Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là chuyên đề do em tự viết dựa trên việc tham khảo sách
báo, tài liệu của phòng Tài Chính Kế Hoạch và các tài liệu trên wedsite đã chú
thích, ngoài ra không hề sao chép bất kỳ tài liệu, luận văn hay chuyên đề nào khác
Hà Nội, Ngày 17 tháng 5 năm 2013
Chữ ký của sinh viên
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
MỤC LỤC
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QSD : quyền sử dụng
UBND : ủy ban nhân dân
KH&DT : kế hoạch và đầu tư
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế huyện Từ Liêm năm 2011 Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Từ Liêm 2012 37
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Kế hoạch là công cụ quan trọng của chính phủ trong việc can thiệp vào nền
kinh tế. Ngoài chức năng định hướng, nó còn là cách mà chính phủ phân bổ nguồn
lực một cách hiệu quả, khắc phục được những thất bại vốn có của thị trường. Trong
hệ thống kế hoạch hóa ở Việt Nam, đối với cấp huyện kế hoạch 5 năm phát triển
1
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
suốt thời gian thực tập; em xin gửi lời cám ơn của mình tới toàn thể các thầy cô
đang giảng dạy trong khoa đã cung cấp cho em rất nhiều kiến thức trong suốt thời
gian học tập tại trường để em xây dựng và hoàn thiện đề tài. Em cũng chân thành
cám ơn những anh chị trong phòng Tài chính- kế hoạch huyên Từ Liêm đã nhiệt
tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành quá trình thực tập của mình.
Trong thời gian thực hiện đề tài dù đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể
tránh khỏi các sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để chuyên
đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
2
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội trong quản lý nền kinh tế
1.1.1. Cơ sở lý luận của kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Kế hoạch hóa là một công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
thị trường
Trong lịch sử phát triển kinh tế có một vấn đề rất được quan tâm đó là vai trò
của nhà nước và thị trường trong việc điều tiết hoạt động của nền kinh tế, có khi các
nhà kinh tế cho rằng vai trò của nhà nước là mờ nhạt trong chủ nghĩa trọng nông
cũng có khi nhà nước đóng vai trò chủ đạo quyết định đến sự phát triển kinh tế như
trong các học thuyết của keynes. Trong nền kinh tế hiện đại, các nhà kinh tế đều đi
tới thống nhất là phải có sự phối hợp giữa nhà nước và thị trường trong việc điều
hành nền kinh tế chứ không nên xét cái nào quan trọng hơn. Nhà nước thể hiện vai
trò của mình trong các vấn đề sau: thứ nhất nhà nước phải can thiệp nhằm khắc
phục những khuyết tật của thị trường như độc quyền, ngoại ứng, hàng hóa công
cộng và thông tin bất đối xứng. Đây là những vấn đề mang tính chất vĩ mô đòi hỏi
chính phủ và nhân dân cùng hình dung ra khung cảnh nền kinh tế trong tương lai
và cùng thống nhất trong việc đề ra cách thức thực hiện. Công cụ thứ ba mà chính
phủ thường sử dụng đó là hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô. Trong công cụ này lại
có hai loại là chính sách định hướng phát triển và chính sách điều tiết vĩ mô. Chính
sách định hướng phát triển có chức năng hướng dẫn các hoạt động kinh tế xã hội để
hướng tới các mục tiêu đề ra. Hệ thống này bao gồm: chính sách phát triển các
ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chính sách phát triển các vùng
kinh tế; chính sách phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội như: dân số, nguồn lao
động, khoa học công nghệ, đất đai, chính sách đầu tư, chính sách mở cửa, hội nhập,
… loại thứ hai đó là chính sách điều tiết vĩ mô bao gồm chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ nhằm điều tiết nền kinh tế theo hướng thúc đẩy tăng trưởng, ổn
định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hai chính sách này tập
trung điều chỉnh lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… sao cho phù hợp nhất với
tình hình kinh tế đặt ra, nó được ví như những liều thuốc ảnh hưởng rất mạnh tới
sức khỏe của nền kinh tế, nếu dùng đúng lúc và đúng cường độ là rất tốt còn nếu
không sẽ để lại nhiều hậu quả. Công cụ cuối cùng mà chính phủ sử dụng để tạo ra
sự can thiệp của mình vào thị trường đó là lực lượng kinh tế nhà nước. Hệ thống
này được chia làm hai nhóm: thứ nhất là các doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực
sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp; các ngân hàng thương mại nhà nước, công
ty bảo hiểm nhà nước. Nhóm thứ hai là hệ thống phi doanh nghiệp nhà nước bao
gồm Ngân Sách Nhà Nước, Ngân hàng nhà nước; Kho bạc nhà nước, các quỹ dự trữ
quốc gia, hệ thống tài nguyên, khoáng sản và đất đai; các dịch vụ công cộng do nhà
nước đảm nhận. Các thành phần này có vị thế lớn trong thị trường nhằm đảm bảo sự
kiểm soát hiệu quả của nhà nước đối với nền kinh tế khi cần có sự điều chỉnh hay
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
4
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
chính sách thì đây sẽ là những thành phần trong nền kinh tế chịu tác động đầu tiên,
và những tác động này có thể chi phối toàn bộ thị trường.
Như các phân tích đã nêu ở trên kế hoạch phát triển là một trong những công
phụ thuộc rất lớn vào sự đồng tâm nhất chỉ của các cá nhân trong tổ chức đó, nếu tất
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
5
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
cả cùng hướng về một mục tiêu chung thì chắc chắn kéo theo huy động nguồn lực
vào đó, điều này sẽ giúp mục tiêu đặt ra dễ dàng thực hiện hơn. Kế hoạch sẽ giúp
nhà nước phác họa một cách rõ nét về bức trang của đất nước trong tương lai, các cá
nhân, doanh nghiệp sẽ dựa vào các định hướng đó để biết rằng lĩnh vực nào được
ưu tiên phát triển trong tương lai, khu vực nào được ưu tiên đầu tư trong thời gian
tới;… nhờ thế mà họ có thể điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với mục tiêu
chung của toàn xã hội.
1.1.2. Bản chất của kế hoạch hóa và sự thể hiện trong các phương thức kế
hoạch hóa
Kế hoạch hóa là phương thức quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của nhà
nước theo mục tiêu, là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng
các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là quy luật kinh tế để tổ chức, quản lý các
đơn vị kinh tế, các ngành, các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo những
mục tiêu thống nhất, dự kiến trước phương hướng cơ cấu, tốc đô phát triển và có
những biện pháp tương ứng bảo đảm thực hiện nhắm đạt hiệu quả kinh tế.( theo từ
điển bách khoa Việt Nam). Vậy bản chất của kế hoạch hóa được mô tả như là một
loạt các mục tiêu kinh tế, xã hội cần đạt được trong khoảng thời gian định sẵn; và
nó được thể hiện ở cách thức mà chính phủ sử dụng để thực hiện sự can thiệp vào
nền kinh tế.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh mà điển hình là nền
kinh tế của Liên Xô cũ, Đông Âu, và Việt Nam trước thời kỳ đổi mới ( năm 1986
trở về trước), chính phủ không những điều hành về mặt chính trị mà còn điều tiết
mọi mặt về các vấn đề kinh tế. Nhà nước không chế trực tiếp các hoạt động kinh tế
bằng cách tập trung phân bổ nguồn lực thông qua các quy định mang tính mệnh
lệnh từ trung ương. Tất cả các mục tiêu cụ thể đã được bộ phận kế hoạch triển khai
sẵn một cách toàn diện và đầy đủ, sau đó được chuyển xuống cấp dưới theo phương
hóa tiên tiến và phù hợp với sự phát triển của thời đại.
1.1.3. Chức năng và các nguyên tắc chủ yếu của kế hoạch phát triển
1.1.3.1. Các chức năng của kế hoạch phát triển
Chức năng điều tiết, phối hợp, ổn định kinh tế vĩ mô
Trên phương diện kinh tế vĩ mô, hoạt động kế hoạch hóa phải được hướng
theo các mục tiêu chinh đó là: ổn định giá, bảo đảm công ăn việc làm, tăng trưởng
và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Các mục tiêu này có sự liên quan chặt chẽ
tới nhau. Việc thiên lệch hay quá nhấn mạnh vào mục tiêu nào sẽ ảnh hưởng tới
việc thực hiện các mục tiêu còn lại vô hình chung ảnh hưởng đến sự cân bằng tổng
thể nền kinh tế. Chức năng này của kế hoạch hóa thể hiện rõ ở:
Hoạch định chung tổng thể của nền kinh tế, đưa ra và thực thi chính sách cần
thiết bảo đảm các cân đối kinh tế nhằm sử dụng tổng hợp nguồn lực, phát huy hiệu
quả tổng thể kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng nhanh theo hướng thống nhất bảo
đảm tính chất xã hội của các hoạt động kinh tế.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
7
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Bảo đảm môi trường kinh tế ổn định và cân đối. Tạo những điều kiện thuận
lợi về cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội, bảo vệ môi trường, tạo tiền đề và hành
lang pháp lý cho phát triển kinh tế lành mạnh.
Bảo đảm sự công bằng xã hội giữa các vùng, các tầng lớp nhân dân bằng kế
hoạch sử dụng ngân sách và các chính sách điều tiết.
Kế hoạch hóa còn thể hiện chức năng điều tiết nền kinh tế phù hợp xu thế hội
nhập, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng. Để thực hiện chức năng này kế hoạch hóa
phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ thuận lợi tìm ra được
hướng đi tắt đón đầu giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, nhanh chóng
đuổi kịp các quốc gia tiên tiến khác.
Chức năng định hướng phát triển
Đây chính là chức năng thể hiện rõ bản chất của công tác kế hoạch hóa trong
nền kinh tế, chức năng này thể hiện ở việc công tác kế hoạch hóa phải xây dựng
các bước đi trong kế hoạch kinh tế đối ngoại, hội nhập, các hoạt động tài chính tiền
tệ, không chế các con số cân đối thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tính dân chủ trong kế hoạch hóa thể hiện ở các phương diện sau đây: Thứ nhất, sử
dụng sự tham gia của các bên vào xây dựng và thực thi kế hoạch. Thứ hai, sử dụng
sự tham gia của khu vực tư nhân trong công tác kế hoạch hóa. Thứ ba, chính phủ
phải đưa ra các cam kết cụ thể của mình với từng địa phương, ngành và doanh
nghiệp. Thứ tư, thể hiện trong việc tăng cường hình thức kế hoạch hóa phi tập
trung. Thức năm là mở rộng tính chất dân chủ trong quan hệ tác động giữa nhà
nước với cấp trên trong xây dựng và triển khai kế hoạch.
Dân chủ và kế hoạch là hai tính chất không thể tách rời của kế hoạch, nó có
thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ và các đặc trưng phát triển trong từng giai
đoạn của đất nước, phụ thuộc vào các điều kiện trong và ngoài nước. Nhưng cũng
cần lưu ý một điều, nếu quá chú trọng vào tính tập trung sẽ dẫn kế hoạch hóa đi
theo cơ chế tập trung mệnh lệnh, quan liêu bao cấp. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh
vào tính dân chủ nghĩa là xa rời bản chất của kế hoạch hóa.
Nguyên tắc thị trường
Xem xét trên góc độ thị trường và kế hoạch là hai công cụ điều tiết nền kinh
tế thì giữa chúng có mối quan hệ kết hợp giữa một bên là công cụ trực tiếp (bằng kế
hoạch) và công cụ gián tiếp( thông qua thị trường); là sự kết hợp định hướng nền
kinh tế tuân theo các quy luật của thị trường. Nếu coi sự vận hành của nền kinh tế
giống như một dây chuyền sản xuất ô tô thì kế hoạch đóng vai trò như bản thiết kế
của dây chuyền đó, việc sử dụng những loại máy móc gì, đặt chúng ở đâu để đạt
được hiệu quả tối đa đều được dự định từ trước phù hợp với các yêu cầu về nguồn
lực. Như vậy nguyên tắc thị trường đặt ra yêu cầu: kế hoạch không tìm cách thay
thế thị trường mà ngược lại bổ sung, bù đắp những khiếm khuyết cho thị trường.
Mặt khác kế hoạch cũng phải căn cứ vào thị trường để đưa ra các mục tiêu hợp lý,
phải luôn cân nhắc các công cụ can thiệp để tạo ra sự hiệu quả, phải tính đến các
yếu tố có thể kiểm soát cũng như không thể kiểm soát được.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
9
Sơ đồ1: Tổng quát quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
10
Bước 1
Phân tích tiềm
năng và thực
trạng phát triển
Bước 2
Xác định mục
tiêu, chỉ tiêu và
chỉ số
Bước 3
Xác định các cân
đối vĩ mô chủ yếu
Bước 4
Các giải pháp
thực hiện
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
1.2.1.1. Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế xã hội
Khái niệm và các yêu cầu cơ bản
Khái niệm: phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng bao gồm việc sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cần thiết để làm rõ các yếu tố nguồn lực và hiện trạng
phát triển kinh tế xã hội bao gồm việc phân tích và làm rõ các lợi thế về nguồn lực
của huyện và khả năng khai thác, sử dụng chúng trong thời kỳ kế hoạch. Thêm vào
đó, cần có sự đánh giá, làm rõ trình độ phát triển của địa phương về các mặt kinh tế
xã hội trong mối quan hệ với các địa phương, vùng miền khác. Kết quả sau khi
phân tích tiềm năng và thực trạng chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về các nguồn
lực phát triển, môi trường kinh doanh, các thị trường tiêu thụ cơ bản trong mối
tương quan với các vùng miền khác; đó là những căn cứ quan trọng cho việc xác
định mục tiêu và giải pháp cho kế hoạch tương lai. Việc đánh giá này phải làm rõ
Tổng hợp các vấn đề then chốt
Sau khi có sự phân tích về tiềm năng và thực trạng chúng ta cần có sự đánh
giá một cách tổng quát về tình hình của địa phương trên các khía cạnh:
Bảng 1: Tổng hợp các vấn đề then chốt khi phân tích tiềm năng và thực trạng
Thách thức: là những mối đe dọa từ một xu hướng
hoặc một hoàn cảnh bên ngoài có thể ảnh hưởng xấu
tới địa phương, cần có sự phân tích, dự báo để địa
phương có thể ứng phó kịp thời từ đó đưa ra các biện
pháp khắc phục, không để bị động quá nhiều.
Điểm yếu: những yếu tố
mang tính chủ quan được
thể hiện là những khiếm
khuyết, hạn chế hay thiếu
hụt nguồn lực, phải biết
mình yếu ở đâu để có thể
Điểm mạnh
: những yếu tố
mang tính chủ quan bên
trong mà địa phương tạo
nên hay nhưng yếu tố
Tình hình địa phương
Cơ hội: những đặc điểm hay điều kiện khách quan bên
ngoài có lợi cho địa phương. Đó là những thời cơ quan
trọng, những điều kiện mang tính chất quyết định có
thể tạo nên sự đột phá trong sự phát triển, có thể gấp
nhiều lần trong điều kiện bình thường.
1.2.1.2. Xác định mục tiêu và chỉ tiêu
Mục tiêu
Khái niệm: mục tiêu là đích mà kế hoạch muốn đạt đến trong khoảng thời
chỉ tiêu cần đảm bảo một số yêu cầu đó là các chỉ tiêu phải SMART( Specific: cụ
thể; Measurable: đo đếm được; Achievable: có thể đạt được; Realistic: thực tiễn;
Timebound: có thời hạn cụ thể)
1.2.1.3. Xác định các cân đối vĩ mô của nền kinh tế
Nội dung này được đánh giá là rất quan trọng trong kế hoạch 5 năm phát
triển kinh tế xa hội bởi nó thể hiện rõ bản chất và vai trò của kế hoạch trong việc
thực hiện cân đối nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển mang tính bền vững. Các cân
đối chủ yếu bao gồm: Cân đối giữa khả năng tích lũy và nhu cầu tiêu dùng của nền
kinh tế(I/C); Cân đối ngân sách nhà nước, bao gồm khả năng thu và chi nhân
sách(T/G) trong thời kỳ kế hoạch theo hướng ổn định nền tài chính quốc gia, tăng
khả năng và tiềm lực tài chính của nhà nước; cân đối về vốn đầu tư phát triển kinh
tế xã hội với việc huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế (I=Id+If) theo
hướng tăng khả năng đầu tư phát triển; cân đối về xuất – nhập khẩu (X/M); cân đối
về năng lực sản xuất và nhu cầu các sản phẩm chủ yếu trong nền kinh tế theo hướng
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
13
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện dân sinh và các mặt xã hội,
xóa đói giảm nghèo.
1.2.1.4. Các giải pháp thực hiện
Các công cụ cơ bản để triển khai thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội bao gồm: các chương trình dự án, các kế hoạch ngắn hạn và các
giải pháp cơ chế chính sách. Nội dung cụ thể là:
Xây dựng chương trình, dự án nhằm hướng tới thực hiện được mục tiêu đặt
ra. Ở tầm quốc gia, mỗi giai đoạn kế hoạch 5 năm sẽ xây dựng một số chương trình
mục tiêu nhằm tập trung các nguồn lực cho việc giải quyết một cách triệt để các vấn
đề bức xúc, nổi cộm đang diễn ra trong quá trình phát triển của địa phương. Các nội
dung cơ bản của chương trình dự án này bao gồm: mục tiêu của chương trình, dự
án; phạm vi tác động; các điều kiện cân đối để thực hiện chương trình, bao gồm cả
các giải pháp và cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực cần thiết; cơ chế
trình theo dõi nhưng về mục đích thì đi xa hơn đó là rút ra được những kinh nghiệm
để học hỏi cho tương lai.
Phân loại: có ba loại đánh giá được dùng phổ biến, một là đánh giá giữa kỳ
nhằm mục đích đánh giá định kỳ tiến độ kế hoạch, những gì đạt được so với mục
tiêu cả kỳ như thế nào, từ đó xác định những giả thuyết đã nêu trong kế hoạch có
giữ nguyên giá trị không hay cần điều chỉnh, và cuối cùng là cần đưa ra các giải
pháp, kiến nghị để nửa kỳ sau thực hiện kế hoạch được hiệu quả hơn. Hai là đánh
giá cuối kỳ: là đánh giá được tiến hành khi kết thúc kỳ kế hoạch nhằm đánh giá kết
quả đạt được, tổng kết toàn bộ quá trình xem xét thành công, thất bại và rút ra kinh
nghiệm, xem xét khả năng điều chỉnh kế hoạch kỳ tiếp theo nhằm đảm bảo các mục
tiêu trung hạn và dài hạn. Ba là đánh giá tác động: là đánh giá tiến hành tại một thời
điểm sau khi đã kết thúc kỳ kế hoạch một thời gian nhằm đánh giá những tác động
của kế hoạch có được như mong muốn hay không.
1.2.2.1.2. Mối quan hệ giữa theo dõi và đánh giá
Bảng 2: Phân biệt theo dõi và đánh giá
Tiêu chí Theo dõi Đánh giá
Bản chất
của hoạt
động
Tìm kiếm và thấy, nghe và
nghe thấy, phát hiện và ghi
nhớ, làm rõ và báo cáo
Phản ánh những gì xỷ ra, xem xét
tác động, xét đoán giá trị
Lý do thực
hiện hoạt
động
Cung cấp thông tin cho những
người hoạt động nhằm giúp
cho việc ra quyết định hàng
Tiến hành tại nơi hoạt động,
kết quả được chuyển nhanh tới
các cấp khác của địa phương
Bao gồm những quy trình liên quan
mật thiết với những người tham gia
và chịu tác động bởi các hoạt động
của địa phương
Cách thức
tiến hành
Nhìn, nghe, học hỏi Sử dụng nhiều phương pháp và cần
được cân nhắc thực tế từ trước.
Ý nghĩa Thu thập thông tin, phản ánh
tình hình giúp cho việc thực
hiện được hiệu quả hơn
Xem xét tác động, đánh giá những
hoạt động có hiệu quả hay không.
Mối quan hệ giữa theo dõi và đánh giá: Mặc dù hai công việc có nhiều sự
khác biệt nhưng chúng cùng hướng tới mục tiêu chung là giúp cho việc thực hiện
các hoạt động đạt hiệu quả hơn. Đánh giá phải được thực hiện dựa trên quá trình
theo dõi, tức là xem xét với những hoạt động được thực hiện với tiến độ như vậy,
kết quả như vậy thì có hiệu quả hay không. Ngược lại đánh giá cũng có sự bổ sung
cho theo dõi ở chỗ khi phát hiện ra việc thực hiện hoạt động tốt hay không tốt ở chỗ
nào thì có thể điều chỉnh tăng cường giám sát theo dõi nhằm sát sao hơn với các
hoạt động.
1.2.2.1.3. Vai trò của theo dõi đánh giá trong kế hoạch hóa phát triển kinh tế
xã hội
Theo dõi cho phép các cấp chính quyền nắm bắt tình hình triển khai thực
hiện các mục tiêu đề ra, nhờ đó có cơ sở vững chắc nhằm đưa ra các quyết định
quản lý cho phù hợp, hướng các hoạt động đi theo đúng hướng. Những phát hiện có
được từ quá trình theo dõi thông tin đầu vào là những phát hiện sớm nhất và không
hoạch. Đối tượng của theo dõi,
đánh giá theo kết quả không chỉ
là các hoạt động, đầu vào như
nguồn lực tài chính, nguồn nhân
lực mà còn xem cét kết quả và
tác động của thực hiện kế hoạch
dựa trên mối liên hệ logic giữa
các chỉ số.
Đối tượng Quá trình thực hiện kế hoạch với
chủ yếu là các hoạt động đầu vào
và đầu ra.
Các hoạt động, đầu vào như
nguồn lực tài chính, nguồn nhân
lực, xem xét kết quả và tác động
của thực hiện kế hoạch dựa trên
mối liên hệ logic giữa các chỉ số.
Chủ thể các cấp lãnh đạo, điều hành kế
hoạch và các bên có liên quan
các cấp lãnh đạo, điều hành kế
hoạch, các bên liên quan và cả
người chịu tác động của kế
hoạch
Tính trách
nhiệm
Không rõ ràng Cụ thể và rõ ràng
Hệ thống
Thông tin
Thường nghèo nàn, không được
quan tâm
Phong phú, được phản hồi liên
thiết trong chương trình theo dõi. Hoạt động theo dõi cần mang tính hệ thống, các
tiêu chí có thể đo lường được và có thể liên hệ với mục tiêu, cho phép chỉ ra mức độ
đạt được của các mục tiêu; các tiêu chí này phải dễ hiểu và được các bên liên quan
tán thành, ví dụ:
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
18
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
Bảng 4: Kết hợp các mục tiêu, chỉ số và thông tin
Mục tiêu Chỉ số Nguồn thông tin
Đẩy mạnh xây
dựng nông thôn
mới
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch
Tỷ lệ cứng hóa đường giao thông
Số trường học đạt chuẩn quốc gia
…
Cơ quan chủ quản
Nâng cao mức
sống dân cư
Thu nhập bình quân đầu người Thống kê dân số và
thu nhập
Xác định các thành phần tham gia theo dõi đánh giá: Xây dựng một
chương trình theo dõi đòi hỏi quy định rõ trách nhiệm về thu thập và phân tích
thông tin một cách định kỳ. Tốt nhất là sắp xếp sao cho những người tham gia vào
trong quá trình lập kế hoạch cũng sẽ tham gia vào việc thu thập thông tin và báo cáo
kết quả cho các cấp lãnh đạo.
Xác định thời gian hoạt động: Thời gian thực hiện theo dõi sẽ rất khác nhau
với mỗi mục tiêu kế hoạch vì bản chất các mục tiêu được theo dõi và các chỉ số
được thực hiện là không giống nhau. Thông thường theo dõi có thể thực hiện theo
định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc vào giữa giai đoạn của dự
hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội là một công cụ quan trọng để các cấp
chính quyền có thể can thiệp vào nền kinh tế, nhằm phân bổ nguồn lực một cách
hiệu quả hơn, hướng nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. Trên quy mô cấp
huyện việc xây dựng một hệ thống kế hoạch đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức
bởi hệ thống chỉ tiêu, chỉ số rất đồ sộ và trải rộng trên nhiều lĩnh vực gây ra sự khó
khăn trong việc quản lý. Hơn nữa khi bắt tay vào thực hiện kế hoạch luôn luôn có
những tình huống xảy ra nằm ngoài dự đoán của con người có thể làm kế hoạch bị
chệch hướng vì thị trường là luôn luôn biến động, thời cơ và thách thức luôn có sự
thay đổi, đan xen nhau. Chính bởi vậy cần có sự sát sao theo dõi nhằm nắm bắt
được tình hình thực tế để đưa ra những điều chỉnh cho phù hợp, chỉ có như vậy các
cấp chính quyền mới có thể phát huy hết vai trò của mình trong việc định hướng và
dẫn dắt nền kinh tế. Chính bởi vậy sau khi có sự đánh giá về việc thực hiện kế
hoạch trong thời gian trước thì yêu cầu bức thiết đặt ra là huyện phải có các biện
pháp đẩy mạnh để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm hướng tới mục
tiêu chung của thành phố cũng như quốc gia, góp phần nâng cao đời sống nhân dân
cả về phương diện vật chất cũng như tinh thần, khẳng định vai trò vững chắc của
đảng và nhà nước trong việc phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Nguyễn Thành Mạnh
20
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển PGS.TS LÊ HUY ĐỨC
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
5 NĂM TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU 2011-THÁNG 6 2013
CỦA HUYỆN TỪ LIÊM
2.1. Giới thiệu tổng quan về huyện Từ Liêm
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Huyện Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-CP ngày
31/5/1961 của Chính phủ trên cơ sở Quận 5, Quận 6 và một số xã của huyện Hoài
Đức, huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Đông. Huyện được thành lập gồm 26 xã, có diện
tích đất trên 114 km2, dân số 12 vạn người.