BỐ CỤC ĐỀ TÀI
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Lí luận về việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng
1. Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong lịch
sử pháp luật nước ta
2. Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000
II. Cơ sở lí luận của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ
chồng
III. Thực tiễn của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ
chồng
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự kiện kết hôn đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng.
Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và
quyền về nhân thân và các nghĩa vụ và quyền về tài sản. Quyền và nghĩa vụ
về tài sản giữa vợ và chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa
vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 quy định vợ, chồng có quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất và vợ, chồng có quyền sở hữu đối với tài sản riêng. Vậy cơ
sở lí luận và thực tiễn của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng như thế nào?
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Lí luận về việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng
1. Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong lịch
sử pháp luật nước ta
Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiến tập quyền kéo dài hàng
nghìn năm, luật pháp chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng triết học Nho giáo,
Phật giáo… với quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “tam tòng tứ đức”, “ngũ
luân”… Bên cạnh đó, luật pháp về hôn nhân và gia đình có liên quan nhiều
gồm các tư liệu tiêu dung, vợ chồng hầu như chỉ có các tài sản phục vụ sinh
hoạt. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ trong quan hệ gia đình
về tài sản, trong bối cảnh cuộc đấu tranh xóa bỏ tàn dư của chế độ phong
3
kiến, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định vợ, chồng có quyền sở
hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi
cưới (Điều 15). Tuy nhiên do điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên
chưa có điều kiện để thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng cũng
như quyền chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời trong thời kì đổi mới của đất
nước, gồm 57 Điều, 10 chương. Trong chương III về Nghĩa vụ và quyền của
vợ chồng (gồm 9 Điều), Luật quy định đầy đủ về nghĩa vụ, quyền nhân thân
và tài sản vợ, chồng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 tiếp tục thừa nhận
trên nguyên tắc tài sản của vợ hoặc chồng là tài sản chung và được sử dụng
vì lợi ích chung của gia đình, quy định cụ thể hơn những tài sản nào được
coi là tài sản chung, quyền bình đẳng của vợ, chồng trong việc định đoạt
khối tài sản chung. Điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là
thừa nhận quyền có tài sản riêng và quyền định đoạt tài sản riêng của vợ,
chồng, quy định việc chia tài sản khi hôn nhân còn tồn tại. Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986 do được ban hành vào đầu thời kì đổi mới của đất nước,
lần đầu ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng cho nên khi dự liệu về
tài sản riêng của vợ, chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy
định một cách hết sức “tế nhị”, mềm dẻo, tránh được sự mất ổn định về vấn
đề tài sản trong gia đình. Đó cũng là yêu cầu của công tác lập pháp và thực
hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986 thì: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết
hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân
thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản
chung của vợ, chồng”. Quy định này có tính chất “mở”, “tùy nghi”, cho
4
hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó, đồ dùng, tư trang
cá nhân mới được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
Điều 33, 29, 30 của Luật này còn quy định cụ thể về quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt riêng của mỗi bên vợ chồng, về việc chia tài sản chung của
vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại: “trong trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu
riêng của mỗi người”.
II. Cơ sở lí luận của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ
chồng
Hầu hết pháp luật các nước cũng như Luật Hôn nhân và gia đình nước
ta ghi nhân chế độ tài sản riêng của vợ chồng. Thực chất đây là việc thừa
nhận tính độc lập trong quan hệ tài sản của vợ và chồng, đảm bảo tính thống
nhất nội tại, chặt chẽ trong chế định sở hữu chung và sở hữu riêng của vợ
chồng. Không nên cho rằng quy định chế độ tài sản riêng của vợ chồng sẽ
gây nên tâm lí “của anh của tôi” làm cho tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ. Thực
tế cuộc sống cho thấy, trong đời sống gia đình khi hôn nhân đang tồn tại thì
không bao giờ phân biệt rạch ròi của chung của riêng, đây là vấn đề hết sức
phức tạp và tế nhị. Vấn đề sở hữu tài sản bao giờ cũng được điều chỉnh hợp
lí, phù hợp với từng gia đình. Việc xác định tài sản của vợ chồng chỉ thực sự
có ý nghĩa khi phải giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợ
6
hoặc chồng khi cần thanh toán tài sản mà bản thân người vợ hoặc chồng
tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế cụ thể nào đó. Quy định
vợ chồng có tài sản riêng là rất cần thiết, nó bảo vệ quyền lợi chính đáng của
hai vợ chồng đối với tài sản riêng của họ, phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội. Ngày nay do kết quả của sự nghiệp giải phóng phụ nữ, vai trò
lao động và vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội
rất lớn và bình đẳng với nam giới. Vì vậy pháp luật quy định vợ chồng có
quyền sở hữu những tài sản riêng không ảnh hưởng đến lợi ích của vợ
chồng, không ảnh hưởng đến lợi ích về quyền bình đẳng của các công dân
ta hiện nay, Đảng và Nhà nước bằng pháp luật với các chính sách, đường lối
đổi mới và phát triển nền kinh tế xã hội, khuyến khích và bằng nhiều biện
pháp tạo điều kiện cho công dân tạo ra thu nhập, tài sản làm giàu cho cá
nhân, gia đình và xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần
của con người đang ngày càng cao và phong phú. Vậy, pháp luật phải cụ thể
hóa Hiến pháp và bảo đảm sở hữu riêng của công dân. Điều này đã được ghi
nhận trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 (Bộ luật dân sự 1995 trước
đây) từ Điều 211 đến Điều 213. Điều 212 Bộ luật dân sự 2005 ghi nhận tài
sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm: “Thu nhập hợp pháp, của cải để dành,
nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản
hợp pháp khác của cá nhân”. Như vậy, trong hôn nhân, vợ chồng có quyền
sử dụng tài sản thuộc sở hữu riêng phục vụ cho nhu cầu của mình với bất kì
mục đích gì miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
8
Theo Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 ghi
nhận: “Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng
gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng,
được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ,
chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ, chồng có quyền nhập
hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”. Như vậy, vợ chồng
tồn tại với tư cách là các chủ sở hữu tài sản riêng của mình một cách độc lập
trong phạm vi tài sản mà Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy
định. Theo luật định, sự kiện kết hôn không làm mất đi quyền sở hữu riêng
tài sản của họ. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vợ,
chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ
trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung
mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình
thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.
Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong Luật
chị xây nhà. Anh chị chung sống trong căn nhà đó được năm năm thì li hôn.
Khi anh chị li hôn, bố anh K đòi được chia một nửa giá trị ngôi nhà, tương
đương với số tiền trước đây ông đã cho vợ chồng anh chị để xây nhà. Tòa án
nhân dân huyện V đã coi số tiền mà ông bố anh K đã cho vợ chồng anh chị
trước đây là khoản nợ chung của anh chị và quyết định anh chị phải trả số nợ
10
đó. Thiết nghĩ, trong trường hợp này Tòa án đã sai lầm trong việc xác định
đây là khoản nợ chung. Lẽ ra số tiền mà ông bố anh K đã cho anh chị để
mua nguyên vật liệu xây nhà phải coi là tài sản mà anh chị được cho chung
và là tài sản chung của vợ chồng. Bởi vì ngay trong lí do mà bố anh K đưa ra
để đòi chia một nửa giá trị ngôi nhà đã thể hiện rõ ông đã cho vợ chồng anh
K số tiền đó: “tiền tôi cho để xây nhà nhưng vợ chồng phải ở với nhau, nếu
li hôn thì tôi đòi lại…”. Trong trường hợp này, bố anh K không có quyền đòi
lại những tài sản mà trước đây ông đã cho cũng như không có quyền yêu cầu
chia một nửa giá trị ngôi nhà đó vì đó là tài sản chung của anh K và chị Y.
Có trường hợp cha mẹ tặng cho con tài sản khi còn đang tồn tại quan hệ
hôn nhân nhưng trong giấy tặng cho tài sản không ghi là tặng cho vợ chồng
con mà chỉ ghi là cho một người (là con trai hoặc con gái), nhưng vợ chồng
đã cùng nhau sử dụng trong một thời gian dài, đến khi vợ chồng có mâu
thuẫn thì người được tặng cho tài sản trả lại cho bố mẹ tài sản đó. Đối với
trường hợp này, tài sản đó có được xác định là tài sản chung của vợ chồng
hay không?
Ví dụ: Vụ li hôn giữa anh H và chị N. Anh H và chị N kết hôn năm 1991,
có hai con chung, có một số tài sản là động sản và ngôi nhà nằm trên diện
tích 6907 m
2
đất. Diện tích đất này trước đây là của ông T và bà L (là bố mẹ
anh H). Ngày 08.04.1997, ông T và bà L đã viết giấy chuyển quyền sử dụng
đất cho vợ chồng anh H. Sau đó vợ chồng anh chị H và N đã xây một nhà
lợp ngói diện tích 40 m
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ghi nhận quyền có tài
sản riêng của mỗi bên vợ chồng tại các Điều 32, 33, 29, 30, việc quy định
như vậy là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân
đã được Hiến pháp thừa nhận (Điều 58 Hiến pháp 1992) và cũng phù hợp
với những quy định về quyền sở hữu tư nhân trong Bộ luật Dân sự. Việc quy
định vợ, chồng có tài sản riêng không làm ảnh hưởng đến tính chất của quan
hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình mà để
nhằm đảm bảo cho mỗi bên vợ, chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài
sản một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bên kia… Luật đã xác
12
định rõ chế độ tài sản của vợ, chồng gồm sở hữu của vợ, chồng đối với tài
sản thuộc sở hữu chung hợp nhất và sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản
riêng. Đây là chế độ tài sản mà pháp luật đã quy định. Vợ chồng không thể
tự thỏa thuận để làm thay đổi chế độ tài sản của họ mà hãy cùng nhau thực
hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ về tài sản của mình để góp phần xây
dựng gia đình ngày càng ấm no, hạnh phúc.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009
2. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số ván đề lí luận và thực tiễn về
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002
3. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, tập 1, NXB. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2002
4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
5. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 và năm 2005
6. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội,