Một số kinh nghiệm ôn tập môn lịch sử hiệu quả - Pdf 34

Một số kinh nghiệm ôn tập môn Lịch sử hiệu
quả
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố 6 môn thi tốt nghiệp THPT
năm 2012, trong đó có môn Lịch sử. Đây là môn học được nhiều
học sinh cho là “khó nuốt” nhất trong kì thi tốt nghiệp năm nay.
Làm sao để ôn tập môn Lịch sử có hiệu quả vẫn là một câu hỏi
khó đối với các bạn học sinh lớp 12. Dưới đây, tôi xin nêu ra
một số kinh nghiệm nhỏ với mong muốn giúp các bạn học sinh
ôn tập có hiệu quả hơn môn Lịch sử.
1. Nắm tổng thể nội dung của chương trình trước khi học các nội dung cụ thể
Để không bị lạc vào trong khối sự kiện quá lớn của chương trình Lịch sử lớp 12,
trước khi ôn tập từng nội dung cụ thể, các bạn cần phải nắm một cách khái quát
về tiến trình lịch sử:
Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 được trình bày theo tiến trình lịch sử:
Giai đoạn 1919 – 1930 (gồm 2 giai đoạn nhỏ: 1919 – 1935 và 1925 - 1930); Giai
đoạn 1930 – 1945 (gồm 4 giai đoạn nhỏ: 1930 – 1931, 1931 – 1935, 1936 –
1939 và 1939 – 1945); Giai đoạn 1945 – 1954 (gồm 4 giai đoạn nhỏ: 02/9/1945 19/12/1946, 1946 – 1950, 1951 - 1953 và 1953 – 1954); Giai đoạn 1954 - 1975
(gồm 5 giai đoạn nhỏ: 1954 – 1960, 1961 – 1965, 1965 – 1968, 1968 – 1973 và
1973 – 1975) và Giai đoạn 1975 đến 2000 (gồm 3 giai đoạn nhỏ: 1975 – 1976,
1976 – 1986 và 1986 - 2000). Dựa vào phân kì lịch sử này, các bạn tiến hành
xác định những sự kiện lịch sử chính (chưa cần đi vào nội dung chi tiết) gắn liền
với từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Phần Lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 được trình bày theo 6 chủ đề: 1/ Sự
hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai; 2/ Liên Xô và các
nước Đông Âu (1945 - 1991) và Liên bang Nga (1991 - 2000); 3/ Các nước Á,
Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000); 4/ Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945 – 2000); 5/ Quan
hệ quốc tế (1945 - 2000); 6/ Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu
hóa.
2. Học theo từng chủ đề lịch sử cụ thể
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Các hiệp định trong giai đoạn từ 1945 đến
1975: Hiệp định Sơ bộ, Hiệp định Giơ-ne-vơ và Hiệp định Pa-ri”; Phong trào yêu

khác”, sau một lần thất bại của kế hoạch trước, thực dân Pháp thay tướng và
đưa ra một kế hoạch mới, nhưng cuối cùng đều bị quân và dân ta đánh bại, buộc
phải kí hiệp định Giơ-ne-vơ rút quân về nước.
Thứ ba, trong giai đoạn 1954 – 1973, ở miền Nam Việt Nam, các bạn cần chú ý
đến giai đoạn 1954 – 1960 (trước đây gọi là chiến tranh đơn phương) và 3 chiến
lược: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh.
Nếu lập bảng tổng hợp tất cả các chiến lược trên với các nội dung: “Âm mưu,
thủ đoạn”, “quá trình triển khai” và “quá trình nhân dân ta đánh bại các chiến
lược của Mĩ”, các bạn sẽ thấy được một đặc điểm thú vị là sau mỗi lần thất bại,
Mĩ lại can dự sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam: từ chỗ chỉ viện trợ kinh
tế, quân sự cho chính quyền Sài Gòn (1954 - 1960), tiến đến đưa cố vấn quân
sự vào chỉ huy, phong tỏa miềm Bắc,… (1961 - 1965), đưa quân đội trực tiếp
tham chiến, ném bom hậu phương miền Bắc (1965 - 1968) và cuối cùng Mĩ đành
phải chấp nhận rút quân đội ra khỏi Việt Nam bằng cách tăng cường sức mạnh
cho quân đội Sài Gòn song song với việc mở rộng chiến tranh ra toàn Đông
Dương, thương lượng với Liên Xô và Trung Quốc giảm viện trợ, làm cho cách


mạng miền Nam suy yếu dần (1969 - 1973). Và đừng quên những thắng của ta
trong từng chiến lược qua những sự kiện lịch sử và số liệu cụ thể.
Thứ tư, đối với các chiến dịch: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, các
bạn bắt đầu từ chủ trương và kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Lúc
đầu, Đảng ta đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm,
nhưng sau khi chiến dịch Tây Nguyên diễn ra, Đảng ta đã liên tục điều chỉnh rút
ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam. Cuối cùng, trong chưa đầy 3 tháng, ta đã
giải phóng hoàn toàn miền Nam. Vấn đề còn lại chỉ là nhớ những sự kiện cơ bản
của 3 chiến dịch này.
4. Một số lưu ý khác
Thứ nhất, đối với giai đoạn 1930 – 1931 và giai đoạn 1936 – 1939, các bạn chú
ý đến cấu trúc: bối cảnh, chủ trương của Đảng, diễn biến, ý nghĩa và kết quả.

Nên:
- Hệ thống kiến thức.
- Phân bổ thời gian hợp lý.
- Liên hệ thực tiễn với các sự kiện trong và ngoài nước.
- Lập đề cương.
Không nên:
- Sáng tác lịch sử, sự kiện.
- Trình bày sơ sài.
- Trả lời quá tỉ mỉ cho một câu hỏi.
- Diễn đạt chung chung.
- Lạm dụng diễn đạt các từ ngữ văn học để minh họa cho nội dung lịch sử dễ bị
lan man và lạc đề.

Bí quyết khai mở tư duy học sinh giỏi Lịch
sử
Dạy Lịch sử, bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử, giáo viên cần coi
trọng việc hướng dẫn, gợi mở để học sinh tự đặt vấn đề suy
nghĩ, trao đổi và nghiên cứu; phải nắm được những nguyên tắc
và con đường phát triển tư duy học sinh.
7 biện pháp giúp học sinh phát triển tư duy
Để thực hiện tốt vấn đề này, giáo viên Hà Trọng Thái (Trường THPT chuyên Lào
Cai) cho rằng, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau đây.
Thứ nhất: Thông báo cho học sinh toàn bộ kế hoạch, nội dung chương trình học


tập trong năm học và cả khóa học; đánh dấu những phần kiến thức khó, trọng
tâm để các em dành nhiều thời gian suy nghĩ, nhất là kế hoạch ôn luyện trong
giai đoạn thi học sinh giỏi tỉnh, khu vực và cấp quốc gia.
Thứ 2: Giới thiệu, hướng dẫn tư liệu đọc thêm cho học sinh, để làm sao học sinh
có một bộ sách tham khảo hoàn chỉnh. Quan trọng nhất là các tài liệu có liên

huống mâu thuẫn. Tình huống này cần rõ ràng. Sau đó, tổ chức hướng dẫn và
tạo điều kiện gợi mở, cung cấp một số sự kiện làm nảy sinh và giải quyết vấn đề.


Ví dụ: Khi trình bày công lao của Nguyễn Ái Quốc với phong trào cách mạng Việt
Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, giáo viên có thể nêu vấn đề:
”Theo các em, dân tộc Việt Nam đã chọn con đường cách mạng theo khuynh
hướng vô sản, hay Nguyễn Ái Quốc đã chọn cho?”
Học sinh phải tìm tài liệu để làm sáng tỏ vấn đề, và các em phải thấy được đâu
là những điều kiện khách quan và chủ quan tác động đến sự lựa chọn ấy.
Kết quả, các em phải hiểu được, chính dân tộc Việt Nam đã lựa chọn con đường
cách mạng theo khuynh hướng vô sản.
Giáo viên đặt tình huống có vấn đề tiếp: “Vậy, vai trò của Nguyễn Ái Quốc là
gì?”. Học sinh một lần nữa lại phải tìm tài liệu, sự kiện lịch sử để trả lời: Nguyễn
Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam...
Phát triển khả năng thực hành lịch sử
Theo giáo viên Hà Trọng Thái, phát triển khả năng thực hành, hoạt động thực
tiễn của học sinh, không đơn giản chỉ dừng lại ở chỗ giúp học sinh cụ thể hóa
các sự kiện lịch sử, làm và sử dụng các loại đồ dùng trực quan, khả năng vẽ
bảng biểu và bản đồ, lược đồ, mà phải giúp học sinh liên hệ, so sánh, đối chiếu,
phân tích các sự kiện lịch sử đã qua với những sự kiện đang diễn ra hàng ngày
để thấy được chiều hướng phát triển của lịch sử.
Từ đó, giúp học sinh thấy được những bài học lịch sử, quy luật phát triển của xã
hội loài người, giáo viên phải đặt học sinh vào một tình huống lịch sử cố định để
xem các em giải quyết ra sao.
Ví dụ, khi dạy bài 17, sách giáo khoa Lịch sử lớp 12: “Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946”, giáo viên có thể đặt
học sinh vào tình huống sau:
“Nếu em là một thành viên trong Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đứng
trước tình thế “ngàn cân treo sợ tóc” của đất nước em sẽ làm gì?” Cụ thể hơn,

bị cho các em tâm lý tự tin trước khi bước vào kỳ thi.

Biết tổng hợp kiến thức
- Để chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới, bên cạnh việc nắm
vững chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và biết vận dụng những kiến
thức đó khi làm bài thi, các em học sinh cần chuẩn bị một số kỹ năng quan trọng:
biết tổng hợp kiến thức của các phần, các chương và của toàn bộ chương trình
THPT, đặc biệt là chương trình lớp 12; biết tự tổ chức thảo luận theo nhóm, trao
đổi, tranh luận để hiểu sâu hơn về kiến thức, tự trau dồi kiến thức một cách chủ
động; có các kỹ năng phân tích để hiểu đề thi, trình bày bài thi.
Một vấn đề quan trọng không thể bỏ qua đối với mỗi học sinh trước khi bước vào
kỳ thi tốt nghiệp THPT là các em cần nắm được quy chế thi, thực hiện đúng quy
chế để tránh những điều sơ suất hoặc vi phạm trong khi thi, ảnh hưởng đến kết
quả thi. Bên cạnh đó, các em cần tự tin vào kiến thức của mình, chuẩn bị tâm
thế vững vàng, chủ động khi bước vào kỳ thi, bởi yếu tố tâm lý đóng một vai trò
không nhỏ trong kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT nói riêng và các kỳ thi quan trọng
khác.(Ông VŨ ĐÌNH CHUẨN)
* Hiện có nhiều loại sách hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp THPT trên thị trường,


thậm chí các nhà xuất bản còn tiếp thị đến tận các trường học vận động học sinh
mua. Ông có ý kiến gì về việc này? Theo ông, học sinh nên ôn thi theo tài liệu
nào để có hiệu quả tốt nhất?
- Bộ không có giới hạn chương trình ôn tập mà khẳng định rõ: nội dung đề thi tốt
nghiệp THPT năm 2012 dựa theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương
trình giáo dục cấp THPT, chủ yếu nằm trong chương trình lớp 12. Nếu học sinh
ôn tập theo cách học tủ, học lệch thì kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ phụ thuộc
rất nhiều vào yếu tố may rủi. Điều này cũng tạo cho học sinh tâm lý lo lắng,
không yên tâm khi ôn tập cũng như làm bài thi bởi không có nền tảng kiến thức
vững vàng.

Thi tốt nghiệp THPT môn Lịch Sử: Hỏi gì trả
lời đó
Khi nhận được đề thi thì các em phải đọc kỹ, phân tích xem đề
thi hỏi cái gì để tránh lạc đề, nhầm đề. Đặc biệt đề thi hỏi gì các
em trả lời đó, không lan man, dài dòng sẽ không được điểm.
Học theo từng mảng sự kiện
Theo cô Dung, cách học Lịch sử dễ hiểu và nhớ nhất là học sinh phải học theo
hệ thống và làm đề cương chi tiết, không học vẹt, học tủ. Khi ôn các em học phải
theo dàn ý từng vấn đề, chứ không học rải rác vào vấn đề ngay. Mỗi mảng vấn
đề, các em học theo các ý lớn và từ ý lớn các em phát triển ra.
Ví dụ: Phần Lịch sử Việt Nam, các em chia phần riêng ra để học như phần
Nguyễn Ái Quốc; Đảng Cộng sản, Thành lập Đảng; Cách mạng tháng Tám;
Kháng chiến chống Pháp; Kháng chiến chống Mỹ.
Cụ thể, trong Kháng chiến chống Pháp, các em lại chia nhỏ các chiến lược ra để
học, trong các chiến lược đó, các em lại tiếp tục chia các ý nhỏ để học... Các em
nên học theo cách đó vì khi đọc đề thi, các em sẽ biết ngay phần này nằm chỗ
nào trong chương trình Lịch sử.
Với phần Kháng chiến chống Pháp, phần đầu tiên là toàn quốc kháng chiến, các
em nên chia phần để học như chiến dịch lớn Việt Bắc Thu - Đông (1947), Chiến
dịch biên giới 1950, sau đó chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954 và đỉnh cao là
chiến thắng Điện Biên Phủ..., sau chiến thắng Điện Biên Phủ là ký Hiệp Định
Giơnevơ và kết thúc cuộc kháng chiến.
Hỏi gì trả lời đó
Để đạt điểm cao môn thi Lịch sử, khi nhận đề, các em đọc kỹ câu hỏi và trả lời
thẳng vào vấn đề, để tránh lạc đề, nhầm đề, không tràn lan giới thiệu nhiều, dài
dòng, mất rất nhiều thời gian lại không có điểm.
Ví dụ: Đề bài hỏi về Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 thì học sinh phải nhớ
trong chiến dịch này thì âm mưu của Pháp là gì? Ta đối phó thế nào, chủ trương
của Đảng ra làm sao? Rồi diễn biến cuộc tiến công của nó và phản công lại của
ta..., kết quả, ý nghĩa.

Ở phần đọc hiểu, học sinh sẽ phải trả lời một số câu hỏi như xác định nội dung,
thông tin chính, ý nghĩa văn bản, chi tiết, tên văn bản; ý nghĩa của từ ngữ, cú
pháp; các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu và tác dụng của chúng... Với văn bản
văn học, đặc biệt là văn bản có tính chất hư cấu, học sinh cần phân biệt nội dung
cụ thể của văn bản với ý nghĩa toát ra từ nội dung đó... Một điểm mới trong yêu
cầu ở phần đọc hiểu năm nay là tích hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt vào việc
đọc hiểu văn bản. Với mỗi câu hỏi, học sinh cần chú ý trả lời ngắn gọn, rõ ràng,
tránh dài dòng, lan man.
Để làm tốt phần làm văn với cả hai dạng bài nghị luận xã hội và nghị luận văn
học, thí sinh cần biết cách viết ngắn gọn, chặt chẽ mà thuyết phục để đảm bảo
được yêu cầu. Học sinh phải xác định một lập luận chặt chẽ thuyết phục với hệ
thống ý: vài hiểu biết về tác giả, tác phẩm - xuất xứ nhân vật, những đặc điểm


nổi bật ở nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, đánh giá ý nghĩa của nhân vật
trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm; ý nghĩa của nhân vật đối với bản thân...
Thạc sĩ Triệu Thị Huệ (Tổ trưởng Tổ ngữ văn Trường THPT Lê Hồng Phong,
TP.HCM)
Vật lý: Đọc thật kỹ từng câu hỏi
Khi làm bài, thí sinh cần lưu ý: Đọc kỹ câu hỏi, không bỏ sót từ nào của phần
dẫn để nắm thật chắc nội dung mà đề bài yêu cầu trả lời. Cân nhắc để chọn
đúng phương án trả lời. Chú ý tới các từ phủ định như “không”, “không đúng”,
“sai”... Phải đọc và xem xét hết cả 4 phương án trình bày a, b, c, d trong phần
lựa chọn, tránh những trường hợp vừa đọc được một phương án đã cảm thấy
đúng ngay và không đọc các phương án tiếp theo. Tạm bỏ qua những câu khó
để chuyển sang làm những câu khác “dễ hơn”, rồi quay lại làm những câu đó
sau. Không bỏ sót hoặc để trống bất kỳ câu nào.
Võ Lý Văn Long (Trường THPT Vĩnh Viễn, Q.Tân Phú, TP.HCM)
Hóa học: Bám sát nội dung trong sách giáo khoa cơ bản
Trước ngày thi, thí sinh cần bám sát nội dung trong sách giáo khoa cơ bản,

2 đơn vị, trên 3 năm thì vẽ biểu đồ kết hợp (2 trục tung). Sau khi vẽ xong cần ghi
đầy đủ các yếu tố trên biểu đồ, chú thích, ký hiệu, đơn vị.
Lưu ý phần mục lục ở trang 31 trong Atlat sẽ giúp thí sinh tìm nhanh vấn đề cần
trả lời theo câu hỏi.
Châu Thị Nguyệt (nguyên Tổ trưởng Tổ địa lý Trường THPT chuyên Lê Hồng
Phong, TP.HCM)
Môn Sinh: Dùng phương pháp loại suy chọn đáp án
Trong đề thi thường có khoảng 20% câu hỏi nhằm phát huy khả năng vận dụng
kiến thức tổng hợp, đòi hỏi khả năng tư duy và linh động sáng tạo để hạn chế
giải quyết vấn đề máy móc, rập khuôn... Đây là những câu hỏi khó.
Với hình thức thi trắc nghiệm, học sinh vẫn có nhiều cơ hội để kiếm điểm trên
trung bình so với hình thức thi tự luận. Ví dụ các em có thể dùng phương pháp
suy để loại trừ những đáp án sai, còn lại là đáp án đúng.
Phạm Thu Hằng (Trường THPT Tân Bình, Q.Tân Phú, TP.HCM)
Tiếng Anh: Đảm bảo tốt phần trắc nghiệm trước
Đề thi có 80% câu hỏi trắc nghiệm như các năm trước và 20% là tự luận. Trước
tiên, thí sinh phải đảm bảo làm tốt các câu trắc nghiệm sau đó mới làm các phần
khác. Khi viết luận, không phải tiếng Việt nghĩ sao thì viết tiếng Anh như vậy mà
phải đảm bảo đúng ngữ pháp.
Thông thường, học sinh không đạt điểm cao do làm không tốt phần điền từ vào
đoạn văn và đoạn văn đọc hiểu. Đây là 2 nội dung mất nhiều thời gian nhất trong
đề thi. Vì vậy, học sinh phải chuẩn bị vốn từ vựng phong phú.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status