Tiểu luận vấn đề dân tộc và những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa mác lenin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - Pdf 34

Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Thương mại – Du lịch – Marketing

THUYẾT TRÌNH
Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin (học phần II)
Chủ đề: Vấn đề dân tộc và những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc

GVHD:

TS. Lưu Thị Kim Hoa

SVTH:

Nguyễn Phương Anh Đào

MSSV:

33141025224

Lớp:

VB17bMR01

Tp.HCM, 2015


I.
KHÁI NIỆM DÂN TỘC:
1. Khái niệm:
Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển



Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn
bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội
khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa
thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ.
Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc.
Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên
nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với
nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo
vệ lãnh thổ đất nước.
+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia)
làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm...
+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo
nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân
tộc (quốc gia dân tộc).
2. Tình hình các dân tộc ở Việt Nam:
- Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất (54 dân tộc). Dân tộc Kinh chiếm 87% dân
số, còn lại là dân tộc ít người phân bố rải rác trên địa bàn cả nước.
- Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền
thống của dân tộc VN trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ Quốc và xây
dựng đất nước.
- Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu xã hội nông thôn bền
chặt nên dân tộc VN xuất hiện rất sớm, gắn liền với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm,
đấu tranh chống thiên tai. Vì vậy đoàn kết là xu hướng khách quan trên cơ sở có chung lợi
ích, có chung vận mệnh lịch sử, có chung tương lại, tiền đồ.
- Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân tộc không
có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống nhất giữa các dân tộc và quốc gia

liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại. Bởi vì,
nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa
đế quốc xoá bỏ. Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ
bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó. Xu hướng các dân tộc
xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận. Thay
vào đó họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối với các dân tộc
khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng.


Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi chế độ
người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này áp bức, đô hộ các dân tộc khác mới
bị xoá bỏ và chỉ khi đó hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện
để thể hiện đầy đủ. Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là sự quá độ lên một xã
hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người trên toàn thế giới.
Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I. Lênin phát hiện đang phát huy tác
dụng trong thời đại ngày nay với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng.
Xét trong phạm vi các nước XHCN có nhiều dân tộc, các dân tộc vừa có xu hướng khẳng
định tính tự chủ và bản sắc của dân tộc mình, vừa có xu hướng hòa hợp với các dân tộc trong
cộng đồng quốc gia. Cả hai xu hướng đó đều lành mạnh và biểu hiện của sự thống nhất trong
đa dạng.
Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để đi tới sự tự chủ và phồn
vinh của bản thân dân tộc mình. Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân
tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hoà hợp với nhau ở mức độ cao hơn
trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan
hệ dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều
kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh. Bởi vì, nó sẽ tạo điều kiện cho
dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn với các dân

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ dừng lại ở
tư tưởng, ở pháp lý mà quan trọng hơn là phải được thực hiện ngay trong thực tế mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Trong đó, việc phấn đấu khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển
kinh tế, văn hóa do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản.
Trên phạm vi thế giới, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay
gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sô vanh nước
lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa phát xít mới; đồng thời, gắn liền với cuộc đấu
tranh xây dựng một trật tự thế giới mới, chống áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển
đối với các nước chậm phát triển về kinh tế. Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là
cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa
các dân tộc.
2. Các dân tộc được quyền tự quyết
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh dân tộc mình,
quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình.
Quyền dân tộc tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị của dân tộc mình, các dân
tộc có quyền tách ra thành lập một quốc gia độc lập vì lợi ích của các dân tộc. Mặt khác,
cũng bao gồm quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có
lợi để có đủ sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và
có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia dân tộc.


Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc, cần đứng vững trên lập trường của giai
cấp công nhân. Ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ phù hợp vứi lợi ích chính đáng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực đế quốc và phản động lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp
vào công việc nội bộ của các nước, giúp đỡ các thế lực phản động chống lại các lực lượng
tiến bộ trong dân tộc, đòi ly khi và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa tư
bản.
3. Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Giai cấp công nhân ở mỗi nước phải lấy việc đoàn kết công nhân các dân tộc làm mục tiêu

Phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm
từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa
phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các
dân tộc, từng bước nâng cao dân trí đồng bào dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số vùng cao,
hải đảo.
Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân tộc vì sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm các
hành vi miệt thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. HCM đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là động lực
chủ yếu, là sức mạnh vĩ đại quyết định sự thành công của CM”, Người khẳng định : “Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”
Tăng cường, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ ít người để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
miền núi; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác cho cán bộ dân tộc.
Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính toàn diện, tổng hợp tất cả
các lĩnh vực đời sống xã hội. Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính cm và tiến bộ, đồng
thời mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót một dân tộc nào, nó tôn trọng quyền làm
chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc. Mặt khác, nó còn nhằm phát huy
nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả
nước.


V.

KẾT LUẬN:

Vấn đề dân tộc có vị trí hết sức quan trọng trong cách mạng XHCN vừa là nhiệm vụ trước
mắt vừa là vấn đề có tính chiến lược lâu dài hiện nay. Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong
cách mạng XHCN cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mà trước hết phải tuân thủ
nghiêm ngặt cương lĩnh dân tộc của Lênin. Đặc biệt việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta
hiện nay phải được xác định là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương của cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status