Lời Cảm Ơn
Lời đầu tiên cho phép em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Khoa
Kinh Tế & Phát Triển Trường Đại Học Kinh Tế Huế và Ban Quản lý Khu
kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được
thực tập và hoàn thành bài khóa luận này, đây là một cơ hội tốt để cho chúng
em có thể thực hành các kỹ năng được học trên lớp và cũng giúp ích rất
nhiều để chúng em ngày càng hoàn thiện bản thân hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo – TS. Lê Nữ Minh
Phương đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình đi thực tập và
hoàn thành đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các Cô, Chú, Anh, Chị làm việc tại phòng
Quản lý đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế Vân Phong đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo và cung cấp số liệu, tạo điều kiện tốt cho chúng em hoàn thành
đề tài này.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian, kiến thức cũng như
kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực tập
Lê Thị Tú Anh
1
Khóa luận tốt nghiệp
2
SVTH: Lê Thị Tú Anh
BT
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
CB
Cán bộ
CC
Công chức
DA
Dự án
DN
Doanh nghiệp
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
ĐK
Đăng ký
FDI
UBND
Ủy ban nhân dân
WTO
Tổ chức thương mại Thế giới
4
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
5
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
DANH MỤC CÁC BẢNG
• Dữ liệu phục vụ quá trình nghiên cứu:
Sử dụng số liệu thu thập được ở các báo cáo từ BQL Khu kinh tế Vân Phong, các
cơ quan chức năng liên quan và sử dụng nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra,
phỏng vấn các doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn Khu kinh tế Vân Phong.
• Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như thu
thập nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra, phỏng vấn, phương pháp xử lý thông
tin, phân tích thống kê, phân tích SWOT.
• Kết quả đạt được:
Sau khi thực hiện đề tài này, ta thấy được thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Khu kinh tế Vân Phong giai đoạn 2010- 2014. Thông qua việc phân
tích, đánh giá đã kết luận được những đóng góp tích cực của nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài mang lại cũng như chỉ ra được những hạn chế trong việc thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguyên nhân của chúng. Đề xuất kiến nghị và
giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu kinh tế
Vân Phong trong thời gian tới.
7
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay để tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế Vân Phong trên cơ sở đó
đưa ra các giải pháp, kiến nghị và các chính sách nhằm tăng cường thu hút nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến khu kinh tế và cơ sở lý luận, thực
tiễn về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI vào khu kinh tế
Vân Phong
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu kinh tế
Vân Phong giai đoạn 2010- 2014. Từ đó nêu rõ những thành công đạt được và
những hạn chế cần khắc phục của khu kinh tế.
- Đề xuất các giải pháp và các chính sách cơ bản để nâng cao khả năng thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế Vân Phong trong thời gian tới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
4. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu cơ sở lý luận về khu kinh tế, vốn đầu tư và thực
trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế Vân Phong qua đó
đưa ra một số định hướng và giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn Khu kinh tế vịnh Vân Phong, huyện
Vạn Ninh và thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Về thời gian: giai đoạn 2010-2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
5.1.1. Nguồn số liệu sơ cấp
Thu thập từ sách, báo, tạp chí kinh tế…….
5.2. Phương pháp xử lý thông tin
Dựa trên số liệu thu thập được tiến hành tính toán, phân tích bằng phần mềm
Exel và sử dụng phần mềm SPSS để đánh giá các yếu tố về môi trường đầu tư và
các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI .
5.3. Phương pháp phân tích thống kê
Thông qua các số liệu thu thập được tiến hành sử dụng phương pháp thống
kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá để đưa ra các giải pháp phù hợp.
5.4. Phương pháp phân tích SWOT
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu bên trong của khu kinh tế và cơ hội, thách
thức từ bên ngoài vào khu kinh tế Vân Phong để từ đó đưa ra các chiến lược phối
hợp thích hợp nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI vào khu kinh tế Vân Phong.
6. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về khu kinh tế vfa thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào khu kinh tế
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu kinh
tế Vân Phong giai đoạn 2010- 2014
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Khu kinh tế Vân Phong
7. Hạn chế của luận văn
Do hạn hẹp về mặt thời gian nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót.
10
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
Về lĩnh vực đầu tư: khu kinh tế cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực nhưng có
mục tiêu trọng tâm, phù hợp với từng khu kinh tế, được thành lập ở mỗi địa bàn
-
khác nhau.
Về quy hoạch tổng thể: khu kinh tế đươc chia thành hai khu vực là khu thuế quan
và khu phi thuế quan.
11
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
•
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
Khu phi thuế quan: có ranh giới địa lý xác định, được ngăn cách bằng hàng rào
cứng với khu vực xung quanh; không có dân cư sinh sống. Các hoạt động trong
khu phi thuế quan bao gồm: sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ,
thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động
thương mại khác. Nó có đặc điểm giống như khu chế xuất nhưng phạm vi hoạt
động lớn hơn.
• Khu thuế quan: là khu vực còn lại của khu kinh tế, nó bao gồm các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính.
Hàng hóa ra vào khu thuế quan thuộc khu kinh tế phải tuân theo pháp luật về mặt
hàng, thuế xuất nhập khẩu nhưng được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi. Hàng
cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động
Các khu kinh tế đóng góp một phần rất lớn vào ngân sách nhà nước
Sự phát triển của các khu kinh tế đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát triển
đồng đều giữa các vùng trong cả nước.
1.1.2. Tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm FDI
12
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF), Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (Foreign Direct Investment), FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên
giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần
hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct
investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là
10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Như vậy, FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ
quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty chủ
quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc
(trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ
thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn ra và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư
+ Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền và các tài sản khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra định nghĩa khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế
mà chủ đầu tư nước ngoài đã góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất và dịch
vụ để có thể trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi
vốn bỏ ra”.
1.1.2.2. Đặc điểm của FDI
Thứ nhất, chủ đầu tư vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phân của hình
thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài , tiến
hành đầu tư tại một nước khác vì vậy nhà đầu tư phải chấp hành luật pháp của nước
nhận đầu tư. Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình
sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng
với phần vốn góp đó. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình
thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc
mức độ góp vốn, thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả
sản xuất kinh doanh, mức độ lại được chia theo tỷ lệ vốn góp của các bên, nếu bị lỗ
thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần vốn góp đó.
Thứ hai, vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước
ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó bao gồm cả vốn vay
của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn vay của các nhà
đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại tư lợi
nhuận sau thuế từ kết quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy , nước sở tại phải có chính
sách về tài chính phù hợp trong trường hợp một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng
chỉ đưa ra một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước sở tại để
thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút đầu tư
gánh nặng nợ quốc gia, đây là một ưu điểm so với các hình thức đầu tư nước ngoài
khác. Việc mang vốn từ bên ngoài vào đầu tư tại nước sở tại sẽ tạo thêm nhiều vốn
cho đầu tư, nhất là những nước đang phát triển và vốn này không phải là khoản nợ
của quốc gia, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều
so với các khoản vốn vay quốc gia khác, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia
tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều so với các khoản vốn vay quốc gia khác. Để được gọi là
vốn FDI thì phí nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ nhất định, lượng vốn
này tùy theo quy định của từng nước và được thay đổi theo thời gian.
Thứ năm, vốn FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các
nhà đầu tư nước ngoài quyết định về quy mô và sử dụng vốn FDI. Do các nhà đầu tư
15
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
nước ngoài luôn muốn tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra thiệt thòi, tổn thất
ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư.
1.1.2.3. Các hình thức và phương thức của FDI.
a. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối tác trong nước với
các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả
kinh doanh giữa các bên trong các văn bản kí kết mà không thành lập pháp nhân
mới. Hình thức này có đặc điểm là hợp tác kinh doanh giữa các bên trong các văn
bản kí kết hợp lại trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi
nhuận, cùng nhau chia sẻ rủi ro để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ
hoàn toàn của nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài tự quản và chịu trách nhiệm về
kết quả sản xuất kinh doanh, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh
thuộc hoàn toàn về nhà đầu tư nước ngoài nhưng thành lập pháp nhân tại nước sở
tại nên chịu sự kiểm soát bởi pháp luật của nước sở tại.
Ngược lại với loại hình doanh nghiệp liên doanh, đầu tiên các nhà đầu tư
nước ngoài không thích hình thức đầu tư này thành lập do họ chưa am hiểu về luật
pháp, môi trường và thủ tục của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, khi các vấn đề trên
được tháo gỡ thì đây là hình thức được các nhà đầu tư nước ngoài ưa thích và mở
rộng quan hệ trong quan hệ kinh tế quốc tế vì họ muốn tự mình quyết định, quản lý
và hưởng các lợi ích do các hoạt động đầu tư mang lại.
c. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên nước
ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vốn góp, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và
chia se rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận
đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều
nhất trong thời gian qua.
d. Một số hình thức khác
-
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)
Với hình thức BOT, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh
doanh công trình trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp
lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ
nhà mà không được bồi hoàn một khoản tiền nào.
-
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO)
Đối với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công
Đối với bất kì một quốc gia nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì
để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong
nước hoặc nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối
với những nước đang phát triển như Việt Nam ( có tỷ lệ tích lũy thấp, nhu cầu đầu
tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế). Vì vậy, nguồn vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho sự phát triển kinh tế,
trên cả giác độ vĩ mô và vi mô. Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là ba
khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô,
FDI tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước,
vấn đề lưu chuyển lao động giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong
nước….. đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai trò của mình
trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. FDI có vai trò thúc đẩy
18
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
trực tiếp sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ quản lý, tham gia
mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo công nhân, tăng
nguồn thu ngân sách.
Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giai đoạn tới đã khẳng
định tầm quan trọng của FDI đối với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Đánh giá
đúng vị trí, vai trò của đầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
thông qua con đường FDI thường được thực hiện thông qua các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần
lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ,áp dụng công nghệ,
công nghệ thiết kế xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công
nghệ marketing.
Bên cạnh việc chuyển giao các công nghệ sẵn có thông qua FDI, các TNC còn
góp phần tăng năng lực nghiên cứu và phát triển (R & D) công nghệ của nước chủ
nhà. Mặt khác trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhât là các
doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước đã học được cách thiết kế,
chế tạo công nghệ từ công nghệ nguồn, sau đó cải biển công nghệ phù hợp với điều
kiện sử dụng của mình góp phần tích cực đối với việc phát triển công nghệ ở các
-
nước đang phát triển.
FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm
Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa
hóa, củng cố chỗ đứng và duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó,
họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu
tư. Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng
nhanh ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, các hoạt động cũng ứng dịch vụ và gia
công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế, ở
các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đã tạo nhiều việc
hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các
nước này. Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận được với thị
trường thế giới, vì hầu hết hoạt động FDI đầu do các TNC thực hiện. Ở các nước
đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu
do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế. Đối
với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các
yếu tố đầu vào rẻ, khai thác hiệu quả theo quy mô sản xuất ( không bị hạn chế bởi
quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hóa sâu từng chi
-
tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế, sau đó lắp ráp thành phẩm.
FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát
triển nội tại nền kinh tế mà còn đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế
diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế
đối ngoài, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ
cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế
giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI. Ngược lại, chính FDI lại góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ỏ nước chủ nhà, vì nó
làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới góp phần nâng cao nhanh chóng
trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động
21
SVTH: Lê Thị Tú Anh
tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy
móc thiết bị, nguyên vật liệu… (hay gọi là phần cứng- tri thức khoa học, bí quyết
quản lí, năng lực tiếp cận thị trường… (hay gọi là phần mềm). Do vậy đứng về lâu
dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư. FDI có thể thúc đẩy
phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao.
Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu
kinh tế nhanh của các nước nhận đầu tư. FDI đem lại kinh nghiệm quản lý , kĩ năng
kinh doanh và trình độ kĩ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư, thông qua
những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn mang cho họ
những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận công nghệ của các nước
22
SVTH: Lê Thị Tú Anh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
nhận đầu tư. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo những kỹ
sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên
-
doanh với nước ngoài.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế
đối ngoại, thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân
chia lao động quốc tế, để hội nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bởi vì:
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương
b. Tác động tiêu cực.
-
Chuyển giao công nghệ nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật
lạc hậu và máy móc cũ. Do vậy, việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt
•
hại cho các nước nhận đầu tư như là:
Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do đó nước
nhận đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên
•
doanh và hậu quả bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận
Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công tu nước ngoài bị cưỡng chế phải bảo
vệ môi trường theo các quy định rấy chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển,
thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi trường sang các
nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu
• Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các nước nhận
-
đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư
dự án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất, nhà xưởng
và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay
một trong số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan….. Và như vậy đôi khi
lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà các
nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào. Các nhà
đầu tư thường tính giá cao cho các nguyên liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị
mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư
khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở
nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài
sản xuất với giá cao hơn. Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ xảy ra khi nước chủ nhà
thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc
các chính sách của nước đó còn có nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi
dụng được
• Sản xuất hàng hóa không thích hợp
Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng không thích hợp cho
các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho
sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng
thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế cho nước hoa quả tươi, chất tẩy
thay thế xà phòng….
1.1.2.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào khu kinh tế
a. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Khi quyết định đầu tư vào khu kinh tế nào đó thì vị trí địa lý là một trong
những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư. Một
nước có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu vận chuyển, lợi thế về vị trí địa lý
giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung
quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy doanh nghiệp tập trung
25