Một số biện pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại bảo hiểm xã hội thành phố hải phòng - Pdf 34

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi .
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Lưu Thị Hà Phương


ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Vũ Trụ Phi đã tận tình
hướng dẫn, bổ sung kiến thức và gợi mở nhiều vấn đề giúp tôi hoàn thành luận
văn này.
Bên cạnh đó tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô
giáo, người đã truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức vô cùng hữu ích trong
những năm tháng học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Hải Phòng.
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau
đại học – Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng và các cơ quan đã
hợp tác cung cấp thông tin trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Hải Phòng, ngày 20 tháng 4 năm 2015
Tác giả

Lưu Thị Hà Phương


iii
MỤC LỤC


Bảo hiểm thất nghiệp

HĐND

Hội đồng nhân dân

LLLĐ

Lực lượng lao động

TP

Thành phố

UBND

Ủy ban nhân dân


v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1
2.2
2.3

2.9

Về hình thức tham gia BHXH từ trước đến nay

51

2.10

Về mức đóng BHXH tự nguyện

52

2.11

Về điều kiện tham gia BHXH tự nguyện

52

2.12

2.13

Ý kiến về khả năng tài chính tham gia BHXH tự
nguyện
Ý kiến về mức hưởng quyền lợi từ BHXH tự nguyện

53

54




2
nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để
bảo đảm cho người lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp.
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, hệ thống an sinh xã hội, nhất là BHXH phải được phát
triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của người lao động, của nhân dân, là một
trong những nhu cầu rất cơ bản của con người. Bảo đảm nhu cầu về an sinh xã
hội, trước hết là nhu cầu về BHXH, là một trong những mục tiêu rất quan trọng,
thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN, đồng thời cũng phù hợp với xu thế
chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh, công bằng và an
toàn. Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất nước những biến đổi
sâu sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao,
đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Vấn đề cải thiện
và nâng cao mức sống của người lao động luôn là mục tiêu trước mắt, cũng như
lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bên cạnh việc ban hành các chính
sách nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, Nhà nước luôn quan tâm và
coi trọng thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động. Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng
vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ
bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân". Vì vậy, việc
thực hiện chính sách BHXH đặc biệt là BHXH tự nguyện đối với người lao
động tự do, lao động ở khu vực phi chính thức là hết sức cần thiết.
Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007. Riêng chế độ
BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam
đã thể chế hóa ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về an sinh xã hội của con
người (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp),
trong đó BHXH tự nguyện chủ yếu cho đối tượng là người lao động khu vực phi

tự nguyện của người lao động trên địa bàn TP Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện tại Hải Phòng trong
thời gian tới.


4
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách BHXH tự nguyện;
- Hiện trạng BHXH tự nguyện ở Hải Phòng.
* Phạm vi nghiên cứu
BHXH tự nguyện ở Hải Phòng giai đoạn 2011 đến 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác- Lê nin.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê,
phân tích số liệu từ năm 2011 đến năm 2014, nhằm phân tích, đánh giá về thực
trạng hoạt động BHXH tự nguyện tại Hải Phòng và đưa ra các biện pháp nhằm
phát triển đối tượng tham gia BHXH của cơ quan BHXH TP Hải Phòng.
5. Đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về BHXH, BHXH bắt buộc
và BHXH tự nguyện.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển BHXH tự nguyện tại thành phố
Hải Phòng, qua đó rút ra những kết quả đã đạt được đồng thời chỉ ra nguyên
nhân của những hạn chế về việc phát triển BHXH tự nguyện trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.
- Luận văn đã đề xuất hai nhóm biện pháp và kiến nghị một số biện pháp
nhằm phát triển BHXH tự nguyện tại thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.
6. Kết cấu của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về BHXH và BHXH tự nguyện

cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Sự can thiệp này đã nâng
cao vai trò Nhà nước, số tiền đóng góp của giới chủ và giới thợ hình thành một
quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Ngoài ra, quỹ này còn được bổ sung
từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động
khi gặp phải những rủi ro, bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó
mà rủi ro bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao


6
động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình
có lợi và việc bảo vệ sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường. Vì vậy,
nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả
năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo. Để quá trình tái
sản xuất của xã hội được diễn ra thường xuyên, liên tục và đời sống của người
lao động được đảm bảo an toàn cần phải có BHXH như một tất yếu khách quan.
Như vậy xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi
thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH
và cần thiết được BHXH. Một xã hội không có bảo hiểm như “cầu thang không
có tay vịn”. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu phát triển hệ thống BHXH
càng lớn.
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại
của nó là tất yếu nhưng đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về BHXH do
có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Có thể đưa ra khái niệm về BHXH
như sau:
"Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm
hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử
dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao
động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời
sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã

những người khoẻ mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa
người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp. Nhờ sự phân phối lại thu
nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước
những bất trắc và rủi ro xã hội.
Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các
nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện nhằm
góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp rủi ro
làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động.
1.2.2. Bản chất xã hội của BHXH và BHXH tự nguyện
Bản chất xã hội của BHXH và BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong
mục tiêu của nó. BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Mục tiêu của
bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội. Điều này được thể hiện


9
thông qua việc chi trả chế độ BHXH. Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả lao động.
Do có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù
chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện
nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi
ro. Ở đây, Quỹ BHXH tự nguyện đã thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù
cho số ít" và BHXH tự nguyện được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm
bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất. Trên góc
độ vĩ mô, BHXH tự nguyện góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo.
Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận mà
hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần
ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là
một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia.
Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH không tách rời

động, sự hỗ trợ của Nhà nước và được dùng để chi trả các chế độ BHXH cho
người tham gia. Việc sử dụng Quỹ BHXH tự nguyện không thực hiện cùng một
lúc mà dàn trải theo thời gian vì vậy trong khoản thời gian người lao động chưa
đến tuổi nghỉ hưu, Quỹ BHXH tự nguyện có một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi
được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời. Quỹ BHXH tự nguyện sẽ tham gia
vào thị trường tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn ổn định, lâu dài đem
đầu tư cho các công trình, dự án lớn phát triển kinh tế- xã hội, góp phần vào
công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với sức mạnh về
tài chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nước, BHXH tự nguyện sẽ góp
phần ổn định tài chính, tiền tệ quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế đất nước.
1.4. Nội dung của bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trong Công ước 102 (ILO, 1984) quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
của Tổ chức lao động quốc tế quy định 9 chế độ BHXH, nhưng không bắt buộc


11
các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích các nước thành
viên thực hiện ít nhất 3 chế độ (đặc biệt lưu ý chế độ 3, 4, 5, 8, 9).
1) Chăm sóc y tế
2) Phụ cấp ốm đau
3) Trợ cấp thất nghiệp
4) Trợ cấp tuổi già
5) Trợ cấp tai nạn lao động
6) Trợ cấp gia đình
7) Trợ cấp thai sản
8) Trợ cấp tàn phế
9) Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
Cơ sở để xác định thực thi mỗi chế độ BHXH tự nguyện là căn cứ vào
trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam có một số quy

Tỷ lệ % đóng

x

Mức thu nhập tháng người tham

hàng tháng
BHXH tự nguyện
gia BHXH tự nguyện lựa chọn
Mức thu nhập tháng người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn thấp nhất
bằng mức lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.
Mức thu nhập tháng người tham gia
BHXH tự nguyện lựa chọn
Lmin : mức lương tối thiểu chung

=

Lmin + m x 50.000 (đồng/tháng)

m = 0,1,2,…n
Tại khoản 1 Điều 100 Luật BHXH quy định: “mức đóng hàng tháng bằng
16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng BHXH; từ năm 2010 trở đi,
cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%”.
Có bảng tỷ lệ % đóng BHXH tự nguyện sau:
Thời kỳ

01/2008 đến 12/2009
01/2010 đến 12/2011
01/2012 đến 12/2013
Từ 01/2014 trở đi

cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà trước đó đã có tổng thời
gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên, được hưởng lương hưu với mức thấp hơn khi thuộc một
trong các trường hợp sau:
- Nam từ đủ 50 tuổi trở lên, nữ từ đủ 45 tuổi trở lên;
- Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu
hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP khi
nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi đã có từ đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
hoặc nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi đã có từ đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc trở lên mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần có nhu cầu tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện, thì được đóng tiếp bảo hiểm xã hội tự nguyện cho đến
khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu hằng tháng.
b) Mức lương hưu hàng tháng


14
- Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với
15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2%
đối với nam, 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
- Mức lương hưu hàng tháng được tính bằng tích số của tỷ lệ hưởng lương
hưu hàng tháng với mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
- Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được tính theo số năm đóng BHXH,
kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ, cứ mỗi năm
đóng BHXH được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng
BHXH tự nguyện.
1.4.3.2. Trợ cấp BHXH một lần
a) Điều kiện hưởng khi có một trong các điều kiện sau

tính tròn là 1 năm.
Trường hợp người đang hưởng lương hưu chết: được tính theo thời gian
đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính
bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng. Nếu chết vào những tháng sau đó cứ
hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.
b) Đối với người vừa có thời đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng
BHXH tự nguyện
- Trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung
- Trợ cấp một lần
+ Điều kiện hưởng: một trong hai điều kiện sau:
Có thời gian đóng BHXH dưới 15 năm;
Có thời gian tham gia BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên nhưng thân
nhân không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất tháng.
+ Mức hưởng
Mỗi năm đóng BHXH tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng
đóng BHXH, thấp nhất bằng 3 tháng mức bình quân đóng BHXH, thấp nhất
bằng 3 tháng mức bình quân đóng BHXH. Tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính,
từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng được tính là nửa năm, từ trên 6 tháng đến đủ 12
tháng tính tròn là 1 năm.


16
Trường hợp người đang hưởng lương hưu chết: được tính theo thời gian
đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính
bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ
hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.
Mức thấp nhất bằng 3 tháng mức lương hưu đang hưởng trước khi chết.
- Trợ cấp tuất hàng tháng
+ Điều kiện hưởng có đủ các điều kiện sau:
Có thời gian tham gia BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên;

tắc BHXH là những quy tắc của các hoạt động BHXH, từ việc hoạch định chính
sách đến xây dựng các chế độ BHXH phải hướng tới để nhằm đạt được những
mục tiêu đã đề ra. Qua nghiên cứu, BHXH tự nguyện được xây dựng trên nền
tảng các nguyên tắc sau:
1.5.1. Nguyên tắc tự nguyện
BHXH tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người
lao động với tư cách là người tham gia BHXH cũng là người hưởng
BHXH. Trước hết chúng ta cần làm rõ chủ thể tham gia BHXH xét về
mặt quan hệ sản xuất và quan hệ lao động. Đối tượng này vừa là chủ tư
liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công, nhà
xưởng gắn liền với nơi ở, vốn tự có là chính và một phần quan hệ tín
dụng…), vừa là chủ sức lao động (là người vừa tham gia quản lý, vừa
tham gia lao động). Họ tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng
thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách
trong thu chi gia đình. Bởi vậy, quan hệ của họ với BHXH là quan hệ
“lỏng” hoặc quan hệ “mềm”, không mang tính bắt buộc như quan hệ lao
động trong Bộ luật Lao động điều chỉnh. Bởi vậy họ tham gia BHXH
mang tính “tự nguyện”, trên cơ sở suy nghĩ về “tính lợi ích” khi tham
gia BHXH. Do đó, mọi chính sách BHXH có tính áp đặt, cưỡng chế và
bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả năng thực thi thấp
hoặc thất bại.
1.5.2. Quyền của người tham gia


18
Quyền được BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ
thể của quyền con người. Nhưng BHXH không phải là cái có sẵn, nên trước hết
phải tạo ra nó. Ở mỗi nước khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên,
Nhà nước phải tạo ra điều kiện và môi trường về kinh tế - xã hội, về chính sách
và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý của mình. Không có sự đóng góp này

trách nhiệm tổ chức và tham gia hoạt động đó. Trong điều kiện nước ta hiện
nay, chắc chắn quỹ BHXH tự nguyện phải tách ra khỏi NSNN, nhưng vẫn cần
phải có sự bảo trợ của Nhà nước về nguồn tài chính, để bảo đảm cho quỹ
BHXH không bị mất giá do trượt giá, hoặc do biến động về chính trị - xã hội,
thiên tai, chiến tranh…Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới quản lý về BHXH
nói chung, cần phải chia tách ưu đãi xã hội và BHXH. Do vậy đối với nhóm
người lao động yếu thế, cần có những chính sách ưu đãi riêng để giúp họ
vượt qua khó khăn.
Bên cạnh đó, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm của Nhà nước thông
qua cơ quan BHXH - cơ quan Nhà nước quản lý quỹ BHXH. Trong quá trình
quản lý quỹ BHXH từ sự đóp góp của người lao động, cơ quan BHXH phải
thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm bảo toàn quỹ, đảm bảo
tài chính để chi trả các chế độ BHXH. Trách nhiệm này rất quan trọng, bởi
suy cho đến cùng những đóng góp của người lao động đó, song với những
đóng góp của người lao động sẽ không đảm bảo chi trả cho bản thân họ bởi
ảnh hưởng của nhiều nhân tố về kinh tế xã hội, do đó cơ quan BHXH phải có
trách nhiệm thực hiện các biện pháp đầu tư để bù đắp thiếu hụt đó. Tuy
nhiên, tài chính để chi trả các chế độ BHXH chủ yếu phải từ đóng góp của
người tham gia BHXH.
Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và
không hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của
bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ
cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh
chiu trực tiếp và trước hết đã. Điều đó có nghĩa là bản thân người lao động phải
có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
1.5.4. Nguyên tắc lấy số đông bù số ít


20
BHXH là hình thức chia sẻ rủi ro của số ít người cho số đông người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status