Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt
được rất nhiều thành tựu quan trọng. Đời sống nhân tiếp tục được
cải thiện, tình trạng nghèo đói dần dần bị đẩy lùi. Các chỉ tiêu kinh
tế - xã hội liên tục được gia tăng qua các năm.
Tuy vậy, sau khi nhà nước tiến hành xoá bỏ chế độ bao cấp
vào năm 1986(tại Đại hội Đảng lần thứ VI) Đất nước ta cũng đã
gặp phải một thách thức lớn là vấn đề chênh lệch về phát triển kinh
tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước. Một số vùng do có điều
kiện thuận lợi hơn đã có sự phát triển nhanh hơn như vùng Đồng
bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, trong khi một số vùng lại đang có
nguy cơ tụt hậu như các tỉnh miền núi Phía Bắc, vùng Bắc Trung
Bộ và Tây Nguyên. Sự chênh lệch nếu ở mức độ cao sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển chung của cả nước và sẽ trở thành một nguy cơ
lớn cho vận mệnh của quốc gia.
Trên thế giới vấn đề chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội giữa
các vùng luôn là một vấn đề đã được nghiên cứu và tìm hiểu (Đặc
biệt là ở các quốc gia có trình độ phát triển cao). Với những hiểu
biết của mình; cùng với sự hướng dẫn của các bộ của Ban nghiên
cứu phát triển Vùng và của Thầy giáo T.S Nguyễn Tiến Dũng, em
đã lựa chọn đề tài :
Đào Thái Hà
1
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đào Thái Hà
Trường ĐH KTQD
3
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
Chương I.
Lý luận chung về sự chênh lệch phát triển kinh tế xã hội giữa
các vùng
I.
Khái niệm về vùng kinh tế - xã hội .
Trong thực tiễn, chúng ta gặp nhiều khái niệm về vùng. Dưới
các lăng kính khác nhau các nhà khoa học nhận biết và xác định
“vùng” không giống nhau, hệ quả là với mỗi mục đích, người ta
dựa trên những phương pháp luận, những tiêu chuẩn cụ thể, những
phương pháp phân chia thích hợp để xác định “vùng” làm cơ sở
cho công việc xây dựng phương án phát triển sau đó.
bộ phận cấu thành: liên hệ địa lý, liên hệ kỹ thuật, liên hệ về kinh
tế và liên hệ về các mặt xã hội trong hệ thống cũng như với ngoài
hệ thống. Mỗi vùng là một tập hợp các thành tố tự nhiên – kinh tế xã hội. Đặc tính và trình độ phát triển của nó được phản ánh bởi cơ
cấu kinh tế, cơ cấu xã hội của nó ( trong đó có cả cơ cấu các yếu tố
tự nhiên bền vững). Nói một cách khác, cơ cấu là thuộc tính quan
trọng nhất của vùng. Vùng này khác vùng khác là bởi cơ cấu của
nó.
Xét về mặt lãnh thổ -kinh tế , mỗi vùng có khu nhân ( bao gồm
các đô thị và các khu vực tập trung công nghiệp). Khu nhân có vai
trò quuyết định đặc điểm và trình độ phát triển của vùng. Các nhà
địa lý và các nhà kinh tế coi khu nhân nhu các trung tâm tạo vùng.
2.
Các đặc trưng chủ yếu của vùng kinh tế - xã hội
Đào Thái Hà
5
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
Quy mô của vùng rất khác nhau vì các yếu tố tạo thành của
chúng khác biệt lớn.
Sự tồn tại của vùng là khách quan và có tính lịch sử ( quy mô
và số lượng vùng thay đổi theo các giai đoạn phát triển, đặc biệt ở
lựa chọn địa điểm phân bố thì dẫn đến tới những hậu quả nghiêm
trọng và phá vỡ môi trường. Vì vậy, Nhà nước cần có sự can thiệp
đúng mức nhằm tạo ra sự phát triển hài hoà cho mỗi vùng và cho
tất cả các vùng.
3.
Khái niệm về chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội
vùng.
Chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội vùng là sự chênh lệch
về trình độ phát triển , mức sống dân cư giữa các vùng được so
sánh với nhau tai một thời điểm nhất định. Sự chênh lệch này được
phản ánh về cả mặt lượng và chất của sự hơn kém. Chúng được đo
bằng hệ số lần hay tỷ lệ phần trăm( %).
Chênh lệch vùng là một phạm trù kinh tế - xã hội mang tính
khách quan ở các thời kỳ phát triển. Theo quan điểm hệ thống,
vùng là một hệ thống mà trong đó có sự khác biệt về các yếu tố
phát triển sẽ không thể có sự phát triển đồng đều ở tất cả các lãnh
thổ trong cùng thời gian. Trên một vùng có thể có thể xảy ra xu
hướng phát triển kinh tế - xã hội mạnh ở những nơi này nhưng lại
chậm phát triển ở những nơi khác, thậm chí có nơi còn lâm vào
tình trạng kém phát triển hoặc trì trệ. Chính vì xu thế này đã đưa
đến sự phát triển không cân đối về mặt kinh tế - xã hội giữa các
Đào Thái Hà
7
Kinh tế phát triển 44B
8
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
tải sẽ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc trao đổi hàng hoá
trong vùng liên vùng. Như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
của nhân dân trong vùng: Nguời dân sống trong vùng có điều kiện
khó khăn hơn sẽ ít có cơ hội thụ hưởng các dịch vụ sống cơ bản.
Sự khác biệt về khí hậu là nhân tố ảnh hưởng đến điều kiện
sinh hoạt và sản xuất của vùng (đặc biệt là ngành nông nghiệp). Ở
một quốc gia có sự phân hoá về khí hậu , các vùng khác nhau sẽ có
điều kiện sản xuất khác nhau và có sự chuyên môn hoá về các sẩn
phẩm nông nghiệp khác nhau.
Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn vốn sẵn có của mỗi
vùng; là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình
sản xuất; là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển , góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế .Tuỳ vào đặc điểm tự nhiên của vùng
mà có sự phân bố về tài nguyên khác nhau, do đó ảnh hưởng đến
việc lựa chọn hướng phát triển cho vùng. Thông thường ở những
vùng có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ chú trọng phát triển
ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến … Còn vùng khan hiếm
nguồn lực sẽ phải tiến hành thu mua và nhập nguyên liệu, dẫn đến
sự lệ thuộc, không được ổn định thị trường.
4.2
tầng.
Mức độ phát triển sản xuất và cấu trúc hạ tầng được biểu hiện
qua các thông số về mức độ tập trung các cơ sơ sản xuất, mức tăng
trưởng kinh tế cũng như mức độ tập trung các cơ sở kết cấu hạ
tầng kinh tế và xã hội.
Đào Thái Hà
10
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
Ở các vùng đồng bằng ven biển tập trung nhiều đầu mối giao
thông, có sẵn các điều kiện sản xuất , do đó các hoạt động kinh tế
sống động hơn, các hoạt động văn hoá - nghệ thuật cũng ở trình độ
cao hơn so với vùng miền núi, khó khăn và có trình độ thấp hơn.
Đường giao thông vận tải và mạng lưới điện không chỉ có ý
nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế vùng, mà còn có ý nghĩa
quan trọng trong việc cung cấp và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ
bản, nhất là về chất lượng dịch vụ. Ở các vùng miền núi thường
không có điện, nên trường học, trạm y tế cũng sẽ không có điện tác
động xấu đến chất lượng dịch vụ giao dục và khám cứu chữa bệnh.
Ngược lại, vùng đồng bằng không những giao thông thuận lợi mà
còn đầy đủ cơ cở vật chất, kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển
cùng do kết quả hoạt động kinh tế tren phạm vi lãnh thổ của một
quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định.
Hai chỉ tiêu trên được đưa ra nhằm so sánh quy mô sản xuất
của các vùng, phản ánh mức độ tăng trưởng của hai vùng sau một
thời kỳ nhất định.
Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người là chỉ báo quan trọng
phản ánh điều kiện vật chất cơ bản để phát triển con người, là tiền
đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung.Chỉ tiêu này được tính
bằng GDP/người hoặc GNI/người. Sự gia tăng liên tục với tốc độ
ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng
bền vững. Thu nhập bình quân đầu người cho biết khả năng dân số
trong vùng có khả năng chi tiêu cho các dịch vụ tiêu dùng và xã
hội. Như vậy đây là chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá mức
độ chênh lệch về mức sống giữa các vùng lãnh thổ. Nếu một vùng
có thu nhập bình quân đầu người ở mức cao thì có thể nhận diện đó
là một vùng có nền kinh tế phát triển ( về mặt lượng) còn ngược lại
Đào Thái Hà
12
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
nếu thu nhập bình quân đầu nguời ở mức thấp thì người dân sẽ gặp
nhiều khó khăn trong việc tiêu dùng cá nhân. Thực tế, đã có các tổ
chức dùng chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người đề phân các
Trường ĐH KTQD
GDP. Kinh tế càng phát triển thì các chỉ tiêu trên ngày càng tăng
lên.
Thứ hai là nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân và chăm sóc
sức khoẻ bao gồm: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ chết ở trẻ em, tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng, tỷ lệ chi ngân sách cho y tế.
Thứ ba là nhóm chỉ tiêu dân số và việc làm bao gồm: tốc độ
tăng trưởng dân số tự nhiên, tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn. Các vùng, lãnh thổ
đang phát triển thường có tốc độ tăng trưởng dân số cao hơn mức
trung bình.Xem xét tỷ lệ thất nghiệp của mỗi vùng nhằm thống kê
số người không có việc làm; những tác động về kinh tế xã hội mà
họ gây ra đối với những người đang làm việc. Thất nghiệp là vấn
đề trung tâm của mọi quốc gia nói chung và của các vùng nói riêng
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống dân cư và phúc lợi xã hội
của mỗi vùng. Một vùng có tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao đồng
nghĩa với nền kinh tế của vùng chậm phát triển và đời sống dân cư
gặp nhiều khó khăn.
Các chỉ tiêu trên chỉ phản ánh từng lĩnh vực khác nhau của
phát triển xã hội. Để đánh giá tổng hợp và xếp loại trình độ phát
triển kinh tế - xã hội chung giữa các địa phương, năm 1990 Liên
hiệp quốc đưa ra một chỉ tiêu tổng hợp có tên gọi là Chỉ số phát
triển con người( HDI ). HDI chứa đựng 3 yếu tố cơ bản: tuổi thọ
bình quân được phản ánh bằng số năm sống; trình độ giáo dục
Đào Thái Hà
14
Kinh tế phát triển 44B
chỉ số đo mức sống.
Ngoài chỉ tiêu phát triển con người, một vấn đề quan trọng để
đánh giá sự phát triển trên khía cạnh xã hội là vấn đề nghèo đói và
bất bình đẳng. Hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng khả năng thu
nhập và chính sách phân phối thu nhập và phân phối lại nhằm điều
tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm bảo về
người nghèo cũng như giải quyết vấn đề công bằng xã hội.
Để đánh giá mức độ nghèo đói và bất bình đẳng ta dùng các
chỉ tiêu: Chỉ tiêu hệ số giãn cách thu nhập xác định mức chênh
Đào Thái Hà
15
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
lệch thu nhập giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo trong xã hội.
Tiêu chuẩn “ 40” do WB để xuất năm 2002 xác định tỷ lệ thu nhập
chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có thu nhập thấp
nhất trong vùng. Theo chỉ tiêu này, nước (địa phương) nào thu
nhập của 40% dân số thấp nhất chiếm trên 17% thì mức độ bình
đẳng xã hội khá cao, tương ứng nếu chiếm từ 12% - 17% thì ở mức
độ tương đối bất bình đẳng còn nếu đạt nhỏ hơn 12% thì ở mức độ
bất bình đẳng lớ. Tỷ số Kuznets là chỉ tiêu do nhà kinh tế người
vấn đề bất bình đẳng xã hội cũng được xem xét. Để so sánh hai
vùng lãnh thổ cần chú ý đến : Mức độ phân biệt đối sử đối với phụ
nữ; Mức độ thực hiện dân chủ cộng đồng thể hiện ở vị thế của
cộng đồng dân cư trong việc tham gia vào quá trình ra quyết định
về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ; tính
minh bạch của hệ thống tài chính ở các cấp địa phương.
6.
Sự cần thiết khi nghiên cứu sự chênh lệch phát triển
vùng.
Ở Việt Nam sau khi tiến hành đổi mới nền kinh tế ( năm 1986)
chuyển sang giai đoạn nền kinh tế thị trường thì ngoài việc gỡ bỏ
chế độ bao cấp, vấn đề chênh lệch vùng, miền đã bắt đầu xuất hiện.
Như đã phân tích ngoài các yếu tố khách quan tác động thì vấn đề
chênh lệch vùng còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố chủ quan khác.
Có nhiều ý kiến cho rằng đây là mặt trái của nền kinh tế thị trường,
yêu cầu phải hạn chế, thu hẹp sự chênh lệch đó. Cũng có ý kiến coi
đó là động lực của sự phát triển. Vì vậy sự nghiên cứu về vấn đề
này là rất cần thiết.
Đào Thái Hà
17
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
phép thì sẽ tạo ra động lực phát triển, tạo khả năng cạnh tranh
trong nội bộ vùng và trong cả nước. Chính vì vậy cũng có thể coi
chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội là một trong những mặt tích
cực cần được xem xét.
Như vậy ở góc độ vĩ mô có thể thấy rằng nghiên cứu, giải
quyết vấn đề chênh lệch vùng chính là việc phát triển nền kinh tế
một cách bền vững, ổn định thể hiện tinh thần mà Đảng và Nhà
nước ta luôn theo đuổi là :Thực hiện một xã hội công bằng dân chủ
và văn minh.
7.
Bài học kinh nghiệm về giải quyết chênh lệch vùng
của các quốc gia trên thế giới.
7.1.
Kinh nghiệm của các nước trong khu vực ASEAN.
Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến nay, các nước Asean đã liên
tục đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội, duy trì
tăng trưởng kinh tế cao, ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện đáng kể
mức sống của người dân. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển "tập
trung vào mục tiêu tăng trưởng trước, phân phối sau", đã tạo nên
sự mất cân đối trong phát triển vùng, làm nẩy sinh nhiều vấn đề
kinh tế-xã hội như chênh lệch mức tăng trưởng, mức sống giữa các
vùng để khuyến khích thiết lập các cơ sở công nghiệp tại các vùng
nghèo, nhằm giảm bớt sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng,
mặt khác, vẫn duy trì sự quản lý tập trung, đặc biệt tập trung đầu tư
dịch vụ công cộng cho thủ đô Băng Cốc, thực hiện chính sách
nông nghiệp có lợi cho người tiêu dùng thành thị. Việc làm này đã
Đào Thái Hà
20
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
làm cho thủ đô Băng Cốc và các tỉnh lân cận vẫn tiếp tục là trung
tâm hấp dẫn đầu tư. Ngoài ra, chính sách xuất khẩu lao động của
Thái Lan cũng phần nào giải quyết được vấn đề lao động và thu
nhập cho số lao động dư thừa, lao động không có tay nghề, qua đó
tăng thêm lợi ích cho nền kinh tế nói chung, góp phần vào giải
quyết sự mất cân đối về phát triển giữa các vùng. Với số lao động
xuất khẩu ra nước ngoài, trung bình hàng năm, số tiền chuyển qua
ngân hàng xuất khẩu lao động đã đạt khoảng 1 tỷ USD và có xu
hướng tăng lên. Nhiều nghiên cứu cho thấy, những người nghèo ở
Thái Lan là người được hưởng nhiều nhất từ nguồn chuyển khoản
này. Chính phủ Thái Lan cũng đã giải quyết những thiếu hụt về lao
động có kỹ năng bằng biện pháp du nhập và khuyến khích lao
động có tay nghề cao vào Thái Lan. Chính sách này kết hợp với
đầu tư cho giáo dục, đào tạo, và đây cũng là một trong những biện
cần nhiều lao động, đẩy mạnh phát triển công-nông nghiệp ở nông
thôn
Năm 1981, Luật đầu tư của Philipin đã khuyến khích thành lập
doanh nghiệp tại các vùng kém phát triển dưới hai dạng: Cung cấp
tín dụng có giá trị bằng 100% chi phí kết cấu hạ tầng cần thiết chịu
thuế quan của doanh nghiệp và giảm thêm thuế thu nhập có giá trị
bằng chi phí lao động trực tiếp đối với các hãng xuất khẩu.
Từ năm 1989, Chính phủ Philipin đã thực hiện chính sách
nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh hoặc hợp tác xã có trụ sở và
hoạt động kinh doanh ở vùng nông thôn. Các đơn vị kinh tế này sẽ
được miễn tất cả các loại thuế của trung ương và địa phương, các
loại phí liên quan đến việc cấp giấy phép kinh doanh và xây dựng.
Ngoài ra, chủ sở hữu hoặc thành viên của doanh nghiệp này còn
Đào Thái Hà
22
Kinh tế phát triển 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH KTQD
được miễn thuế thu nhập đối với khoản thu từ hoạt động kinh
doanh này, với ưu đãi được kéo dài trong thời gian 5 năm, kể từ
khi đăng ký hoạt động. Ngoài ra, Chính phủ Philipin còn thiết lập
hệ thống ngân hàng nông nghiệp quy mô nhỏ, nhằm phục vụ các
hộ nông dân và các doanh nghiệp ở nông thôn. Để khuyến khích
hoạt động của các ngân hàng này, Chính phủ đã trợ cấp bằng cách
từ vùng khó khăn đến định cư tại các vùng có đất đai mầu mỡ hơn;
Phát triển và khôi phục lại các làng mạc ở nông thôn bằng cách
cung cấp đầu vào và kết cấu hạ tầng, nhằm tăng sự hấp dẫn và
năng suất lao động của vùng. Công cụ của Chính phủ Malaixia để
thực hiện chương trình di dân và khôi phục làng mạc là cấp tín
dụng cho các cơ quan nhà nước, cung cấp nguồn lực cho các cơ
quan này thiết lập các cơ sở công nghiệp và kết cấu hạ tầng.
Indônêxia: Từ những năm 60, Chính phủ Indônêxia đã thực
hiện chính sách tăng cường giáo dục và tạo việc làm tại các vùng
nông thôn, thành lập hệ thống đào tạo hướng nghiệp quốc gia.
Công cụ của chính sách tạo việc làm ở khu vực nông thôn là tiến
hành các chương trình quốc gia với nguồn kinh phí từ ngân sách và
tiền viện trợ từ nước ngoài.
Trong những năm gần đây, Chính phủ Indônêxia đã thực hiện
chương trình phi tập trung hóa, nhằm tăng tính tự chủ hơn cho
chính quyền các vùng và khuyến khích các tổ chức phi chính phủ
là cơ quan trung gian làm cầu nối giữa Chính phủ với các vùng
nghèo, khó khăn và hỗ trợ thực hiện các chương trình của Chính
phủ.../.
7.2
Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Đào Thái Hà
24
Kinh tế phát triển 44B