BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
TẬP HUẤN “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TCCN
NĂM 2014
(Tài liệu dùng trong đợt tập huấn)
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
TẬP HUẤN “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TCCN
NĂM 2014
(Tài liệu dùng trong đợt tập huấn)
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
2
MỤC LỤC
Stt
1
2
1.1. Chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo của Đảng
Đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục chính trị (GDCT) ở trường
Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) là việc làm cần thiết nhằm thực hiện chủ
trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng.
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội
dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc
người học học được cái gì đến chỗ quan tâm người học vận dụng được cái gì
qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công
việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy
cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và
phẩm chất.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra chủ trương:
“Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi,
kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng
giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội”.
Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo khẳng định:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”.
Đồng thời với đổi mới phương pháp dạy học, Nghị quyết Hội nghị trung
ương 8 khóa XI còn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả giáo
dục, đào tạo: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra đánh giá
kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và
1.3. Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học GDCT ở trường TCCN
1.3.1. Những ưu điểm chủ yếu trong đổi mới phương pháp dạy học môn
GDCT ở trường TCCN:
Thực tế cho thấy, việc dạy học GDCT ở trường TCCN hiện nay đã có
nhiều tiến bộ về nhận thức, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh
giá. Những năm gần đây, các trường TCCN đều đã chú trọng vào đổi mới
phương pháp dạy học môn GDCT. Vì có đổi mới căn bản phương pháp dạy
học thì chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới
có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí
tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri
thức.
5
Trong những năm qua,có rất nhiều giảng viên ở trường TCCN là những
người yêu nghề, say sưa với công tác giảng dạy, lo lắng, đầu tư cho chuyên
môn, tìm mọi biện pháp để có giờ dạy tốt, học tốt. Nhiều giảng viên đã cố
gắng vượt qua những khó khăn về cơ sở vật chất, về đời sống để sáng tạo các
hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực,
tìm cách truyền cho người học những cảm hứng trong giờ học. Nhiều trường đã
tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, hội thảo về đổi mới
PPDH, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học, tổ chức khai thác kênh
hình, kênh tiếng, bổ sung thêm nguồn tư liệu dạy học, tổ chức hội giảng, viết
sáng kiến kinh nghiệm... Những hoạt động chuyên môn đó ít nhiều đã đạt hiệu
quả bước đầu. Nhiều giờ học đã diễn ra sinh động, hấp dẫn hơn, người học tích
cực làm việc, không khí học tập sôi nổi, hứng thú hơn.
1.3.2. Những vấn đề còn tồn tại trong đổi mới môn GDCT ở trường
TCCN
Bên cạnh những ưu điểm nói trên, vẫn còn những vấn đề tồn tại, yếu
người học yếu kém (do đầu vào thấp) không thể vận dụng các biện pháp đổi
mới nên cũng chỉ đọc chép, không rèn luyện cho họ năng lực tư duy độc lập,
tự chiếm lĩnh kiến thức và trang bị phương pháp học tập tốt. Từ đó dẫn tới
tình trạng người học không thích học môn học này.
Thứ tư, việc kiểm tra đánh giá người học chỉ mới hướng đến cho điểm,
đối phó, chưa đánh giá được khả năng nhận thức, khả năng rèn luyện kĩ năng,
năng lực hành vi... Vì thế đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc đổi mới PPDH và
ít tạo ra được hứng thú học tập cho người học.
Thứ năm, một bộ phận người học hiện nay chưa nhận thức đúng về vị
trí, vai trò của môn GDCT trong nhà trường, Nhiều em khi được hỏi “Học
GDCT để làm gì ?” thì tỏ ra khá mơ hồ, không xác định được. Vì không hiểu
nên không yêu thích, không say mê và chỉ học để đối phó với thi cử, kiểm tra.
Phương pháp học cũng rất hạn chế, phần lớn người học chỉ học thuộc lại
những gì GV cho ghi trên lớp, hoặc chi tiết hơn thì học trong giáo trình. Điều
đó dẫn đến tình trạng “học vẹt”, học mà không hiểu bản chất của vấn đề.
Nhiều GV rơi vào tình trạng ôm đồm kiến thức vì sợ người học không hiểu
bài, dẫn đến tình trạng quá tải. Việc hướng dẫn cho người học phương pháp
học tập bộ môn vẫn chưa được coi trọng. GV mới chỉ nặng về cung cấp kiến
thức mà chưa chú ý chỉ ra cho người học con đường, cách thức để lĩnh hội
kiến thức ấy (phương pháp tự học). Vì thế, họ thường lúng túng khi tự học ở
nhà, và khi thi, kiểm tra, người học gần như nhắc lại những gì GV đã dạy, khả
năng diễn đạt bằng ý hiểu, khả năng trình bày, bảo vệ quan điểm của mình
còn rất yếu.
Những vấn đề còn tồn tại nói trên dẫn đến hệ quả là người học được
đào tạo trong trường mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng
lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống trong cuộc sống.
Chính vì vậy, đòi hỏi chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc nhận thức về đổi
mới phương pháp dạy học, phải có những biện pháp đổi mới PPDH đúng đắn,
phù hợp với đặc trưng bộ môn và nhu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội
hiện nay.
Do đó, chương trình này không quy định những nội dung dạy học chi
tiết, mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên
cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương
pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đạt được kết quả đầu ra mong
muốn. Kết quả học tập mong muốn thường được mô tả chi tiết thông qua hệ
thống các năng lực.
Chương trình giáo dục theo định hướng năng lực như vậy đã được bàn đến
nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục
quốc tế.
Bảng so sánh dưới đây cho thấy một số khác biệt cơ bản của chương trình giáo
dục theo định hướng năng lực so với chương trình giáo dục theo định hướng nội dung:
Mục tiêu giáo dục
Chương trình định
hướng nội dung
Chương trình định hướng
năng lực
Mục tiêu dạy học được
mo tả không chi tiết và
không nhất thiết phải
quan sát, đánh giá được
Kết quả học tập được mô tả
chi tiết và có thể quan sát,
đánh giá được, thể hiện
được mức độ tiến bộ của
người học một cách liên tục
Giáo viên chủ yếu là người
tổ chức, hỗ trợ học sinh tự
lực và tích cực lĩnh hội tri
thức. Chú trọng khả năng
giải quyết vấn đề, khả năng
giao tiếp,.v.v..; chú trọng sử
dụng các quan điểm,
phương pháp và kỹ thuật
dạy học tích cực, các
phương pháp dạy học thí
nghiệm, thực hành,.v.v..
Tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt
động xã họi, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học, trải
nghiệm sáng tạo, đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông
tin và truyền thông trong
dạy và học
Tiêu chí đánh giá dựa vào
năng lực đầu ra, có tính đến
sự tiến bộ trong quá trình
học tập, chú trọng khả năng
vận dụng trong các tình
huống thực tiễn
Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành
phần là: Năng lực chuyên môn (Professional); Năng lực phương pháp
(Methodical competency); Năng lực xã hội (Social competency); Năng lực cá thể
thuật và công nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều. Song
chúng ta không thể nhồi nhét tất cả tri thức đó cho người học mà phải dạy họ
phương pháp học và lĩnh hội kiến thức, rèn kĩ năng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học
thì sẽ tạo cho lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết
quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh
hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trường học, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học
có sự hướng dẫn của GV.
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. Trong một lớp
học mà trình độ kiến thức, tư duy của người học không đồng đều thì khi áp
dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận phân hoá về cường độ, tiến
độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một
chuỗi hoạt động độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao
thì sự phân hoá càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin
trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu
10
cầu và khả năng của người học. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri
thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá
nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp người dạy – người học, người học –
người học tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được
bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng cao mình lên một trình
độ mới. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp
nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động
tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự
hình thành hiểu biết, năng lực và
phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và Tổ chức hoạt động nhận thức cho
chứng minh chân lý của GV
người học. Dạy họ cách tìm ra chân
lý.
11
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo. Học để đối phó với
thi cử. Sau khi thi xong thì những
điều đã học thường bị bỏ quên
hoặc ít dùng đến.
Nội
dung
Phương
pháp
Hình
thức
tổ chức
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng
tạo, hợp tác,…)dạy phương pháp và kỹ
thuật lao động khoa học, dạy cách
học. Học để đáp ứng những yêu cầu
của cuộc sống hiện tại và tương lai.
trường TCCN, vì chương trình có nội dung kiến thức lớn trong khi thời lượng
rất hạn chế.
- Phải chú trọng rèn luyện cho người học năng lực phương pháp bao gồm
phương pháp tự học, phương pháp nhận thức và giải quyết vấn đề, các thao tác
tư duy (phân tích, sáng tạo, phê phán..).
- Phải chú trọng hình thành, phát triển năng lực nghề nghiệp và năng lực
xã hội thông qua việc dạy học gắn với kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng hợp tác
(ví dụ như tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập theo nhóm theo
12
phương châm: tạo điều kiện cho người học nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và
thảo luận nhiều hơn).
Theo yêu cầu này, mỗi trường trung cấp đào tạo nghề khác nhau có thể
lựa chọn nội dung dạy học và phương pháp dạy học khác nhau phù hợp với
ngành nghề đào tạo và đối tượng dạy học.
2.3.2. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học
- Chương trình môn GDCT ở trường TCCN gồm 3 môn Lí luận chính trị:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi môn khoa học lại có nội dung và phương pháp
nghiên cứu riêng. Việc sử dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học phải theo nguyên
tắc: Người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng
dẫn của người dạy.
- Việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học phải gắn chặt với các
hình thức tổ chức dạy học thích hợp như: học cá nhân, học theo nhóm, học trong
lớp, học bằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo,.v.v.. Tùy theo mục tiêu, nội dung,
đối tượng và điều kiện cụ thể mà tổ chức các hình thức dạy học phù hợp.
2.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học phải đi đôi với đổi mới kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của người học
Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng của quá trình dạy học, nó ảnh hưởng
pháp trực quan “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời.Muốn thực hiện dạy
và học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp
trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần, giải quyết vấn đề, hợp tác cùng khám
phá…
Đổi mới PPDH môn GDCT ở trường TCCN không có nghĩa là gạt bỏ các
phương pháp dạy học truyền thống mà cần kế thừa, phát triển những mặt tích
cực của hệ thống phương pháp dạy học quen thuộc (PPDH truyền thống),
đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp mới, phù hợp với hoàn
cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta (PPDH hiện đại/PPDHtích cực). Theo
hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp như: Thuyết
trình, Đàm thoại; Dạy học dựa trên vấn đề; Làm việc nhóm; Tự học.
3.1. Đổi mới các PPDH truyền thống theo hướng tích cực
3.1.1. Phương pháp thuyết trình
- Bản chất: Phương pháp thuyết trình là phương pháp dùng lời nói để trình
bày, giải thích nội dung/chủ đề/ bài học một cách có hệ thống, có lôgic giúp cho
người học tiếp thu kiến thức mới.
- Vai trò: Phương pháp thuyết trình là phương pháp được sử dụng lâu
đời nhất trong dạy học và được áp dụng cho tất cả các môn khoa học. GDCT
là môn học có nội dung mang tính khái quát, trừu tượng cao cho nên khi sử
dụng phương pháp thuyết trình sẽ mang lại hiệu quả cao so hơn với các
phương pháp khác.
- Các dạng thuyết trình: Thuyết trình kể chuyện (mô tả, trần thuật lại các
sự kiện, hiện tượng một cách có hệ thống); Thuyết trình giải thích (dùng
những luận cứ, số liệu dể giải thích, chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề); Thuyết
trình diễn giảng (trình bày có hệ thống một nội dung học tập nhất định).
- Các bước khi thuyết trình:
+ Bước 1 (Đặt vấn đề): thông báo nội dung/chủ đề cần tìm hiểu dưới dạng
tổng quát để kích thích sự chú ý ban đầu của người nghe.
Bước 2 (Giải quyết vấn đề): trình bày vấn đề bằng con đường quy nạp hay
diễn dịch.
sang người học, giảng viên cần hướng dẫn các kĩ năng, kĩ thuật thuyết trình cho
người học như: cách thuyết trình theo kiểu quy nạp hoặc diễn dịch; Trình bày và
lập luận vấn đề đảm bảo logic, trọng tâm, trọng điểm rõ ràng, dễ hiểu, kết hợp
ngôn ngữ có lời ngắn gọn, rõ, sáng sủa, giàu hình tượng, chuẩn xác, xúc tích,
giọng nói, tốc độ nói, âm lượng thay đổi thích với ngôn ngữ không lời (điệu bộ,
nét mặt, cử chỉ, hành vi…) một cách hợp lí, nhịp nhàng…
Phối kết hợp linh hoạt và hiệu quả phương pháp thuyết trình với các
PPDH khác như tự học có hướng dẫn, làm việc nhóm, đàm thoại, đóng vai, dự
án….và các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại.
- Ví dụ minh họa: Dạy “Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập”.
1) Giảng viên hướng dẫn người học đọc giáo trình và một số tài liệu liên quan
để:
15
+ Xác địnhchính xác các khái niệm, phạm trù (các bộ phận) hợp thành qui
luật để tìm ra mối liên hệ tác động qua lại giữa chúng, đó là: mặt đối lập, sự
thống nhất của các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập...
+ Tìm và xác định cơ chế tác động của những khái niệm, phạm trù hợp
thành qui luật và diễn biến của cơ chế đó. Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa
thống nhất lại vừa đấu tranh tác động, bài trừ phủ định nhau. Sự đấu tranh đó
đưa đến sự chuyển hoá làm thay đổi mỗi mặt đối lập hoặc cả hai mặt đối lập,
chuyển lên trình độ cao hơn hoặc cả hai mặt đối lập cũ mất đi, hình thành hai
mặt đối lập mới. Do đó, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn
gốc và động lực cơ bản của mọi sự vận động và phát triển.
+ Tìm và lựa chọn ví dụ dễ hiểu nhất, điển hình nhất trong đời sống hàng
ngày để minh họa cho những gì vừa xác định, chỉ ra các dấu hiệu trong nội dung
qui luật được thể hiện ở chỗ nào trong ví dụ.
người học tiếp cận, hiểu và từng bước nắm vững những tri thức mang tính phổ
biến, khái quát và trừu tượng cao, nhưng lại rất thiết thực và gắn bó với cuộc
sống. Đồng thời qua đàm thoại, người học sẽ hình thành, phát triển năng lực tư
duy độc lập, sáng tạo, tư duy lôgic. Bởi vì, để trả lời được những câu hỏi, diễn
đạt được tư tưởng của mình, người học phải biết vận dụng các tri thức đã có,
biết khái quát, lập luận một cách lôgic trên cơ sở các phương pháp nhận thức, tư
duy khoa học, biết sử dụng ngôn ngữ khoa học…Thông qua đàm thoại, giảng
viên có thể kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của bản thân, kết quả thu nhận
tri thức của người học.
- Qui trình thực hiện
Bước 1, Xây dựng câu hỏi. Đây là bước rất quan trọng của PPDH này, để
xây dựng được hệ thống câu hỏi đạt mục tiêu cần thực hiện các yêu cầu sau:
Xác định rõ mục đích, tính chất của tri thức cần dạy để xác định phạm vi
câu hỏi cho phù hợp.
Phân tích giáo trình, tài liệu thành các đơn vị kiến thức nhỏ nhất.
Xác định mục tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của các đơn vị kiến thức đó
để thiết kế các câu hỏi theo mục tiêu.
Nâng cao chất lượng đặt câu hỏi khi dạy học, trước hết cần xem xét mục
đích hỏi. Nếu muốn xác định những kiến thức gì người học đã có nên đặt câu
hỏi đóng (là câu hỏi có một câu trả lời đúng). Nếu muốn thăm dò sự hiểu biết
của người học nên dùng câu hỏi mở (gợi ý để người học bày tỏ ý kiến cá nhân),
ví dụ “Anh/chị muốn nói gì với cả lớp về vấn đề này?” hoặc “Anh/chị có thể
làm điều này bằng cách nào?”... Nên dùng câu hỏi đóng trước để đưa người học
vào một bối cảnh tư duy. Sau đó, sử dụng câu hỏi mở để thăm dò và làm sâu sắc
thêm sự hiểu biết của người học trong những ngữ cảnh cụ thể.
Dự kiến các câu trả lời của người học để xây dựng hệ thống câu hỏi mở và
câu hỏi kích thích người học đặt câu hỏi.
Bước 2, Thực hiện việc đặt câu hỏi trên lớp, để đạt hiệu quả cần chú ý:
Cho người học đủ thời gian suy nghĩ (thời gian chờ) sẽ vừa nâng cao chất
lượng câu trả lời vừa tạo cơ hội để đặt câu hỏi tiếp theo. Với thời gian chờ,
Hãy trình bày nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định?
+ Muốn người học diễn đạt lại bằng ngôn ngữ của mình những kiến thức
đã tìm hiểu được và chứng tỏ đã hiểu những kiến thức đó có thể đặt câu hỏi:
Hãy giải thích “thực tại khách quan” nghĩa là gì?
+ Muốn người học áp dụng kiến thức đã học vào tình huống mới có thể ra
câu hỏi: Hãy lấy ví dụ về một dạng vật chất trong đời sống hiện thực?
+ Muốn người học phân tích nguyên nhân hay kết quả của một hiện tượng
triết học mà họ đã được học trước đó, câu ỏi có thể đạt ra là: Phân tích nguyên
nhân dẫn đến sự ra đời của triết học Mác?
+ Muốn người học tổng hợp các kiến thức cụ thể trong một sự thống nhất
mới hoặc trong việc giải đáp một vấn đề khái quát hơn, câu hỏi: Các nước đang
phát triển trong đó có nước ta đang gặp phải những khó khăn gì khi tiếp nhận
đầu tư nước ngoài mở rộng mối quan hệ hợp tác?
+ Muốn người học nhận định, phán đoán về một vấn đề nào đó, có thể đặt
câu hỏi: Từ hình ảnh đường xoáy trôn ốc, em có suy nghĩ gì về xu thế phát triển
của đất nước trong thời đại hiện nay?
3.2. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học hiện đại
3.2.1. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
- Bản chất: Vấn đề thường là câu hỏi hay một điều có chứa đựng sự nghi
ngờ, sự không chắc chắn, khó khăn hoặc chính là mâu thuẫn giữa những điều
18
chưa biết và những điều đã biết, giữa lý thuyết và thực tế... và được đưa ra để
thảo luận hay tìm kiếm giải pháp, thông qua giải quyết vấn đề, người học tự lực
học được kiến thức mới, được hình thành hoặc rèn luyện các kỹ năng có liên
quan.
- Vai trò: Các nhà nghiên cứu cho rằng dạy và học dựa trên giải quyết
vấn đề sẽ giúp người học có động lực học tập tốt hơn, phát triển được một cách
hiểu sâu sắc hơn về vấn đề, khuyến khích việc học độc lập và mang tính tập thể,
Yêu cầu người học xác định: Về lí luận, vấn đề này đã được các nhà
triết học, các nhà kinh điển… đặt ra và lí giải như thế nào?
19
Trong thực tiễn hiện nay: So sánh những lí giải về lí luận với những
vấn đề đang đặt ra khi nghiên cứu về SM của GCCN ở các nước trên thế giới
(VD: việc GCCN có cổ phần, cổ phiếu, làm ông chủ trong các công ti, doanh
nghiệp…, )
Ở Việt Nam, vai trò làm chủ của GCCN được thể hiện như thế nào
trong CMDTDCND và trong quá trình xây dựng đất nước, đặc biệt trong
công cuộc đổi mới hiện nay?...
Trong thời kì quá độ ở Việt Nam, việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế
trong đó có kinh tế tư nhân thì phải chấp nhận có sự bóc lột ở một mức độ
nào đó.
3) Người học lập kế hoạch để giải quyết các vấn đề trên: tự nghiên cứu,
tìm tư liệu, trao đổi, thảo luận trong nhóm đề xác định các phương án giải
quyết.
4) Trình bày các hướng giải quyết trước lớp đề thống nhất cách GQVĐ.
5) Kết luận.
3.2.2. Phương pháp dạy học cùng tham gia
- Vai trò: Theo tinh thần đổi mới cách dạy, cách học, giảm tải giờ lí
thuyết; chú trọng đặt và giải quyết vấn đề; tăng cường tranh luận; vừa đào sâu,
vừa mở rộng kiến thức đang học…, Phương pháp cùng tham gia đã chứng tỏ
được tính tích cực vượt trội của nó trong việc thực hiện đổi mới PPDH theo tinh
thần nói trên, hiện nay PPDH này đang được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới.
- Bản chất: Đây là phương pháp kết hợp một cách hiệu quả các phương
pháp dạy học truyền thống và hiện đại, với phương pháp cùng tham gia ưu điểm
của các PPDH được phát huy và hạn chế của các PPDH được khắc phục. Điểm
Bước 5, Tổng hợp (Syntheses). Thông qua các hoạt động ngắn, mang tính
tổng hợp, người học sẽ có cơ hội được khái quát nội dung bài học trong không
khí cởi mở và hiệu quả. Từ đó giảng viên có thể thu nhận những thông tin
ngược, rất cần thiết cho quá trình hoàn thiện nội dung và phương pháp dạy học.
Các bước của phương pháp dạy học cùng tham gia cũng cần phải được áp
dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo như nhiều quy trình khác. Trong đó, bước
Thuyết trình/bài giảng là trung tâm của quy trình. Phương pháp giảng dạy cùng
tham gia nếu được phối hợp, đan quyện với nhiều phương pháp dạy học khác
(trong đó có phương pháp dạy học truyền thống) thì tính tích cực của nó mới
thật sự đáng kể.
- Ví dụ: Khi dạy về tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Phần liên hệ ở Việt Nam.
Đề cập đến bản chất của thành phần kinh tế tư bản nhà nước, người học
thường có cách hiểu chính thống theo giáo trình: “Kinh tế tư bản nhà nước dựa
trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư
nhân trong nước và ngoài nước dưới các hình thức hợp tác liên doanh”.
Ở bước 4 – Đào sâu, giảng viên cần:
- Hướng dẫn người học chỉ ra những khía cạnh sâu sắc trong nội dung này
như: Kinh tế tư bản nhà nước là hình thức tổ chức liên kết kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư nhân với nhà nước xã hội chủ nghĩa; Đây là hình thức kinh tế hiện đại
để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thành kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; Hình thức kinh tế này kết hợp cả nội lực với ngoại lực.
- Hướng dẫn người học so sánh các hiểu này với quan điểm của các nhà
kinh điển để thấy được: Cách hiểu này rất gần gũi và đúng với quan điểm của
VI. Lênin trước đây khi Người thực hiện chính sách kinh tế mới;
- Hướng dẫn người học tìm hiểu vấn đề này dưới nhiều góc độ:
21
Về góc độ quan hệ sản xuất: Thành phần kinh tế tư bản nhà nước không
xuất, làm ra nhiều của cải cho xã hội. Muốn thế, phải huy động mọi nguồn lực,
khai thác mọi tiềm năng, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của mọi
thành phần kinh tế, thực hiện khẩu hiệu "tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh". Đảng viên phải lãnh đạo và gương mẫu thực
hiện chủ trương này, một mặt làm giàu cho bản thân và gia đình bằng lao động
chính đáng của mình, mặt khác phải góp phần làm giàu cho xã hội, cho đất
nước.
22
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng
sản lãnh đạo, chúng ta không xem kinh tế tư nhân là gắn với chủ nghĩa tư bản,
mà lãnh đạo kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy,
đảng viên có thể làm kinh tế tư nhân trên cơ sở gương mẫu chấp hành luật pháp,
chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định
của Ban Chấp hành Trung ương. Thực tế hiện nay số đảng viên làm chủ doanh
nghiệp tư nhân ở nước ta còn ít, quy mô rất nhỏ bé. Phần đông họ là những cán
bộ, đảng viên đã từng làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước nay
về hưu, về nghỉ mất sức, hoặc là bộ đội xuất ngũ, công an chuyển ngành, đã
được Đảng và Nhà nước đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ. Hầu hết đều gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Nhìn chung, dư luận xã hội hiện nay chưa có băn khoăn nhiều về việc đảng viên
làm chủ doanh nghiệp tư nhân. Vì những đảng viên đó đã giải quyết công ăn
việc làm cho dân, đã làm tăng của cải cho xã hội, đã đóng góp cho ngân sách
nhà nước, đã đối xử tốt với người lao động. Vả lại, theo luật pháp hiện hành,
những cán bộ, đảng viên trong biên chế nhà nước, tại chức, tại ngũ không được
làm chủ doanh nghiệp tư nhân, nên không đến nỗi quá lo về việc đảng viên là
chủ doanh nghiệp tư nhân lợi dụng cương vị, chức quyền để thu vén cho doanh
nghiệp tư nhân của mình (nếu có người làm chui, làm ngầm là họ vi phạm pháp
học tập mà chúng ta có thể lựa chọn hoặc phối hợp các cách đọc khác nhau một
cách hợp lý để nội dung cần đọc được hiểu một cách sâu sắc, toàn diện.
24
Tư duy trong khi đọc, tập trung chú ý cao độ, phối hợp các thao tác tư duy
như: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hình tượng hoá, so sánh … để phát hiện
ra các thuộc tính bản chất, đặc điểm cơ bản, những nội dung chủ yếu, mấu chốt
của vấn đề. Trên cơ sở đó rút ra những kết luận, nhận xét, đánh giá chính xác
vấn đề cần đọc.
Bước 3, Ghi chép một cách khoa học những điều đã đọc. Hiệu quả của việc
đọc thể hiện kết quả ghi chép được, đọc và ghi chép luôn gắn liền với nhau trong
quá trình học. Ghi chép với các hình thức như: trích tài liệu để ghi lại nguyên
văn, lập đề cương khi đọc sách, viết tóm tắt những nội dung cơ bản, viết dưới
dạng thu hoạch. Khi ghi chép hiệu cần có sự phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,
khái quát hoá để làm nổi bật những ý trọng tâm cơ bản.
Bước 4, Hệ thống hoá, khái quát hoá tài liệu dưới hình thức làm dàn ý, đề
cương, sơ đồ, mô hình… điều này giúp người học dễ dàng nắm được tài liệu
nghiên cứu một cách tổng quát, hệ thống và toàn diện.
Bước 5, Xây dựng nguồn học liệu (tranh, ảnh, mô hình, clip, bối cảnh,
thông tin, sự kiện..) để chuẩn bị cho bước làm bài tập nhận thức.
Bước 5, Làm bài tập nhận thức trong hoạt động tự học tức là vận dụng kiến
thức đã tiếp thu được vào giải quyết những tình huống, những vấn đề đặt ra
nhằm củng cố và làm sáng tỏ tri thức, góp phần tìm ra tri thức mới và giúp
người học nắm kiến thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn.
3.3. Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá
3.3.1. Định hướng về kiểm tra đánh giá theo năng lực
- Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không
lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh
giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng