Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
Lời Cảm Ơn
Trong thời gian nghiên cứu và làm khóa luận, lời đầu tiên em xin
gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Lê
Hiệp đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài khóa luận tốt
nghiệp. Bên cạnh đó, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong
khoa Kinh tế và Phát triển – trường Đại học Kinh tế Huế đã giảng
dạy và trang bị những kiến thức cơ bản trong học tập nghiên cứu
khóa luận cũng như trong công việc sau này.
Em xin gửi lừi cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các cán bộ nhân viên
phòng Kinh tế - hạ tầng huyện Cẩm Xuyên những người đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo và đã cho em nhiều kinh nghiệm quý báu trong
suốt thời gian thực tập tại cơ quan.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, người
thân, gia đình đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ giúp cho bài khóa
luận của em hoàn thành tốt.
Trong quá trình thực tập cũng như trong quá trình làm bài báo
cáo khó tránh khỏi sai sót rất mong các thầy, cô bỏ qua. Đồng thời do
trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài
báo cáo còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của thầy cô để em hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên
Nguyễn Thị Phượng
:
Bê tông cốt thép
CN – TTCN, XD
:
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
CPLN
:
Cấp phối láng nhựa
CSHT
:
Cơ sở hạ tầng
ĐTPT
:
Đầu tư phát triển
GD
:
Kinh tế - xã hội
NS
:
Ngân sách
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
NTM
:
Nông thôn mới
QLNN
:
Quản lý nhà nước
TDTT
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
4
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
5
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
5
Khóa luận tốt nghiệp
liên quan.
Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao khả năng đầu tư phát triển CSHT
GTNT huyện Cẩm Xuyên đến năm 2020
• Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân tích
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Phương pháp chuyên khảo
- Một số phương pháp khác
•
Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu:
6
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
Các nguồn số liệu thu thập từ các giáo trình, sách báo, các trang web có liên
quan. Các báo cáo tổng kết, phòng kinh tế hạ tầng, phòng thống kê thuộc UBND
huyện Cẩm Xuyên.
• Các kết quả nghiên cứu đạt được:
- Đã hệ thống hóa những lý luận về ĐTPT CSHT GTNT
xuất; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo
điều kiện phát triển cơ giới hóa trong sản xuất, trao đổi hàng hóa, đẩy mạnh, nâng cao
tinh thần vật chất cho người dân khu vực nông thôn.
Cẩm Xuyên là một huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh, có phần lớn dân số sống ở khu
vực nông thôn. Trong những năm qua, toàn huyện đang tập trung xây dựng nông thôn
mới, trong đó coi trọng việc thực hiện quy hoạch và phát triển GTNT. Đến nay,
huyện đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc xây dựng mạng lưới cơ sở
hạ tầng GTNT ở địa phương. Nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng GTNT trên địa bàn huyện trong những năm qua cũng có những
thay đổi nhất định và đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại, hạn chế, bất cập trong việc
đầu tư trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên.
Trong bối cảnh đó, việc phân tích tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
GTNT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hệ
thống GTNT rõ ràng là điều cần thiết. Vì vậy, trong thời gian thực tập tại UBND
huyện Cẩm Xuyên tôi chọn đề tài “Phân tích tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn bằng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh” để làm bài khóa luận tốt nghiệp và mong muốn áp dụng những
cơ sở lý thuyết, kiến thức thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu để nhận diện các yếu tố
ảnh hưởng đến đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn (CSHT GTNT)
8
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
và gợi ý các chính sách triển vọng nâng cao hiệu quả đầu tư CSHT GTNT trên địa
-
nguồn số liệu thống kê.
Tổng hợp các tài liệu hiện có về các hình thức đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông
nông thôn được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí từ các báo cáo tổng kết hội nghị,
hội thảo, các tài liệu được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng…
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
-
Sau khi có các số liệu cụ thể, tiến hành lập các bảng, biểu, đồ thị. Thực hiện tính toán,
phân tích và so sánh các chỉ tiêu bằng các phần mềm excel…các phần mềm thống kê
thông dụng.
Phương pháp chuyên khảo
-
Trong quá trình thực hiện đề tài, trao đổi và tham khảo ý kiến của các cán bộ chuyên
môn, giáo viên hướng dẫn, những người có liên quan tới vẫn đề nghiên cứu…nhằm
hoàn thiện nội dung nghiên cứu của mình.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
9
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
9
Khóa luận tốt nghiệp
-
quy định của pháp luật.
Nguồn vốn ngân sách nói chung được tập hợp từ các nguồn vốn trên địa bàn như:
+ Vốn ngân sách Trung ương đầu tư qua các bộ, ngành trên địa bàn
+ Vốn ngân sách Trung ương cân đối hoặc ủy quyền qua ngân sách địa phương
( xây dựng cơ bản tập trung, vốn chương trình quốc gia…)
+ Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại ( cấp quyền sử
dụng đất, xổ số, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước…)
Vai trò của vốn NSNN đối với phát triển cơ sở hạ tầng GTNT
-
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quan trọng nhất để đầu tư phát
triển CSHT như: bưu điện, thông tin liên lạc, đặc biệt là hệ thống giao thông ở nông
10
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
thôn…Các công trình này là những công trình công cộng đòi hỏi một lượng vốn đầu
tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn dài hoặc khó thu hồi vốn và lợi nhuận thấp. Do
vậy, các nhà đầu tư e ngại, không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Thực tế, việc tham
gia đầu tư từ các nguồn vốn ngoài NSNN là quá ít, để đảm bảo thực hiện đầy đủ các
11
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
Cơ sở hạ tầng xã hội là toàn bộ các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho hoạt động
văn hóa, nâng cao dân trí, văn hóa tinh thần của dân cư như trường học, trạm xá, bệnh
viện, công viên, các nơi vui chơi giải trí…
Cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ
thuật nền kinh tế quốc dân. Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất – kỹ
thuật được tạo lập, phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ
thống sản xuất nông nghiệp tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế,
xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nội dung tổng quát của cơ sở hạ tầng nông thôn có thể bao gồm những hệ thống
cấu trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau:
-
Hệ thống và các công trình thủy lợi, thủy nông, phòng chống thiên tai, bảo vệ và cải
tạo đất đai, tài nguyên, môi trường trong nông nghiệp nông thôn như: đê điều, cầu
-
cống, kênh mương thủy lợi, các trạm bơm…
Các hệ thống và công trình giao thông vận tải trong nông thôn: cầu cống, đường xá,
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
CSHT GTNT là một bộ phận của CSHT nông thôn, bao gồm CSHT đường
sông, đường mòn, đường đất phục vụ sự đi lại trong nội bộ nông thôn, nhằm phát
triển sản xuất và giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội của các làng xã, thôn xóm. Hệ thống
này nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại.
Hệ thống GTNT bao gồm: cơ sở hạ tầng GTNT, phương tiện vận tải và người
sử dụng. Như vậy, cơ sở hạ tầng GTNT chỉ là một bộ phận của hệ thống GTNT. Giao
thông nông thôn không chỉ là sự di chuyển của người dân nông thôn và hàng hóa của
họ, mà còn là các phương tiện để cung cấp đầu vào sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ cho
khu vực nông thôn của các thành phần kinh tế quốc doanh và tư nhân. Đối tượng
hưởng lợi ích trực tiếp của hệ thống GTNT sau khi xây dựng mới, nâng cấp là người
dân nông thôn, bao gồm những người có nhu cầu và ưu tiên đi lại khác nhau như
nông dân, doanh nhân, những người không có ruộng đất, cán bộ, công nhân viên các
đơn vị phục vụ công cộng làm việc ở nông thôn…
Hệ thống CSHT GTNT bao gồm:
-
Mạng lưới đường GTNT: đường huyện, đường xã và đường thôn xóm, cầu cống, phà
-
trên tuyến;
Đường sông và các công trình trên bờ;
Các cơ sở hạ tầng giao thông ở mức độ thấp (các tuyến đường mòn, đường đất và các
cầu cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép người đi bộ, xe đạp…đi lại).
Các đường mòn và đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp, xe thồ, xe máy và đôi khi cho
GTNT: đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển.
Đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển CSHT GTNT phải chú ý những vấn đề
chủ yếu sau:
-
CSHT giao thông của toàn bộ nông thôn, của vùng hay của làng xã cần được hình
thành và phát triển trước một bước và phù hợp với các hoạt động kinh tế - xã hội.
Dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để quyết định việc xây dựng CSHT
GTNT. Đến lượt mình, sự phát triển CSHT về quy mô, chất lượng lại thể hiện định
hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của
toàn bộ nông thôn, toàn vùng, từng địa phương trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ vừa
quán triệt tốt đặc điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ nhu cầu huy
động vốn đầu tư do chỉ tập trung vào những công trình ưu tiên.
Tính địa phương, tính vùng và khu vực
Việc xây dựng và phát triển CSHT GTNT phục thuộc vào nhiều yếu tố như: địa
lý, địa hình, trình độ phát triển…Do địa bàn nông thôn rộng, dân cư phân bố không
đồng đều và điều kiện sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng, phức tạp lại vừa khác biệt
lớn giữa các địa phương, các vùng sinh thái.
14
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn
lực ở đây có thể là tiền của, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ. Những kết
quả nhất định ở đây là sự tăng lên của tài sản hay nguồn nhân lực với trình độ ngày
càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ
15
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
có ý nghĩa riêng đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mà còn có tác động tới toàn
bộ nền kinh tế của đất nước[2]
Theo nghĩa hẹp, hoạt động đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó. Xét theo phạm vi này
thì trong một thời gian chỉ có những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại để trực
tiếp làm tăng các tài sản cả vật chất, nguồn nhân lực lẫn tài sản trí tuệ hoặc duy trì sự
hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có[2]
Phân loại hoạt động đầu tư
Khái niệm đầu tư cho thấy tính đa dạng của hoạt động kinh tế này. Hoạt động
đầu tư có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau, mỗi cách phân loại đều
có ý nghĩa riêng trong việc theo dõi, quản lý và thực hiện các hoạt động đầu tư. Tuy
nhiên, cách phân loại phổ biến nhất dựa vào bản chất của đối tượng đầu tư gồm các
loại đầu tư sau:
-
Đầu tư phát triển: là việc chi dùng vốn ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm
làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị) và tài sản trí
tuệ (tri thức, kỹ năng) gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu
phát triển
Vai trò của đầu tư phát triển
Các lý thuyết kinh tế, cả lý thuyết kế hoạch hóa tập trung và lý thuyết kinh tế thị
trường đều coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa
khóa của sự tăng trưởng. Vai trò này của đầu tư được thể hiện ở các mặt sau:
Trên giác độ toàn nền kinh tế của đất nước
-
Đầu tư phát triển làm tăng tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
+ Về mặt cầu: Đối với tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn. thời gian đầu
khi cung chưa kịp thay đổi, đầu tư tăng làm cho cầu tăng, đường cầu AD 0 dịch
chuyển sang phải thành AD1, , sản lượng tăng từ Y0 lên Y1, giá cả tăng từ PL0 lên PL1,
điểm cân bằng từ E0 đến E1 (hình 1).
PL
AS
PL1
PLo
E1
Eo
AD1
ADo
Yo
Y1
D1
D0
0
Q0
Q1
Q2
Hình 2
+ Về mặt cung: khi hiệu quả đầu tư phát huy tác dụng thì cung tăng S 0 tăng dịch
chuyển sang phải thành S1 kéo theo sản lượng tăng từ Y0 đến Y1, giá cả giảm từ P0
xuống P2, điểm cân bằng chuyển từ E1 đến E2. Như vậy, giá cả giảm, sản lượng tăng
kích thích tiêu dùng là nguồn gốc để thúc đẩy sản xuất. (hình 2)
Xét trên toàn bộ nền kinh tế, đầu tư là một trong bốn yếu tố tác động đến tổng
cầu AD. Khi đầu tư tăng, tổng cầu tăng AD 0 dịch chuyển sang phải thành AD 1 kéo
theo mức giá tăng từ PL 0 lên PL1, thu nhập tăng làm cho đời sống nhân dân được
nâng cao.
-
Đầu tư có tác động hai mặt tới sự ổn định kinh tế
18
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
18
đầu vào là vốn đầu tư thực hiện (hoặc tích lũy tài sản) và chỉ tiêu đầu ra là kết quả sản
xuất đạt được. Như vậy ICOR có trị số càng thấp thì hiệu quả càng cao và ngược lại.
Có thể tính ICOR theo hai phương pháp sau:
Phương pháp 1: tính ICOR từ các số tương đối theo công thức
ICOR= Dt/iq
Trong đó:
Dt: tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của năm nghiên cứu
Iq: tốc độ tăng GDP năm nghiên cứu so với năm trước năm nghiên cứu (từ đây
gọi là năm trước)
19
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: để tăng thêm 1 phần trăm (1%) tổng
sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng bao nhiêu phần trăm (%) tỷ lệ vốn đầu tư so
với GDP.
Phương pháp 2: ICOR tính từ các số tuyệt đối theo công thức:
ICOR= Vt/∆t
Trong đó:
∆t= Gt – Gt-1: là mức tăng GDP giữa năm nghiên cứu (t) và năm trước (t-1)
Đối với các cơ sở vô vị lợi:
Mặc dù đây là các cơ sở hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, nhưng để tạo
dựng các cơ sở này cũng cần có nguồn vốn. Mặt khác, trong quá trình hoạt động cần
20
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
chi tiêu cho việc sữa chữa, bảo dưỡng, thay mới cơ sở vật chất kỹ thuật để duy trì
hoạt đông. Tất cả những hoạt động này đều là những hoạt động đầu tư.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn (ĐTPT CSHT GTNT)
Tính cần thiết của đầu tư phát triển CSHT GTNT
Trong năm thập kỷ qua, các tác giả Phương Tây khi nghiên cứu sự phát triển
của các nước thế giới thứ ba đã đưa ra các nhận xét. Các nước này muốn phát triển
phải có sự đầu tư thích đáng vào yếu tố mà mình có thế mạnh. Khi nghiên cứu các
nước thế giới thứ ba, các tác giả đã chú trọng xem xét sự phát triển của khu vực nông
thôn và đưa ra những nhận xét tập trung vào lĩnh vực giao thông nông thôn. Đối với
các nước có nền nông nghiệp lâu đời thì tập trung sức mạnh phát triển nông nghiệp để
tạo tiền đề phát triển công nghiệp, trong đó không thể thiếu giao thông nông thôn.
Adam Smith cho rằng “Giao thông là một yếu tố quan trọng nó dẫn tới các thị trường
nối liền các khu vực nguyên vật liệu thô, các khu vực có tiềm năng phát triển và kích
thích khả năng sản xuất. W.Rostow mở rộng lý luận này và nâng cao vai trò dự cần
thiết phải đầu tư cho CSHT giao thông ở nông thôn cho rằng giao thông nông thôn là
“điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh của khu vực nông thôn.” Nó là một phần
gắn bó không thể tách rời trong hệ thống giao thông vận tải chung, là nhân tố tác
Mối quan hệ đầu tư giao thông nông thôn với phát triển
Vai trò của GTNT trong quá trình CNH - HĐH
Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định, sự phát triển của nông nghiệp, nông
thôn dựa trên một hệ thống kết cấu hạ tầng nhất định trong đó có mạng lưới giao
thông. Do đó, sự phát triển của GTNT có vai trò to lớn, nhất là trong quá trình CNH –
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Phát triển GTNT là cơ sở tiến đến một nền kinh tế hàng hóa phát triển. Kết cấu hạ
tầng luôn là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển đối với bất cứ xã hội nào.
Trong điều kiện CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn đòi hỏi phải áp dụng khoa học kỹ
thuật hiện đại vào sản xuất nông nghiệp, để đảm bảo có được hiệu quả kinh tế - xã hội
cho khu vực nông thôn không thể phát triển dựa trên hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn
nói chung và giao thông nông thôn nói riêng yếu kém, lạc hậu. Một nền kinh tế hàng
hóa vận động theo cơ chế thị trường thì giao thông nông thôn cần được đầu tư phát
triển, đi trước một bước để đáp ứng nhu cầu vận tải của nền kinh tế mở cửa, hội nhập,
là cơ sở để thu hút các dự án phát triển kinh tế, xã hội nông thôn trong tương lai.
Phát triển GTNT thúc đẩy quá trình CNH
Như đã nêu ở trên, giao thông nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện cho nền nông
nghiệp phát triển, đưa các công nghệ kỹ thuật tân tiến vào các vùng chuyên canh, phát
triển công nghiệp chế biến thực phẩm. Giao thông nông thôn thuận lợi sẽ tạo điều kiện
dễ dàng đưa các máy móc thiết bị nhằm thực hiện quá trình cơ giới hóa sản xuất nông
nghiệp nhằm tăng năng suất, giảm nhẹ lao động chân tay, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nông nghiệp nông thôn nước ta đang trong quá trình chuyển biến nhằm xây
dựng một nền nông nghiệp sản xuất lớn dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng lớn ngay
22
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
22
Khóa luận tốt nghiệp
chính phủ.
+ Thời gian kể từ khi tiến hành đầu tư một công trình giao thông cho đến khi
công trình đưa vào sử dụng thường kéo dài vài năm, thậm chí nhiều hơn.
-
Quản lý phức tạp:
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, nhất là trong lĩnh vực cơ sở hạ
tầng GTNT thường tiến hành trên phạm vi rộng lớn, trải dài theo vùng địa lý và phụ
23
23
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
thuộc vào đặc điểm địa lý của vùng. Do vậy, nó có tính phức tạp trong việc quản lý,
điều hành các công việc của thời kỳ đầu tư xây dựng công trình và quá trình khai thác
các công trình GTNT.
-
Tính hiệu quả:
Hoạt động đầu tư vào CSHT GTNT có hiệu quả phải phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó có đầu tư tới hạn, là đầu tư đưa công trình nhanh tới chỗ hoàn bị, các
công trình sẽ chậm đi vào vận hành.
-
SVTH: Nguyễn Thị Phượng
24
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Lê Hiệp
dựng được thuận lợi, nhanh chóng, hiệu quả. Ngược lại, trình độ văn hóa xã hội thấp
sẽ cản trở việc thực hiện các dự án phát triển giao thông tại vùng.
-
Kinh tế, dịch vụ, khoa học – kỹ thuật
Kinh tế dịch vụ phát triển tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, cung cấp nguồn tài
chính do đó quyết định tới quy mô, chất lượng của các công trình. Sự phát triển kinh
tế, dịch vụ còn là cơ sở để hình thành mạng lưới của ngành giao thông.
Ngày nay, thế giới đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ. Nó đang đi sâu vào mọi ngành, nghề trong nền kinh tế. Đối với những khu vực
xa xôi, địa hình hiểm trở càng đòi hỏi có kỹ thuật, công nghệ hiện đại để xây dựng
các công trình giao thông, đảm bảo hiệu quả sử dụng lâu dài cho nhân dân. Chính vì
vậy, khoa học công nghệ ảnh hưởng tới vốn đầu tư, quy mô, chi phí, chất lượng của
các công trình.
Thực tiễn về đầu tư phát triển CSHT GTNT
Tình hình chung về đầu tư phát triển CSHT GTNT của cả nước
Phát triển cơ sở hạ tầng GTNT là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối
với xã hội, nhằm xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách
phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn bộ mặt mới, nhiều tiềm
năng để phát triển.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước