tranh chấp. Chế định này là một điểm tiến
bộ vợt bậc của Pháp lệnh Trọng tài thơng mại so với các văn bản pháp luật tr-
ớc đây về Trọng tài, thể hiện sự tơng thích của pháp luật Trọng tài Việt Nam
so với các nớc trong khu vực và trên thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status