Tiểu luận luật kinh tế chuyên ngành đề 1 cơ chế thi hành quyết định của trọng tài theo pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 - Pdf 25

MC LC
Trang
Lời nói đầu 2
Chơng I: Khái quát chung về trọng tài thơng mại
4
1. Khái niệm về trọng tài thơng mại theo pháp lệnh trọng tài 2003 4
2. Đặc điểm của Trọng tài thơng mại 4
2.1 Về thẩm quyền của Trọng tài 4
2.2 Đặc điểm thứ hai là về các hình thức Trọng tài 6
Chơng II: Pháp luật về cơ chế thi hành quyết định
trọng tài
9
1. Khái niệm chung về cơ chế thi hành quyết định trọng tài 9
2. Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài
thơng mại
13
3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế thi
hành quyết định trọng tài
14
Chơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về cơ chế thi hành phán quyết của trọng tài
thơng mại.
19
1. Đối với việc thi hành các quyết định của trọng tài trong nớc. 19
2. Đối với việc công nhận và cho thi hành các phán quyết của
trọng tài nớc ngoài.
19
Kết luận 21
1
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trờng. Do những hiểu biết của
mình của mình còn hạn chế, thời gian nghiên cứu ít ( vừa học vừa làm) nên
không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì thế, tôi rất mong nhận đợc sự
chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô để bài viết của tôi thêm hoàn
thiện.
3
ChơngI: Khái quát chung về trọng tài thơng mại
1. Khái niệm về trọng tài thơng mại theo pháp lệnh trọng tài 2003
Theo cách hiểu thông thờng, Trọng tài đợc hiểu là một phơng thức giải
quyết một cách hoà bình các vụ tranh chấp, trong đó, hai bên đơng sự tự
nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho một ngời thứ
ba có t cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do ngời này đa ra có
hiệu lực ràng buộc đối với cả hai bên
Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Pháp lệnh trọng tài thơng mại (2003),
trọng tài đuợc định nghĩa là phơng thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thơng mại đợc các bên thỏa thuận và tiến hành theo trình tự thủ tục
do Pháp lệnh Trọng tài thuơng mại quy định.
Ngoài ra cũng cần có cách hiểu thống nhất về khái niệm Tranh chấp
kinh tế, vụ việc kinh tế trong Bộ luật tố tụng dân sự; khái niệm kinh
doanh trong Luật Doanh nghiệp, khái niệm hoạt động thơng mại trong
Pháp lệnh trọng tài thơng mại để đảm bảo việc áp dụng các quy
2. Đặc điểm của Trọng tài thơng mại
2.1 Về thẩm quyền của Trọng tài
Trọng tài thơng mại không có thẩm quyền giải quyết đơng nhiên đối với
các tranh chấp thơng mại. Các chủ thể của tranh chấp thơng mại, nếu muốn
lựa chọn Trọng tài là cơ quan phán xử các mâu thuẫn của mình thì phải có đủ
các điều kiện là: Tranh chấp đó là tranh chấp thơng mại; các bên có thỏa
thuận trọng tài hợp pháp vàTrung tâm Trọng tài mà các bên lựa chọn phải còn
tồn tại trong thực tế.
4

ơng mại.
5
Nh vậy, pháp luật đã quy định một cách rõ ràng căn cứ để xác định thoả
thuận trọng tài vô hiệu, tuy nhiên, trong thực tế, tình trạng vi thỏa thuận trọng
tài không hợp lệ còn rất nhiều. Vì vậy, khi xem xét tính hợp pháp của thỏa
thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài hoặc tòa án phải dựa trên sự phán đoán và
phân tích một số yếu tố nh: ý chí của các bên, thông lệ trong thực tiễn. Nhất
là phải đề cao ý chí thực của các bên. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4
điều10 Pháp lệnh trọng tài thơng mại thì thoả thuận trọng tài vô hiệu nếu
không quy định rõ đối tợng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thoả thuận bổ sung. Trên
thực tế, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã nhận đợc những thoả thuận
Trọng tài có khả năng bị coi là vô hiệu nếu áp dụng một cách máy móc khoản
4 Điều 10. Cụ thể, thoả thuận Trọng tài đợc ghi không chính xác. Ví dụ nh:
tranh chấp đợc giải quyết tại Trọng tài kinh tế bên cạnh Phòng Thơng mại và
công nghiệp Việt Nam, tranh chấp đợc giải quyết bằng Trọng tài tại Phòng
thơng mại Việt Nam trong khi chính xác nhất các bên phải ghi là: tranh
chấp đợc giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, bên cạnh
phòng Thơng mại và công nghiệp Việt Nam. Một trờng hợp khác là thoả
thuận trọng tài chọn đợc một Trung tâm Trọng cụ thể đã tồn tại vào thời điểm
các bên kí thoả thuận Trọng tài nhng lại hợp nhất hoặc chấm dứt hoạt động
vào thời điểm các bên có yêu cầu giải quyết tranh chấp. Ví dụ: tranh chấp
đợc đa ra giải quyết tai hội đồng trong tài ngoại thơng Việt Nam, tranh
chấp sẽ đợc giải quyết tại hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam Với những
điều khoản trọng tài nh trên thì Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam không
thể có căn cứ để thụ lý giải quyết vụ tranh chấp nếu áp dụng đúng nh quy
định của Pháp lệnh Trọng tài thơng mại. Trong trờng hợp này, cách thức xử lý
của Tòa án còn cha đợc quy định một cách rõ ràng.
2.2 Đặc điểm thứ hai là về các hình thức Trọng tài
Trọng tài ở các nớc nói chung và ở Việt Nam nói riêng đợc tổ chức dới

theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, đối với các
tranh chấp có yếu tố nớc ngoài thì các bên có quyền chỉ định trọng tài viên
ngoài danh sách trọng tài viên của Trung tâm (xem điều 8 Pháp lệnh Trọng
tài thơng mại).
7
Thứ ba, về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của Trọng tài thơng mại.
Trọng tài là một cơ quan xét xử, do vậy, những hoạt động, những quyết
định của Trọng tài có ảnh huởng rất lớn đến quyền lọi và nghĩa vụ của các
bên. Chính vì thế, pháp luật đã đặt ra những quy tắc nhất định để đảm bảo sự
công bằng, vô t trong phán xét của thiết chế tài phán phi chính phủ này.
Cụ thể, khi tiến hành hoạt động phân xử, trọng tài thơng mại phải tuân
theo các nguyên tắc sau: Tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp
(các bên có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên, địa điểm giải quyết vụ tranh
chấp); Trọng tài xét xử kín (Phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công
khai. Tại phiên họp có sự tham gia của các bên tranh chấp hoặc đại diện của
các bên). Trọng tài giải quyết tranh chấp trong giới hạn yêu cầu của các bên
(khi các bên có yêu cầu giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ tranh chấp thì
Trọng tài cũng chỉ giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ tranh chấp theo yêu
cầu đó). Các bên có quyền thuơng luợng trong toàn bộ quá trình giải quyết
tranh chấp. từ giai đoạn hòa giải cho đến khi Hội đồng trọng tài mở phiên họp
giải quyết vụ tranh chấp. Ngay cả tại phiên họp của Hội đồng trọng tài nếu
các bên tự thơng lợng đợc với nhau nhằm giải quyết tranh chấp thì Hội đồng
trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp theo khoản 2 Điều 47
Pháp lệnh trọng tài thơng mại. Một nguyên tắc cuối cùng là Trọng tài chỉ giải
quyết một lần. Khác với tòa án, có hai cấp xét xử, trọng tài chỉ xét xử một
lần, do vậy quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm và các bên phải thi
hành ngay khi quyết định này có hiệu lực. Trờng hợp có kháng cáo, kháng
nghị thì Tòa án phải xem xét việc hủy hay không hủy quyết định trọng tài
8
Chơng II: Pháp luật về cơ chế thi hành quyết định

chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm
Trọng tài cho bị đơn.
Trong trờng hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống
nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mơi ngày, kể từ ngày nhận đ-
ợc yêu cầu chọn Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Hết thời hạn này,
nếu các bị đơn không chọn đợc Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm
việc, kể từ ngày nhận đợc yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định
Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài
cho các bị đơn. Trong thời hạn mời lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên đ-
ợc các bên chọn hoặc đợc Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định, các Trọng
tài viên này phải chọn Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài
viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn
này, hai Trọng tài viên đợc chọn hoặc đợc chỉ định không chọn đợc Trọng tài
viên thứ ba thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn, theo yêu
cầu của một bên hoặc các bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng
tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài
làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Trong trờng hợp các bên thoả thuận vụ
tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất của Trung tâm Trọng tài giải quyết, nh-
ng không chọn đợc Trọng tài viên thì theo yêu cầu của một bên, Chủ tịch
Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời
hạn mời lăm ngày, kể từ ngày nhận đợc yêu cầu và thông báo cho các bên.
Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ nh một Hội đồng Trọng tài. Quyết
định của Trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành nh quyết định của Hội
đồng Trọng tài.
10
* Quyết định về việc xem xét thỏa thuận Trọng tài:
Trớc khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại của một
bên về việc Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh
chấp; vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài
vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem xét, quyết định với sự có mặt của các

Hội đồng Trọng tài đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp trong các trờng hợp
sau đây: Nguyên đơn rút đơn kiện hoặc đợc coi là đã rút đơn kiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 40 của Pháp lệnh trọng tài, trừ trờng hợp bị đơn yêu
cầu tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp; các bên thoả thuận chấm dứt việc giải
quyết vụ tranh chấp.
* Trọng tài ra quyết định Trọng tài để giải quyết vụ tranh chấp:
Quá trình tố tụng trọng tài sẽ kết thúc khi Hội đồng trọng tài ra quyết
định trọng tài. Đây là vấn đề quan trọng hơn cả trong suốt quá trình tố tụng.
Do vậy, pháp luật đã có những quy định khá vụ thể, chi tiết về vấn đề này. Cụ
thể, về nguyên tắc ra quyết định: quyết định trọng tài của Hội đồng Trọng
tài đợc lập theo nguyên tắc đa số, trừ trờng hợp vụ tranh chấp do Trọng tài
viên duy nhất giải quyết. Về nội dung, quyết định trọng tài phải có các nội
dung chủ yếu sau đây: Ngày, tháng, năm và địa điểm ra quyết định trọng tài;
trong trờng hợp việc giải quyết vụ tranh chấp do Trung tâm Trọng tài tổ chức
thì quyết định trọng tài phải có tên Trung tâm Trọng tài; tên, địa chỉ của
nguyên đơn và bị đơn; họ, tên các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy
nhất; tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp; cơ sở để ra quyết định trọng
tài; quyết định về vụ tranh chấp; quyết định về phí trọng tài và các chi phí
khác; thời hạn thi hành quyết định trọng tài; chữ ký của các Trọng tài viên
hoặc Trọng tài viên duy nhất. Về việc công bố quyết định trọng tài: Quyết
định trọng tài có thể đợc công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc sau đó,
nhng chậm nhất là sáu mơi ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng.
Toàn văn quyết định trọng tài phải đợc gửi cho các bên ngay sau ngày công
bố.
12
Nh vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp thơng mại, trọng tài có thể
ra rất nhiều các quyết định khác nhau, tuy nhiên, trong phạm vi bài tiểu luận
này, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề thi hành các quyết định của trọng tài về
giải quyết vụ tranh chấp thơng mại.
2. Sự cần thiết phải có cơ chế thi hành quyết định của Trọng tài thơng

định của trọng tài mà việc hiện thực hóa các quyết định của trọng tài hòan toàn
phụ thuộc vào ý thức tự giác của các bên. Mặt khác, pháp luật còn có quy định
là khi một bên đã khởi kiện ra trọng tài thì đồng thời cũng mất quyền đa vụ
tranh chấp ra giải quyết tại tòa án. Chính điều này đã làm cho các trung tâm
trọng tài trong một thời gian dài hoạt động kém hiệu quả, các tranh chấp kinh tế
đổ dồn về phía tòa án gây lên tình trạng quá tải nghiêm trọng. Nhiều các tranh
chấp kinh tế không đợc đa ra giải quyết,không đảm bảo đợc quyền lợi cho các
chủ thể kinh doanh.
Xuất phát từ những lý do nói trên, việc quy định một cơ chế thi hành đối
với các quyết định của trọng tài thơng mại là vô cùng cần thiết. Vì thế, pháp lênh
trọng tài thơng mại 2003 đã có những quy định khá cụ thể về vấn đề này.
3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế thi hành
quyết định trọng tài
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, khi các giao lu kinh
tế đợc thực hiện ngày càng nhiều, thì việc giải quyết tranh chấp kinh tế có
yếu tố nớc ngoài cũng ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, để tránh việc
xét xử lại các vụ việc kinh té đã đợc phán xét bởi các trung tâm trọng tài nớc
ngoài, pháp luật các nớc đều đặt ra vấn đề là việc công nhận và cho thi hành
các phán quyết của trọng tài nớc ngoài.
Kết thúc quá trình trọng tài, Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định trọng tài
trên cơ sở những nguyên tắc pháp luật nhất định. Theo quy định của pháp
lệnh Trọng tài 2003, quyết định của Trọng tài có giá trị chung thẩm và có
hiệu lực kể từ ngày công bố. Quyết định của trọng tài không bị kháng cáo
kháng nghị. Điều này có nghĩa là ngay sau khi Hội đồng trọng tài công bố
quyết định trọng tài, các bên phải thi hành quyết định trọng tài, trừ trờng hợp
một trong các bên làm đơn yêu cầu Tòa án hủy quyết định trọng tài. Trong
14
thời hạn ba mơi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài,
nếu một bên không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy quyết định
trọng tài theo quy định tại Điều 50 của Pháp lệnh trọng tài thơng mại thì bên

ước quốc tế. Nội dung thể hiện sự tôn trọng điều ước quốc tế này được quy
định trong Khoản 3 Điều 2 của BLTTDS và trong nhiều quy định của một số
văn bản pháp luật khác như: Khoản 2 Điều 827 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều
5 Luật cạnh tranh… ).
Trên thực tế Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương về
tương trợ tư pháp và pháp lý. Trong các HĐTTTP này Việt Nam đã thoả
thuận với các nước ký kết đối với việc công nhận và cho thi hành bản án và
quyết định dân sự của nhau trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở quy định của
HĐTTTP, nội dung quy định về vấn đề này được thực hiện theo nguyên tắc
những phán quyết của toà án của nước ký kết này sẽ được công nhận và cho
thi hành trên lãnh thổ của nước ký kết kia.
Toà án Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định
của trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam: Nhằm bảo
vệ quyền lợi của các bên đương sự, đặc biệt là của nguyên đơn trong các vụ
kiện có yếu tố nước ngoài, trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy
định việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng
tài nước ngoài tuyên. Về vấn đề này, BLTTDS quy định toà án xem xét công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam c ác quy êvà quyết định dân sự đó nếu
được pháp luật Việt Nam công nhận và cho thi hành (Điều 343 BLTTDS).
Trong BLTTDS không quy định cụ thể loại quyết định của trọng tài
nước ngoài tuyên sẽ được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Tuy
nhiên, trong BLTTDS lại quy định rất cụ thể các loại quyết định của trọng
tài nước ngoài sẽ không được toà án của Việt Nam xem xét công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam: Theo quy định tại Điều 370 BLTTDS, toà án của Việt
Nam sẽ không xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết
định của Trọng tài nước ngoài sau đây: Quyết định trọng tài dựa trên ký kết
16
thoả thuận trọng tài của các bên không đủ năng lực hành vi ký kết theo quy
định của pháp luật áp dụng cho mỗi bên.Quy định này được hiểu là các bên
ký kết phải đủ năng lực hành vi ký kết. Như vậy, nếu một trong các bên

dân một nước thì nước có công dân bị hạn chế quyền lợi sẽ áp dụng biện
pháp trả đũa bằng cách hạn chế ngay những quyền lợi tương tự đối với công
dân của nước kia.
Quyết định của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam
sau khi đã được toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành: Trong quan
hệ quốc tế, việc cho thi hành một bản án của toà án hoặc một quyết định của
trọng tài nước ngoài không chỉ thể hiện quan điểm của toà án nước cho thi
hành bản án đối với việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bị hại mà còn
thể hiện sự tôn trọng của cơ quan xét xử nước này đối với phán quyết của cơ
quan xét xử nước khác. Tuy nhiên, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn tư pháp
thì một bản án hoặc quyết định dân sự của toà án nước này tuyên sẽ không
được thi hành ở một nước khác khi chưa được nước khác đó công nhận và
cho thi hành. Nguyên tắc này được áp dụng không chỉ thể hiện chủ quyền
quốc gia mà còn đảm bảo rằng nội dung của bản án cũng như hậu quả của
việc thi hành các bản án của toà án nước ngoài tuyên sẽ không đi ngược lại
những nguyên tắc pháp lý của nước nơi thi hành bản án đó.
Tóm lại, việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước
ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam, các nguyên tắc công nhận và cho thi hành các quyết định của
trọng tài nước ngoài được quy định trong BLTTDS. Theo đó toà án của Việt
Nam chỉ công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài khi:
Việc công nhận và cho thi hành này phù hợp với các điều ước quốc tế mà
Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; phù hợp với quy định của pháp luật Việt
Nam; trên nguyên tắc có đi có lại; và việc thi hành chỉ được thực hiện sau khi
đã được Toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành. Việc tuân thủ các
18
nguyờn tc ny khụng ch th hin ch quyn ca Vit Nam m cũn phự hp
vi xu th hi nhp kinh t quc t trong giai on hin nay.
Chơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
cơ chế thi hành phán quyết của trọng tài thơng mại.

Trong việc phối hợp giữa cơ quan t pháp với toà án có thẩm quyền trong
việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành các phán quyết của Trọng tài
nớc ngoài cần chặt chẽ hơn. Pháp luật nên quy định trong quá trình thụ lý đơn
cũng nh trong quá trình xét xử, Toà án phải có những thông báo bằng văn bản
cho Bộ T pháp biết để cơ quan này chủ động giải đáp những thắc mắc cũng
nh hỗ trợ và có các hớng dẫn kịp thời cho các bên đơng sự
20
Kết luận
Kể từ khi Pháp lệnh Trọng tài thuơng mại 2003 ra đời, số vụ tranh chấp
kinh tế đợc giải quyết tại các trung tâm trọng tài, đặc biệt là Trung tâm trọng
tài Quốc tế Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Đây là dấu hiệu khả quan chứng tỏ
các chủ doanh nghiệp ngày càng tin tởng vào cơ chế giải quyết tiến bộ này.
Trong tơng lai, việc ban hành luật Trọng tài thơng mại sẽ tạo thêm cơ sở pháp
lý vững chắc cho Trọng tài thơng mại hoạt động với t cách một thiết chế tài
phán t với nhiều u điểm nổi bật. Đóng góp vào những thành công đó, có một
phần không nhỏ của việc quy định một cơ chế pháp lý rõ ràng, minh bạch cho
việc thực thi các quyết định của Trọng tài. Vì mục đích của việc xét xử là
đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm, thiết lập một trật lí công bằng cho các
chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Mục đích đó chỉ có thể đạt đợc khi
các phán quyết của Trọng tài đợc thực thi trong thực tế. Nói cách khác, việc
hiện thực hóa các quyết định của Trọng tài, Tòa án là yếu tố ảnh hởng trực
tiếp nhất đến quyền lợi của các chủ thể.
Trong phạm vi một bài tiểu luận nhỏ, tác giả đã có những phân tích một
cách hệ thống, khái quát về các vấn đề pháp lý liên quan đến Trọng tài. Qua
đó, làm nổi bật bản chất của Trọng tài, những u nhợc điểm của hình thức giải
quyết tranh chấp này. Không chỉ dừng lại ở đó, bài tiểu luận cũng có đa ra
những kiến nghị trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của trọng tài thơng
mại nhằm hoàn thiện hơn hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế đang rất đợc
u chuộng hiện nay.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status