Công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhận gia công cho thương nhân nước ngoài tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội - Pdf 34

DANH MỤC VIẾT TẮT


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn
ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh
nghiệp. Xuất khẩu, nhập khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các
doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát triển, mở rộng thị trường của mình. Trong
đó có hoạt động nhận gia công cho thương nhân nước ngoài. Đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam, sự thiếu thốn về vốn, trình độ quản lý, tiến bộ khoa
học công nghệ thì gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài là một bước để
tạo lập một nền công nghiệp hiện đại, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Thông qua phương thức gia công quốc tế mà các nước đang
phát triển với năng lực sản xuất hạn chế có cơ hội tham gia vào phân công lao động
quốc tế, khai thác được nguồn tài nguyên lao động sẵn có, qua đó có thể giải quyết
được vấn đề việc làm cho xã hội.
Trong những năm gần đây, hoạt động nhận gia công cho thương nhân nước
ngoài ngày càng trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
nền kinh tế của Việt Nam. Do đó vai trò quản lý của Nhà nước về Hải quan ngày
càng được đề cao và không ngừng hoàn thiện. Với vai trò quản lý Nhà nước về Hải
quan, Hải quan Việt Nam luôn đề cao việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu,
hoạt động thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động kiểm tra, giám sát về hải
quan, hướng dẫn các doanh nghiệp trong nước thực hiện đúng các quy định về
pháp luật hải quan trong quy trình thông quan hàng hóa. Qua đó nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho hợp tác, thuonwh mại đầu tư, xuất nhập khẩu và tang cường
hiệu quả công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, góp phần đẩy nhanh tốc
độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó có hoạt động nhận gia công
cho thương nhân nước ngoài.



hoá nhận gia công cho thương nhân nước ngoài tại Cục Hải quan thành phố Hà
nội.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


Đối tượng: Công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá

nhận gia công cho thương nhân nước ngoài


Phạm vi nghiên cứu: Cục Hải quan thành phố Hà Nội



Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2012 - 2014

4. Phương pháp nghiên cứu


Phương pháp thu thập số liệu: Phương pháp thu thập số liệu chủ yếu

sử dụng trong luận văn là thuthập số liệu từ tài liệu tham khảo, một số tài liệu được
cung cấp từ Cục Hải quan thành phố Hà Nội,…


Phương pháp phân tích số liệu: Luận văn sử dụng các phương pháp

phân tích chủ yếu là phương pháp so sánh, phương pháp phân tích qua hệ số, …

công;…
Từ khái niệm trên hàng gia công có các đặc điểm như sau:
- Hàng gia công kể cả nguyên liệu gia công và sản phẩm gia công đều thuộc
quyền sở hữu của bên đặt gia công.
- Mối quan hệ giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công được hình thành
trên cơ sở một hợp đồng cung ứng dịch vụ (hợp đồng gia công).


- Hàng gia công phải trải qua ít nhất một công đoạn trong quá trình sản xuất
hay nói cách khác hàng gia công là sản phẩm của quá trình gia công, cho dù yếu tố
đầu vào của quá trình gia công là nguyên liệu hay bán thành phẩm được cung cấp
bởi bên đặt gia công hay bên nhận gia công tự cung ứng.
- Hàng gia công có quy cách phẩm chất, có định mức nguyên vật liệu chính
cấu thành nên hàng gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công và được quy định
trong hợp đồng gia công.
- Việc xuất trả hàng gia công hoàn toàn tùy thuộc vào sự chỉ định của bên
đặt gia công thông qua hợp đồng gia công.
- Hàng hóa nhập khẩu để gia công được miễn thuế nhập khẩu và khi xuất trả
sản phẩm gia công được miễn thuế xuất khẩu.
1.1.2. Gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài
Gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài là việc thương nhân Việt
Nam, kể cả thương nhân có vốn đầu tư của nước ngoài nhận gia công hàng hóa tại
Việt Nam cho thương nhân nước ngoài.
Loại hình gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài ngày đang phát triển và
trở thành lợi thế của các doanh nghiệp Việt Nam. Điều đó thể hiện bởi các ưu điểm
của loại hình này:
- Thị trường tiêu thụ có sẵn, không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản
phẩm xuất khẩu.
- Vốn đầu tư cho sản xuất ít.
- Giải quyết được một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động.

định của pháp luật). Trong trường hợp tại địa phương đó không có cơ quan hải
quan, doanh nghiệp được chọn một đơn vị hải quan thuận tiện nhất để làm thủ tục
hải quan.
Tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của hợp đồng gia công đều phải làm
thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra giám sát của hải quan và nộp lệ phí hải quan theo
quy định của pháp luật.
Tùy theo từng hợp đồng gia công, doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức
đăng kí tờ khai từng lần cho từng lô hàng xuất, nhập khẩu hoặc lựa chọn hình thức
đăng ký tờ khai một lần để làm thủ tục hải quan nhập khẩu nguyên liệu, xuất khẩu
sản phầm cho cả hợp đồng và phụ kiện hợp đồng gia công. Trường hợp doanh
nghiệp Việt Nam ký kết hợp đồng nhận gia công cho thương nhân nước ngoài
nhưng không trực tiếp gia công mà thuê doanh nghiệp Việt Nam khác gia công
(gia công lại), thì doanh nghiệp ký kết hợp đồng gia công với thương nhân nước
ngoài là người làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, thanh khoản hợp đồng gia công
với cơ quan hải quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện hợp
đồng gia công này. Hàng hóa giao nhận giữa các doanh nghiệp Việt Nam không
phải làm thủ tục hải quan.
Hàng hóa nhập khẩu để gia công cho phía nước ngoài theo hợp đồng gia
công đã đăng ký được miễn thuế nhập khẩu và khi xuất trả sản phẩm gia công cho
phía nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu.
1.2. Sự cần thiết và yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối
với hàng hóa nhận gia công cho thương nhân nước ngoài
1.2.1. Sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng
hoá nhận gia công cho thương nhân nước ngoài


Hiện nay, gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài đang là một lợi
thế của các doanh nghiệp Việt Nam. Để quản lý đối với hàng gia công và đảm bảo
cho môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp, bảo vệ
sản xuất trong nước phát triển thì cần thiết phải có hệ thống pháp luật đầy đủ để cơ

ngày 19 tháng 06 năm 2013
- Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 ban hành ngày 14 tháng 11 năm
2008 và luật sửa đổi, bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2014 ban hành ngày
26 tháng 11 năm 2014
- Các Hiệp định và cam kết quốc tế về trị giá Hải quan, phân loại hàng hóa,
sở hữu trí tuệ.
- Thông tư 38/2015/TT-BTC ban hành ngày 25 tháng 03 năm 2015 quy
định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Nghị định 08/2015/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 01 năm 2015 quy định
chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát,
kiểm soát hải quan
Và một số văn bản khác của Tổng cục hải quan
1.2.2. Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá
nhận gia công cho thương nhân nước ngoài
Gia công là hình thức kinh doanh xuất khẩu đặc thù, do đó chịu sự điều
chỉnh bởi nhiều ngành luật và dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định. Vì vậy, các
quy định của pháp luật trong quản lý hoạt động gia công đảm bảo việc thực thi


đúng những yêu cầu của các luật trên và phải phù hợp với luật pháp quốc tế. Và để
thực hiện tốt vai trò quản lí nhà nước về hải quan đối với hàng háo gia công cho
thương nhân nước ngoài thì công tác kiểm tra giám sát phải đảm bảo được các yêu
cầu như:
- Tạo điều kiện thông quan hàng hóa nhanh.
- Ngăn chặn các hiện tượng gian lận thương mại đối với hàng hóa gia công
cho thương nhân nước ngoài.
- Xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ công chức hải quan có kỉ luật.
- Trung thực, chuyên môn nghiệp vụ cao, chuyên nghiệp có tinh thần trách
nhiệm, có tinh thần phục vụ văn minh lịch sự.

nhân nước ngoài được thực hiện qua các công việc sau:
- Tiếp nhận thông báo cơ sở gia công
- Kiểm tra cơ sở gia công, địa điểm lưu giữ nguyên liệu, vật tư và hàng hóa
nhập khẩu
- Kiểm tra, giám sát đối với lô hàng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu
- Kiểm tra, giám sát đối với lô hàng xuất khẩu sản phẩm gia công
- Báo cáo quyết toán
1.3.1. Tiếp nhập thông báo cơ sở gia công
Thông báo cơ sở gia công là trách nhiệm của doanh nghiệp khi nhận gia
công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài.
Trách nhiệm của cơ quan hải quan:


- Tiếp nhận thông báo cơ sở gia công, sản xuất, nơi lưu giữ nguyên liệu, vật
tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm xuất khẩu.
- Trong thời hạn 02 giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận văn bản thông báo, công
chức hải quan kiểm tra các tiêu chí ghi trong văn bản thông báo; trường hợp tổ
chức, cá nhân thể hiện chưa đầy đủ các tiêu chí thì phản hồi thông tin trên Hệ
thống để tổ chức, cá nhân sửa đổi, bổ sung.
- Thực hiện kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất đối với các trường hợp phải
kiểm tra theo qui định.
- Thực hiện kiểm tra địa điểm lưu giữ nguyên liệu, vật tư và hàng hóa xuất
khẩu ngoài cơ sở sản xuất trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tổ chức, cá nhân
khônglưu giữ nguyên liệu, vật tư và sản phẩm xuất khẩu tại địa điểm đã thông báo
với cơ quan hải quan.
1.3.2. Kiểm tra cơ sở gia công, địa điểm lưu giữ nguyên liệu, vật tư và
hàng hóa nhập khẩu
a, Các trường hợp kiểm tra
- Tổ chức, cá nhân thực hiện hợp đồng gia công lần đầu;
- Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng có dấu hiệu rủi ro thực hiện hợp đồng gia

- Kiểm tra tình trạng nhân lực tham gia dây chuyền sản xuất thông qua hợp
đồng ký với người lao động hoặc bảng lương trả cho người lao động;
- Kiểm tra thông qua Hệ thống sổ sách kế toán theo dõi kho hoặc phầm mềm
quản lý hàng hóa nhập, xuất, tồn kho lượng nguyên liệu, vât tư, máy móc, thiết bị.
d, Lập Biên bản kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất
Kết thúc quá trình kiểm tra công chức hải quan lập Biên bản ghi nhận kết
quả kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất theo mẫu số 14/BBKT-CSSX/GSQL Phụ lục
V ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC. Nội dung Biên bản ghi nhận kết quả


kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất phản ánh đầy đủ, trung thực với thực tế kiểm tra
và phải xác định rõ:
- Tổ chức cá nhân có hoặc không có quyền sử dụng hợp pháp về mặt bằng
nhà xưởng, mặt bằng sản xuất;
- Tổ chức, cá nhân có hoặc không có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp
pháp đối với máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất tại cơ sở gia công, sản xuất
(máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất do tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư) và
phù hợp với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công;
- Số lượng máy móc, thiết bị, số lượng nhân công.
Biên bản kiểm tra phải có đầy đủ chữ ký của công chức hải quan thực hiện
việc kiểm tra và người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân được kiểm tra.
e, Xử lý kết quả kiểm tra
Trường hợp không có cơ sở gia công, sản xuất thì tổ chức, cá nhân phải nộp
đầy đủ các loại thuế, tiền chậm nộp kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu
đến ngày thực nộp thuế và bị xử phạt vi phạm theo quy định đối với số lượng
nguyên liệu, vật tư đã nhập khẩu không được ưu đãi thuế theo quy định;
Trường hợp có đủ căn cứ xác định tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật
tư, máy móc, thiết bị vượt quá năng lực sản xuất hoặc không phù hợp với ngành
nghề trên giấy phép kinh doanh thì cho phép tổ chức, cá nhân được giải trình,
chứng minh; trường hợp tổ chức, cá nhân ko giải trình hoặc giải trình, chứng minh

xuất trả thành phẩm ra nước ngoài cho bên đặt gia công, xuất khẩu tại chỗ để làm
nguyên liệu, kinh doanh nội địa hay gia công chuyển tiếp...mà tiếp tục thực hiện
các thủ tục hải quan khác nhau.


Khi xuất khẩu sản phẩm gia công được thực hiện theo quy định về thủ tục hải
quan đối với hàng hóa xuất khẩu thương mại, trừ việc kiểm tra tính thuế (riêng
trường hợp sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu, vật tư tự cung ứng mua tại thị trường
Việt Nam thì phải tính thuế xuất khẩu đối với nguyên liệu, vật tư này (nếu có). Đối
với việc xuất khẩu sản phẩm gia công nếu áp dụng hình thức chuyển cửa khẩu thì
việc thực hiện theo hướng dẫn tại quy trình nghiệp vụ quản lý Hải quan đối với
hàng hóa xuất khẩu chuyển cửa khẩu.
Sau khi doanh nghiệp nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan các giấy tờ cần
thiết để làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công, công chức hải quan kiểm tra, đối
chiếu hàng hóa với những mà hàng ghi trong tờ khai hàng hóa xuất khẩu.
Đối với các lô hàng xuất khẩu phải kiểm tra thực tế hàng hóa, công chức hải
quan ngoài việc kiểm tra tên hàng, số lượng hàng, các chủng loại hàng hóa... như
đối với một lô hàng xuất khẩu kinh doanh thương mại còn phải lấy mẫu đối chiếu
thực tế nguyên liệu cấu thành trên sản phẩm xuất khẩu với nguyên liệu do doanh
nghiệp đã thông báo trừ trường hợp nguyên liệu cấu thành trên sản phẩm bị biến
đổi trong quá trình gia công thì không phải đối chiếu.
Đối với trường hợp kiểm tra lô hàng xuất khẩu bằng máy soi container thì đối
chiếu mẫu nguyên liệu, bảng định mức do doanh nghiệp xuất trình nếu phát hiện lô
hàng có nghi vấn thì chuyển sang kiểm tra thủ công.
Khi quá trình kiểm tra hải quan lô hàng xuất khẩu nếu có nghi vấn về nguyên
liệu cấu thành trên sản phẩm xuất khẩu (chất liệu, phẩm chất, xuất xứ) không phù
hợp với nguyên liệu nhập khẩu hoặc nguyên liệu cấu thành trên sản phẩm xuất
khẩu không phù hợp về tên gọi, chủng loại với nguyên liệu trong bảng định mức
do doanh nghiệp xuất trình thì lấy mẫu sản phẩm hoặc chụp ảnh mẫu sản phẩm, lập
biên bản chứng nhận ghi rõ kích thước, trọng lượng sản phẩm và niêm phong mẫu

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và xử lý kết quả kiểm tra thực hiện theo thẩm
quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc,
thiết bị tại trụ sở người khai hải quan được thực hiện như sau:
a, Thẩm quyền quyết định kiểm tra
Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra. Chi cục trưởng Chi
cục Hải quan quản lý tổ chức thực hiện việc kiểm tra.
b, Nội dung kiểm tra
- Kiểm tra hồ sơ hải quan, hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế (đối với trường
hợp kết hợp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế), báo cáo quyết toán, chứng
từ kế toán, sổ kế toán, chứng từ theo dõi nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị
nhập kho, xuất kho và các chứng từ khác người khai hải quan phải lưu theo quy
định;
- Kiểm tra định mức sản phẩm xuất khẩu và các chứng từ khác liên quan đến
việc xây dựng định mức;
- Kiểm tra tính phù hợp của sản phẩm xuất khẩu với nguyên liệu, vật tư đã
nhập khẩu;
- Trường hợp qua kiểm tra các nội dung trên mà cơ quan hải quan phát hiện
có dấu hiệu vi phạm nhưng chưa đủ cơ sở kết luận thì thực hiện:
Kiểm tra nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bi trên dây chuyền sản xuất;
Kiểm tra số lượng hàng hóa còn tồn trong kho;
Kiểm tra số lượng thành phẩm chưa xuất khẩu.


c, Thời gian kiểm tra
Việc kiểm tra được thực hiện không quá 05 ngày làm việc tại cơ sở sản
xuất, trụ sở của tổ chức cấ nhân. Đối với trường hợp phức tạp, Cục trưởng Cục Hải
quan ban hành quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra nhưng không quá 05 ngày làm
việc.
d, Trình tự, thủ tục kiểm tra
Việc kiểm tra tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư hoặc kiểm tra tồn kho

cá nhân thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này;
- Trường hợp cơ quan hải quan không chấp nhận nội dung giải trình của tổ
chức, cá nhân hoặc trường hợp tổ chức, cá nhân không giải trình thì cơ quan căn cứ
quy định pháp luật về thuế, pháp luật về hải quan và hồ sơ hiện có để quyết định
xử lý về thuế và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người
có thẩm quyền quyết định xử lý theo quy định pháp luật.
Trường hợp kiểm tra báo cáo quyết toán kết hợp việc kiểm tra hồ sơ hoàn
thuế, không thu thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất
khẩu tại trụ sở người khai hải quan, ngoài trình tự, thủ tục kiểm tra theo quy định,
cơ quan hải quan phải thực hiện kiểm tra và kết luận về tính chính xác, trung thực
của hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế và việc đáp ứng các điều kiện quy định về các
trường hợp được hoàn thuế, không thu thuế của tổ chức, cá nhân.


Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA NHẬP KHẨU ĐỂ GIA CÔNG CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC
NGOÀI TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu chung Cục hải quan thành phố Hà Nội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Cục hải quan thành phố Hà Nội
Ngày 02/4/1955, ông Phan Anh – Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký Nghị
định số 34/BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan Thành phố Hà Nội (trực thuộc Sở
Hải quan Trung ương). Đây là tiền thân của Cục Hải quan thành phố Hà Nội để
thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan trên địa bàn Thủ đô và
nhiều vùng lân cận.
Ngày 22/6/1955, Bộ Công Thương đã ra Nghị định số 154/BCT/KB/NĐ sát
nhập Sở Hải quan Hà Nội vào Sở Hải quan Trung ương.
Thời kỳ 1960 – 1975, Sở Hải quan Trung ương, sau này là Cục Hải quan
Trung ương (được đổi tên theo Quyết định số 490/BNT-QĐ-TCCB ngày
17/02/1962 của Bộ Ngoại Thương) đã triển khai tổ chức Phòng Hải quan Hà Nội

Văn phòng

2.

Phòng Tài vụ - Quản trị

3.

Phòng Tổ chức cán bộ

4.

Phòng Thanh tra

5.

Phòng Giám sát quản lý về hải quan

6.

Phòng Thuế xuất nhập khẩu


7.

Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm

8.

Phòng Quản lý rủi ro

4.

Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, gia công

5.

Chi cục Hải quan Gia Lâm

6.

Chi cục Hải quan Gia Thuỵ (ICD Gia Thuỵ)

7.

Chi cục Hải quan ga Đường sắt quốc tê Yên Viên

8.

Chi cục Hải quan khu công công nghiệp Bắc Thăng Long

9.

Chi cục Hải quan Hà Tây

Trong khối cơ quan cục phòng giám sát quản lý về Hải quan là đơn vị tham
mưu giúp Cục trưởng Cục Hải quan Thành Phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ chính
về Kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hoá gia công cho thương nhân nước
ngoài.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status