Tiểu luận:
Nghiên Cứu Học Tập Một Số Thơ Văn
Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Nguồn tham khảo:
Dựa theo tập san nghiên cứu văn học số 5 năm 1960
(bài này mình sưu tầm và đánh máy lại nên chưa sửa lỗi chính tả, mong các bạn
thông cảm. tài liệu có thể dùng cho giáo viên và học sinh tham khảo, rất bổ ích)
Mỗi lần chúng ta có dịp ôn lại thơ văn Hồ chủ tịch. Là mỗi lần
chúng ta thấy trong thơ văn ấy tỏa ra những ánh sáng mới. Thơ
văn hồ chủ tịch là sự kết tinh lý tưởng đẹp đẽ nhất của loài
người: lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Rõ ràng thơ văn Hồ chủ tịch
là một kho tàng triết lý và chân lý mà hầu như không bao giờ
chúng ta khai thác hết. Mỗi lần đọc lại thơ văn người. Chúng ta
lại thấy nhận thức tư tưởng và tình cảm của chúng ta được nâng
cao thêm một mức. Chúng ta học tập ở thơ văn người cái bí
quyết làm con người mới. con người tự do, làm chủ vận mệnh
mình và làm chủ vũ trụ.
Hồ chủ tịch thường sử dụng hai loại văn: văn chính luận và
văn nghệ thuật. nếu như thơ nghệ thuật của hồ chủ tịch thể hiện
nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, một chủ nghĩa nhân đạo
tuyệt vời, thì văn chính luận của người thể hiện đường lối, chủ
trương của đảng, những chính sách lớn của đảng nhằm dành
thắng lợi cho dân tộc Việt Nam và hạnh phúc của nhân dân Việt
Nam.
Cũng nên nói qua một điều: chúng ta cần biết đến văn chính
luận và văn nghệ thuật là hai loại văn khác nhau. Văn chính luận
chủ yếu đi vào lý trí. Nhằm đạt yêu cầu tư tưởng mà không quan
bấy giờ, mà đến cả ngày nay, và có thể còn về lâu sau nữa. rõ
ràng, văn chính luận của Hồ chủ tịch có cái gì hơn là những bài
cổ động thông thường, vì nếu bảo rằng văn chính luận chỉ là
tuyên truyền khô khan. Là chính trị cứng rắn, thì những sự việc
từ mười, mười lắm năm nay tất nhiên đã qua rồi; những nhiệm
vụ Hồ chủ tịch đề ra thuở ấy; nhân dân ta đã hoàn thành rồi; như
vậy phải chẳng ngày nay đọc lại những lời kêu gọi của Hồ chủ
tịch, chúng ta dửng dưng như không , không có một tí xúc động?
Không! Nghìn lần không! Sau mười, mười lăm năm, đọc lại văn
ấy chúng ta vẫn thấy hồi hộp, bâng khuâng, chúng ta vẫn thấy
xót xa, phấn khởi.
Nguyên nhân nào đã xui nên những lời văn tuyên truyền, kêu
gọi còn giữ được tác dụng lâu dài như vậy? ấy là vì những lời
văn ấy là tiếng gọi chân thành tự trong lòng vị lãnh tụ của dân
tộc thốt ra. Vì hồ chủ tịch là sự chân thành hiện hình , và nghe
lời người nói là chúng ta :
…Tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau…
Hồ chủ tịch luôn luôn chủ trương lấy sự chân thành mà đãi
người, dùng sự chân thành để cảm hóa long người.
Người dạy: “ Đánh vào lòng là hơn hết, đánh vào thành trì là
thứ hai”. Lời kêu gọi của người thấm nhuần tinh thần của khẩu
hiệu ấy. nguyên nhân tác dụng lớn lao của văn chính luận của hồ
chủ tịch chính là ở đó. Nguyễn đình thi nhận định :“ khi hồ chủ
tịch nói , là nhà hiền triết và người thi sĩ trong lòng mỗi người
dân nói lên” và tiếng nói đó, theo Nguyễn Đình Thi, “ động thấu
những miền sâu xa và đẹp đẽ nhất của lòng người”.
Văn chính luận của Hồ chủ tịch mang cả một mối cảm tình
dạt dào, nồng cháy. Trong những ngày nguy kịp nhất tổ quốc ta
“ Nếu chiến tranh kéo dài… nước ta sẽ bị tàn phá tiêu điều.
nhưng dù tiêu điều đến đâu, non nước này vẫn là non nước Việt
Nam. Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con
cháu ta sẽ xây dựng một đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập!”
Đó là tính chất ngoan cường của một dân tộc bất khuất phát
tiết ra thành hình ảnh sinh động. thành lời lẽ đanh thép mà ngày
nay đọc lại, chúng ta còn thấy phấn khởi tự hào. Hồ chủ tịch
thường có những câu, những chữ gây cảm xúc mạnh mẽ như
vậy.
Kêu gọi nhân dân tin tưởng vào sự ủng hộ của các nước anh
em, người nói:
“ Tám trăm triệu bầu bạn đang nhìn vào chúng ta, đang
mong chờ chúng ta thắng lợi và chắc chắn chúng ta sẽ thắng lợi”
Câu nói của chủ tịch Hồ chí minh mang cả một khí thế hào
hùng, một tinh thần tin tưởng sắt đá ở hậu thuẫn to lớn cho cuộc
kháng chiến của ta, đó là sự đồng tình tích cực của nhân dân các
nước xã hội chủ nghĩa.
Ngược thời gian lên một tí, chúng ta còn nhớ năm 1941,
trong thư từ nước ngoài gửi về, cụ Nguyễn ái quốc đã có những
câu :
“ Hơn hai mươi triệu con cháu lạc hồng quyết không chịu kéo
dài cuộc đời nô lệ … tinh thần trung liệt của các bậc tiền bối như
phan đình hùng, hoàng hoa thám, lương ngọc quyến vẫn còn đó,
sự tích anh hùng của các nghĩa sĩ các tỉnh thái nguyên, yên bái,
nghệ tĩnh..vv.. vẫn trường tồn. các cuộc khởi nghĩa gần đây ở
nam kì , đô lương, bắc sơn, đã chứng minh rằng đồng bào ta
quyết bước theo dấu máu quang vinh của tiền nhân, anh dũng
giết giặc. Nhưng công lớn chưa thành, thực không phải vì giặc
Hoặc:
“Một dân tộc gan góc chống ách nô lệ của pháp hơn 80 năm
nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phátxít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải
được độc lập”.
Chúng tôi nghĩ rằng để nói cho được những câu như thế, dân
tộc việt nam đã phải hi sinh bao nhiêu thế hệ con ưu tú của mình,
và mấy câu ấy cũng cổ vũ biết bao nhiêu thế hệ con ưu tú khác
quyết tâm giữ vững nền độc lấp của mình. Chúng ta liên hệ đến
các dân tộc đang đấu tranh anh dũng chống chủ nghĩa thực dân
để giành độc lập tự do, và chúng ta mong chờ các dân tộc bạn
thành công để tuyên bố với thế giới những câu tương tự.
Một đặc điểm nữa có tắc dụng nâng lên rất cao tính nghệ
thuật của văn chính luận HỒ CHỦ TỊCH. Là đọc văn người
chúng ta thấy một tình thương tình yêu mênh mông bao trùm lấy
tác phẩm của người, và bao trùm lấy tất cả chúng ta: tình yêu
non sông đất nước, thương yêu nhân dân lao động và tất thảy các
đồng bào, tình quốc tế vô sản và tình nhân loại. Vì thấm nhuần
tình thương yêu tràn ngập ấy, mà văn người, dù là văn chính
luận, vẫn mang tính chất nồng cháy, lâm ly. Ai không còn nhứ
những lời kêu gọi nhân dân, nhịn ăn cứu đói”
“Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ,
chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả
nước, và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa,
mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu
dân nghèo. Như vậy thì những nghười nghèo sẽ có bữa rau, bữ
cháo để chờ mùa lúa sau, khỏi đến nỗi chết đói… tôi xin thay
mặt dân nghèo mà cảm ơn đồng bào”.
Ai không còn những lời thiết tha người nói về tử sĩ, về
lập, tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán; làm cho thế giới
biết rằng chúng ta là một dân tộc thông minh, văn minh hơn bọn
đi giết người cướp nước”.
Sau đó, gửi thư cho những người pháp ở đông dương, lãnh
tụ chúng ta lại nói:
“ Lúc này bọn thực dân đã mở đầu tấn công chúng tôi ở
nam bộ. chúng đã bắt đầu giết bao nhiêu đồng bào của chúng
tôi… mặc dù như vậy, trên khắp đất nước Việt Nam, sinh mệnh
và tài sản của người pháp vẫn được che chở và tiếp tục được che
chở, miễn là các người ấy chịu sống yên ổn và không tìm cách
gây chuyện… Những người pháp ở đông dương! Bây giờ đến
lượt các bạn phải tỏ ra rằng các bạn xứng đáng là con cháu
những vị anh hùng vẻ vang xưa kia đấu tranh cho tự do, bình
đẳng và bác ái”.
Chúng ta liên hệ đến một khẩu hiệu của các mác đã tự đề ra:
“ Chẳng có cái gì là tính chất nhân đạo mà xa lạ đối với tôi!”.
Đối với những kẻ làm tay sai cho giặc, HỒ CHỦ TỊCH cũng
chỉ muốn xem họ là “ những đồng bào lạc lối lầm đường” vì
người không tin rằng họ đã hoàn toàn mất hết tinh thần yêu
nước! người viết:
“ Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài. Nhưng ngắn
dài đều hợp nhất lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có
người thế này thế khác, nhưng thế này thế khác cũng là dòng dõi
nơi tổ tiên ta.Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận
rằng đã là con lạc chấu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái
quốc. đối với những đồng bào đang lạc lối lầm đường, ta phải
lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”.
Bàn về lời nói này của HỒ CHỦ TỊCH, đồng chí Phạm Văn
trăng thu vừa đẹp vừa tròn.
Mặc dù giặc tây hung tàn, chúng quyết không thể ngăn trở
các cháu vui tươi hăng hái.
Mặc dù giặc tây bạo ngược, chúng quyết không thể ngăn
trở chúng ta kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành
công.
Đến ngày kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập
thành công, bác cháu ta sẽ cùng nhau ăn những tết trung thu tưng
bừng vui vẻ, vinh hoa bõ lúc phong trần…”
Bằng những lời vô cùng giản dị, bác hồ đã dạy cho thiếu
nhi, và cho cả chúng ta, sự phát triển tất yếu của quy luật thiên
nhiên cũng như quy luật cách mạng, và mang lại cho chúng ta
một mối liên quan, một niềm tin tưởng nồng nàn ở thắng lợi cuối
cùng của dân tộc và ở hòa bình.
Mỗi bài văn chính luận của HỒ CHỦ TỊCH là một cái mốc
đánh dấu quá trình tiến triển của cách mạng Việt Nam. Đọc lại
những bài này, chúng ta thấy hiện ra trước mắt cả một giai đoạn
lịch sử gian nan, đau khổ và diệu kì. Chúng ta thấy rõ vai trò
quyết định của đảng ta đứng đầu là HỒ CHỦ TỊCH. Chúng ta
xúc cảm sâu sắc trước tinh thần của người “lo trước cái lo của
nhân dân, và vui sau cái vui của nhân dân”. Chúng ta cảm thấy
trong những giờ phút nguy nam và quyết liệt nhất của lịch sử
dân tộc, HỒ CHỦ TỊCH, hiện thân của đảng cao cả, đều có mặt
ở khắp mọi nơi, đều có tiếng nói của mình ở trong mọi dịp, đưa
ra lòng tin và sức chiến đấu cho mọi người. đúng HỒ CHỦ
TỊCH là ngôi sao bắc đẩu, dù ở bưng biền đồng tháp, dù ở miền
rừng núi điện biên, vẫn luôn luôn thức tỉnh trên vòm trời cao để
hướng dẫn đường đi cho mọi người.
người chú trọng tuyên truyền cho cách mạng tháng mười nga ;
trong tập văn này người cũng đã chen vào giữa các đoạn văn
những câu thơ lục bát. Đồng bào ở nghệ an ngày nay còn truyền
tụng được một đoạn có kèm theo những câu thơ như vậy. ví dụ
có những câu như:
Nước nga lắm chuyện cực cười
Đem người nô lệ làm người tự do,vv…
Cho nên HỒ CHỦ TỊCH rất ít làm những thơ thực sự có tính
chất nghệ thuật, người phải bận tâm lo những việc cấp bách hơn
đối với cương vị của người.
Cũng như HỒ CHỦ TỊCH rất yêu hoa, rất thích trồng hoa ,
mà vẫn bỏ qua sở thích ấy, đồng chí phạm văn đồng kể lại mẫu
chuyện sau đây thật là cảm động:
“ Người thích hoa và có kể câu chuyện ở nga cũng như ở các
nước âu-mỹ người ta dùng phi cơ chở các thứ hoa ở xa về để
trang điểm đời sống hằng ngày các đô thị lớn. nhưng trong vườn
hoa phủ chủ tịch, hoa ngày càng nhường chỗ cho khoai, bắp”.
Đồng chí phạm văn đồng kể tiếp:
“Gần côn minh, có núi tây sơn, một thắng cảnh có tiếng. môt
hôm anh em muốn đi xem. Hồ chủ tịch bảo: “ nếu tiện lắm sẽ
hay; chúng ta là người cách mạng chứ không phải kẻ du lịch”.
Việc hồ chủ tịch ít làm thư nghệ thuật quả cũng có ít nhiều ý
nghĩa như vậy.
Tuy nhiên, trong đời hoạt động của người, có những lúc
người không thể làm gì có ích hơn nữa,- như thời kì người bị
giam giữ ở các nhà tù quốc dân đảng của tưởng- thì người làm
thơ nghệ thuật. đó là một trăm mười bốn bài của tập thơ nhật kí
trong tù chẳng hạn. hoặc nữa, cũng có lúc không nén nỗi những
núi nằm hang, ăn rau mặc vải. thế mà người vẫn giữ được tinh
thần sảng khoái, cốt cách ung dung. Người thường phê bình
những kẻ chưa bao lăm tuổi đã tự cho mình già, để thực hiện
những khẩu hiệu cầu an: “ lão giả an chi”. Năm 63 tuổi, người
làm bài thơ kỉ niệm:
Nhân vị ngũ tuần thường thán lão,
Ngã kim thẩy cửu chính khang cường.
Tự cung thanh đạm tinh thần sảng.
Tố sự thung dung nhật nguyền trường.
Dịch là:
Người chưa năm chục kêu già đây
Mà tôi sáu ba còn khỏe thay!
ở ăn thanh đạm inh thần nhẹ,
làm việc ung dung với tháng ngày.
Hồ chủ tịch luôn nêu cao gương vui, khỏe, trẻ. Như tố hữu
đã từng ca ngợi:
Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi
Người rực rõ một mặt trời cách mạng.
HỒ CHỦ TỊCH luôn luôn biểu lộ một tinh thần lạc quan
cách mạng không gì lay chuyển được.
Phong độ ung dung của hồ chủ tịch có cái gì giông giống
phong độ của một nhà hiền triết phương đông(…). Trong thơ
nghệ thuật của mình Hồ chủ tích chỉ muốn giữ lại của núi rừng
nhưng cái xinh tươi đẹp đẽ nhất của nó, mà không hề bận tâm
đến những nỗi gian nan. Thơ hồ chủ tịch âm vang “tiếng chim
kêu, suối nước chảy, tiếng địch vọng vào tường núi ; Thơ người
sáng tác tươi những sắc trời, sắc nước và sắc hoa. Nhưng có một
điều là những cảnh rất thơ rất mộng đó đều gắn liền với cuộc
Khán thư sơn điều thê song hãn,
Phê trái xuân hoa chiếu nghiên trì.
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân phi.
Dịch là:
Xem sách chim rừng gù cửa sổ
Phê văn hoa núi chiếu trong nghiên
Nhiều phen thắng lợi giao thông mệt
Nhờ cụ thơ vui tặng một thiên.
ở nơi thâm sơn cùng cốc, nhà hiền triết vĩ đại là HỒ CHỦ
TỊCH thường làm bạn với chim núi, với hoa rừng. chim ấy, hoa
ấy đã vào trong nếp sống hằng ngày của vị lãnh tụ, đã thỏ thẻ
bên cạnh người, giữa những công việc quan trọng nhất của
người. nhưng từng giờ từng phút, người vẫn chờ mong tin tức
chiến sự, nó càng khẳng định sự tất thắng của cuộc kháng chiến
? Làm sao không phấn khởi với kết quả của những chiến lược
chiến thuật tài tình đã đề ra? Và làm sao không khỏi tự hào vì
mỗi thắng lợi càng mới chứng tỏ thêm sự trưởng thành của quân
đội và của dân tộc, nhờ sự giáo dục của đảng và chính bản thân
người?
Tiệp báo tần lai lao dịch mã.
Hình ảnh con ngựa giao thông mệt mỏi há không nhắc lại
cho chúng ta hình ảnh một con ngựa khác, “con ngựa đá” trong
một câu thơ cũng đầy tự hào dân tộc của vua trần thánh tông:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Dịch là:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá
mươi tám chữ của thể thơ tư tuyệt, cảm khái làm sao!
Cũng trong năm 1948, Hồ chủ tịch còn có bài thơ như sau,
cũng rất hay:
Nguyệt thôi song vấn thi thành vị,
Quân vụ nhưng mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chỉnh thị liên khu báo tiệp thì.
Dịch là:
Trăng vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,
Là tin thắng trận liên khu báo về.
Trăng trong thơ của người sao mà nũng nịu, tình tứ đến thế!
Khi thì “ trăng rằm trăng đẹp trăng tươi” , khi thì “ trăng thu vừa
đẹp vừa tròn”, khi thì “ trăng ngân đầy thuyền” và bây giờ thì
trăng lại đòi thơ”! Nhưng mà người ta cảm thấy nhà thơ tỏ ra
không chiều nuông trăng lắm. Nhà thơ bảo đang bận việc quân.
Có phải như thế không, hay chỉ là một cớ thoái thác? Phải chăng
nhà thơ không có thơ cho trăng, chỉ vì trăng chưa phải là đối
tượng chính để mình “ tức cảnh thành thơ”? nhà thơ cần một yếu
tố thứ hai nữa là tin thắng trận” thì mới đủ cảm xúc để bật ra thơ
. Và rõ ràng khi đã có yếu tố đó rồi, khi chuông lầu trên núi đã
gióng lên, kéo người ra khỏi “giấc thu” và báo tin thắng trận, thì
nhà thơ lại có thơ ngay lập tức chứ nào phải chờ đợi đến hôm
nào. Hỡi hằng nga! Chị đừng buồn nhé! Nhà thơ không ruồng
rẫy chị, nhưng không thể nào chỉ có biết một mình chị! Đối
tượng của thơ HỒ CHỦ TỊCH cũng như của văn người, bao giờ
cũng là cách mạng, là dân tộc và nhân dân. Nếu thơ người có