MỤC LỤC
1
BOD5
COD
DO
TSS
QA/QC
BTNMT
QCVN
DTRM
Nhu cầu oxy sinh hóa sau 5 ngày
Nhu cầu oxy hóa học
Nhu cầu oxy hòa tan
Chất rắn lơ lửng
Đảm bảo chất lượng/ Kiểm soát chất lượng
Bộ tài nguyên môi trường
Quy chuẩn Việt Nam
Đánh giá tác động rủi ro môi trường
2
DANH MỤC BẢNG
Số Bảng
1.1
1.2
27
28
29
32
33
34
35
DANH MỤC HÌNH
Số Hình
1.1
1.2
2.1
2.2
2.3
2.4
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
Tên Hình
Bản đồ vị trí sông Rế
42
43
44
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Sự cấp thiết của đề tài
Thành phố Hải Phòng được thành lập từ năm 1888.Trải qua hơn 200 năm
phát triển, Hải Phòng là một trong những trung tâm tăng trưởng kinh tế của khu
vực phía Bắc, là cửa một trong ba đỉnh của tam giác kinh tế Hải Phòng- Hà NộiQuảng Ninh.Song song với quá trình phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ
và kinh tế thì vấn đề nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và công nghiệp cũng là
một yếu tố quan trọng hàng đầu đối với toàn thành phố.
Hải Phòng được thiên nhiên ưu đãi ban cho ba nguồn nước ngọt quí giá là
sông Rế, sông Giá và sông Đa Độ, thành phố đã giải quyết được cơ bản nhu cầu
về nước ngọt trong khi nguồn nước ngầm của thành phố có giới hạn.
Do vị trí của thành phố nằm trên cửa sông ven biển, bị hệ thống sông - lạch
chia cắt thành những đảo đất quanh năm bị xâm nhập mặn và nhiễm mặn.
Nguồn nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh gặp rất
nhiều khó khăn. Hiện nay tại Hải Phòng có một số con sông nhỏ cung cấp nước
ngọt chính cho Thành phố trong đó có sông Rế.Tuy nhiên, nước mặt Hải Phòng
hiện đang đối mặt với nhiều thách thức. Do đó ngay từ bây giờ, điều tra hiện
trạng chất lượng môi trường nước của sông Rế được đặt ra là hết sức cấp bách
và cần thiết.
Là sinh viên ngành môi trường, em nhận thấy mình cần có trách nhiệm tìm
hiểu và xác định được các nguồn gây ô nhiễm và cố gắng đưa ra các giải pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho Thành phố. Từ nhận định
Xử lý các tư liệu khảo sát, phân tích đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn
môi trường Việt Nam và quốc tế.
-
Đề xuất phương pháp xử lý nước cấp cho sinh hoạt của người dân thành
phố Hải Phòng.
4.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
-
Các thông số đo ngoài hiện trường: pH, Oxy hòa tan (DO)
-
Các thông số phân tích trong phòng thí nghiệm: BOD 5 (20oC); COD; tổng
chất rắn lơ lửng (TSS); Amoni (NH4+-N), photphaste, coliform…
5.
Phạm vi nghiên cứu
Lựa chọn quan trắc sông Rế tại 5 điểm gồm:
-
Thượng lưu: Thôn Cữ , xã Lê Thiện, huyện An Dương
Sông Rế bắt nguồn từ sông Thái Bình (địa phận Hải Dương), đến đoạn
sông ở xã Lê Thiện (An Dương) tách ra làm hai nhánh. Nhánh chính chảy qua
nội thành Hải Phòng rồi đổ vào sông Cấm, nhánh thứ hai chảy qua Ngọ Dương
rồi đổ vào sông Lạch Tray. Do chảy trên vùng đồng bằng thấp, khá bằng phẳng
nên sông Rế chỉ với chiều dài 13.650m nhưng rất quanh co, uốn khúc, nhiều chỗ
sông bị đoạt dòng hình thành nên những khúc sông cụt. Mặt cắt ngang lòng sông
7
rộng trung bình50 – 60 m, cực đại có thể xấp xỉ 100m. Độ sâu sông Rế qua kết
quả đo sâu hồi âm ở 6 mặt cắt ngang cho thấy tương đối ổn định và ở mức 3 –
4m. Sau khi đắp đập Cái Tắt tại xã An Đồng, sông trở thành hồ chứa nước ngọt
và các đoạn sông trở thành đoạn sông chết. Mùa đông, sông cung cấp nước tưới
cho cả khu vực và các sinh hoạt khác, mùa mưa bão, sông làm chức năng tiêu
nước.
1.1.3.
Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng
Với vị trí địa lý quan trọng, Hải phòng đã trở thành một cửa ngõ kinh tế lớn
của cả nước. Đây là nơi tụ hội nhiều yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển:
có điều kiện thuận lợi để xây dựng các khu công nghiệp, thương mại, du lịch với
tầm cỡ quốc gia, có sức hấp dẫn các ngành đầu tư nước ngoài. Hải phòng đang
có một nền kinh tế phát triển với đầy đủ các thành phần: nông nghiệp, công
nghiệp, giao thông vận tải (đường bộ, đường sông biển, đường hàng không),
cảng biển,… Nền kinh tế của Hải Phòng không dừng lại đây mà ngày càng phát
triển mạnh mẽ theo xu thế chung của toàn xã hội.
Dân số Hải Phòng đến cuối năm 1998 là 1.707.100 người trong đó dân
thành thị chiếm 33,8%, nông thôn 66,2%, tỷ lệ tăng tự nhiên của tổng số là
khắc phục khó khăn, thực hiện quyết liệt các giải pháp chủ yếu, đẩy mạnh phát
triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; sự nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn
thể nhân dân. Tình hình kinh tế- xã hội của huyện năm 2014 tiếp tục ổn định và
phát triển, kết quả cụ thể như sau:
•
Điều kiện kinh tế xã hội
Dân số năm 2014 có khoảng 18000 dân, tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên
1, 12% giảm 6% so với năm 2013.
Công tác giáo dục vào đào tạo: Huy động ra lớp mẫu giáo 5 tuổi đạt 100%,
trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%. Học sinh tiểu học hoàn thành chương trình vào
lớp 6 đạt 100%; học sinh trung học cơ sở lên lớp đạt 99,8%, tốt nghiệp đạt 99,9
%. Tỷ lệ giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, học sinh dự thi học sinh giỏi đạt giải
cấp huyện, thành phố và quốc gia tăng so với năm học trước.
9
Tập trung nguồn lực đầu tư nâng cấp, xây dựng một sô trường học theo
hướng chuẩn quốc gia (toàn huyện có 26/52 trường đạt chuẩn quốc gia đạt,
52%)
Duy trình 4 loại hình đào tạo tại trường trung cấp nghề, tổng số 24 lớp,
1343 học viên. Giới thiệu dự tuyển lao động cho 400 học viên sau đào tạo.
Công tác lao động, thực hiện chính sách xã hội : Công tác đào tạo nghề,
tạo việc làm cho người lao động được quan tâm. Phối hợp với các trường tôt
chức 15 lớp dạy nghề cho lao động nông thôn, tổng số 525 học viên.
Một số chỉ tiêu xã hội
− Tỷ lệ lao động có việc làm 98%, đạt 100% kế hoạch
− Tỷ lệ hộ nghèo : 2,42%, giảm 1,02% so với năm 2013
trọng
2013
108,25
103,27
106,35
113.9
(%)
100
20,8
43.3
35,9
Tổng giá trị sản xuất
5858,5
100,03
Nông nghiêp - thuỷ sản
1218
100
Công nghiệp - xây dựng
2536,5
100
Thương mại - dịch vụ
2114
100
(Nguồn UBND huyện An Dương năm 2014)
10
Bảng 1.3. Cơ cấu vật nuôi năm 2014
TT
1
2
3
4
Vật nuôi
Lợn
Trâu bò
Gia cầm
Thuỷ sản
Sản lượng
% so với kế hoạch
42150 con
100,3
1205 con
83,1
635000 con
100,8
1321,7 tấn
110,1
(Nguồn UBND huyện An Dương năm 2014)
Bảng 1.4. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng
TT
Chỉ tiêu
100
108,72
3
Tổng
2536,5
100
106.35
(Nguồn UBND huyện An Dương năm 2014 )
Thương mại - dịch vụ: Hoạt động thương mại dịch vụ ổn định, đáp ứng cơ
bản nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, Giá trị sản xuất 2114
tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, tăng 13,9% so với năm 2013.
Công tác tài chính, kế hoạch đầu tư: tổng thu ngân sách đạt 447,7 tỷ
đồng, đạt 115,7% dự toán thành phố giao, tăng 24,26% so với năm 2013, trong
đó thu trên địa bàn 132,1 tỷ đồng, đạt 74,17% dự đoán, tăng 17,24% so với năm
2013. Tổng chi ngân sách 432,053 tỷ đồng đạt 127,17% dự toán năm.
Nhắc đến Hải Phòng dường như không thể không nhắc đến hệ thống thoát
nước ở đây. Hiện tại, hệ thống cấp nước Hải Phòng gồm 8 nhà máy nước với
công suất trên 240.000 m3/ngày, cấp nước cho gần 1,3 triệu dân thành phố. Chất
lượng nước xử lý đạt tiêu chuẩn của tổ chức WHO và lượng nước đủ đáp ứng
cho mọi yêu cầu. Tại mỗi huyện, có các nhà máy xử lý nước cỡ nhỏ cung cấp đủ
cho nhu cầu địa phương.
Dự án mở rộng Nhà máy cấp nước Vật Cách là một trong những công trình
2013 sẽ được nâng công suất lên 200.00 m3/ngày), nhà máy nước Vật Cách hiện
tại (công suất 11.000 m3/ngày, sẽ được nâng công suất lên 60.000 m3/ngày), nhà
máy nước Vật Cách mới (giai đoạn I đang thi công có công suất 25.000
m3/ngày, theo quy hoạch là 100.000 m3/ngày), nhà máy nước Kim Sơn (giai
đoạnI đang thi công là 25.000m3/ngày, theo quy hoạch là 200.000 m3/ngày) đảm
bảo cung cấp đủ nhu cầu nước sạch cho nhân dân các quận Lê Chân, Hồng
Bàng, Ngô Quyền, Hải An và huyện An Dương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và 3 khu công nghiệp Nomura, Tràng Duệ và An Dương.
CHƯƠNG 2: NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG RẾ THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.
NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG RẾ
13
Hình 2.1. Bản đồ các nguồn gây ô nhiễm sông Rế
2.1.1. Hoạt động công nghiệp
Hải Phòng là một trong những trung tâm công nghiệp mới phát triển, điều
kiện kinh tế còn khó khăn nên hầu hết hoạt động thải công nghiệp của nhiều nhà
máy chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Nhiều công ty liên doanh
không đăng ký vào các khu công nghiệp tập trung mà thuê đất dải rác bên ngoài
dọc theo đường 5 thuộc huyện An Dương như nhà máy Vinapipe liên doanh
Nam Triều Tiên, nhà máy sản xuất thép Vinausteel liên doanh với Úc, nhà máy
đúc gang liên doanh với Nhật, trong đó duy nhất chỉ có một mương dẫn nước tự
nhiên từ khu luyện và gia công thép đổ vào lòng sông ở gần đập Cái Tắt. Điều
này đã gây ra khó khăn trong kiểm soát và quản lý các nguồn thải công nghiệp
của thành phố…
Ngoài ra, xã Nam Sơn có ba cơ sở: sản xuất khí công nghiệp Messer Hải
chất thải của cở sở sản xuất của mình.
Ngoài ra, nước thải từ hoạt động giết mổ gia súc, chế biến thuỷ sản, cũng
đều trực tiếp hay gián tiếp thải vào sông, gây nên những hiểm hoạ khôn lường.
2.1.3.
Hoạt động sinh hoạt
Hình 2.3. Lấn chiếm long sông ( gần trạm bơm Quán Vĩnh)
Nguồn gây ô nhiễm quan trọng thứ ba là nước thải dân sự của các cụm dân
cư nông thôn và các thị trấn nhỏ trên lưu vực sông. Nước thải sinh hoạt, sản xuất
của thị trấn An Dương, các xã Lê Lợi, Đặng Cương, Hồng Thái, Đồng Thái, An
Đồng thoát theo tuyến kênh An Kim Hải từ cống Hà Liên theo đường 208 và
220 về phía đập Cái Tắt ra sông Lạch Tray, tuy nhiên hiện nay tuyến kênh này
đang bị lấn chiếm gây ứ tắc, đặc biệt là tại khu vực chợ An Đồng dẫn đến tình
trạng nước thải chảy ngược về phía sông Rế.
Nước thải sinh hoạt của xã Nam Sơn, Bắc Sơn huyện An Dương, phường
Hùng Vương quận Hồng Bàng và các doanh nghiệp phía bắc đường 5, bệnh viện
Giao thông vận tải, trung đoàn tên lửa 285 đang được xả vào kênh Bắc Nam
Hùng và vào sông Rế qua cống Tây Hà (xã Bắc Sơn) và cống An Trì (phường
Hùng Vương).
16
2.1.4. Hoạt động y tế
Với các bệnh viện trên địa bàn thành phố, mặc dù lượng nước thải không
nhiều nhưng lại là nguồn gây ô nhiễm và dịch bệnh nguy hiểm nhất. Bệnh viện
Đa khoa An Dương – một trong những điểm xảthải ra sông Rế – đã chi nguồn
kinh phí khá lớn để ký hợp đồng vận chuyển, xửlý hàng ngày với chất thải rắn
kiểm soát đối với cơ sở y tế cần được ưu tiên thực hiện sớm trong quá trình triển
khai thực hiện đề án nhiêm vụ vào nước sông Rế.
2.1.5. Hoạt động khác
Ô nhiễm từ nghĩa trang ven sông: đoạn chảy qua hai xã Bắc Sơn và Lê Lợi
(huyện An Dương), phần lớn số nghĩa trang nhân dân của 2 xã này nằm liền kề
sông Rế. Có tới 3 trong số 4 nghĩa trang của xã Bắc Sơn nằm gần sông với
khoảng cách mép sông chỉ vài chục mét gồm Đa Chết, Chùa Cao, vườn Chim.
Dù không nằm liền kề, nghĩa trang Trà Lý với diện tích 2.000m 2 chỉ cách sông
Rế được 300 m. Ngoài nghĩa trang của xã Bắc Sơn, nằm liền kề sông Rế còn
còn có các nghĩa trang xã Lê Lợi.
Hình 2.4. Nghĩa trang thôn Lương Quy (xã Lê Lợi)
2.2.
Cơ sở đánh giá chất lượng nước
Nước sông nói chung chứa nhiều các chất hữu cơ, vô cơ, các loại vi sinh
vật khác nhau.Tỉ lệ thành phần của các chất trên có trong một mẫu nước phản
ánh chất lượng nước của mẫu. Việc bố trí những vị trí lấy mẫu, phân tích, định
tính, định lượng thành phần các chất trong mẫu nước trong phòng thí nghiệm là
18
nội dung chủ yếu đánh giá chất lượng và phát hiện tình hình ô nhiễm nguồn
nước.
Để xác định chất lượng nước hay mức độ ô nhiễm nước, người ta thường
dùng các thông số chất lượng môi trường nước: Thông số vật lý, thông số hóa
học, thông số sinh học.
2.3.1.
19
Khái niệm các chất rắn trong nước ở đây được hiểu là sự có mặt của tất cả
các chất vô cơ và hữu cơ hiện diện trong nước, ngoại trừ bản thân nước (H 2O).
Các chất rắn hiện diện trong nước từ nhiều nguồn khác nhau như quá trình rửa
trôi các chất từ đất, quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ từ xác động, thực
vật, ảnh hưởng của các loại nước thải công nghiệp và sinh hoạt.
Các chất rắn trong nước có thể có bản chất là:
+ Các chất vô cơ dạng hòa tan hoặc không tan ở dạng huyền phù.
+ Các chất hữu cơ hòa tan và không tan.
+ Các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, động vật nguyên sinh…).
Tùy theo đặc điểm mà chất rắn được chia thành các loại sau (đơn vị tính
đều là mg/l):
- Tổng chất rắn hòa tan (Total Dissolved Solids - TDS): tổng các chất hòa tan
trong nước, chủ yếu là các ion vô cơ, một lượng nhỏ chất hữu cơ và khí hòa tan
(oxy, CO2..)
- (Tổng) chất rắn không hòa tan / (tổng) chất rắn lơ lửng (Total)Suspended Solids
– (T)SS - SS): tổng các chất không hòa tan trong nước, chủyếu là các chất ở
dạng lơ lửng và thể keo.
- Tổng chất rắn (Total Solids – TS): tổng tất cả các chất có mặt trong nước.
Sự có mặt của các chất rắn nhìn chung gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước
khi sử dụng cho sinh hoạt, cho sản xuất.
2.3.2. Thông
số hóa học
Các thông số hóa học bao gồm: độ pH, oxy hòa tan, các chỉ số BOD, COD,
dầu mỡ, clorua, sunphat, amoniclorua (NH 4+ N-), phosphate, kim loại nặng,thuốc
−
DO = 5-6 mg/l: đáp ứng đủ cho sinh trưởng.
−
DO < 3 mg/l: gây căng thẳng, ăn mồi giảm và dễ bị nhiễm bệnh.
−
DO < 2 mg/l: gây chết cá.
21
Quy chuẩn chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống thủy sinh QCVN
38:2011/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ
đời sống thuỷ sinh) quy định DO trung bình ngày phải lớn hơn 4 mg/l.
• Nhu cầu oxy sinh học (Biochemical Oxygen Demand – BOD)
Về định nghĩa, thông số BOD của nước là lượng oxy cần thiết để vi khuẩn
phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện chuẩn: 20o C, ủ mẫu 5 ngày đêm, trong
bóng tối, giàu oxy và vi khuẩn hiếu khí. Nói cách khác, BOD biểu thị lượng
giảm oxy hòa tan sau 5 ngày. Thông số BOD5 sẽ càng lớn nếu mẫu nước càng
chứa nhiều chất hữu cơ có thể dùng làm thức ăn cho vi khuẩn, hay là các chất
hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (Carbonhydrat, protein, lipid..)
BOD là một thông số quan trọng:
− Là chỉ tiêu duy nhất để xác định lượng chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh
học.
− Là tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng các dòng thải chảy vào các thuỷ vực thiên
nhiên.
chất thải của người và động vật và sau này là lượng khổng lồ phân lân sử dụng
trong nông nghiệp và các chất tẩy rửa tổng hợp có chứa phosphate sử dụng trong
sinh hoạt và một số ngành công nghiệp trôi theo ḍng nước. Ngoài ra, còn phải kể
đến sự phong hóa các khoáng phosphate cũng là nguyên nhân khiến P hiện diện
trong nước tự nhiên.
Trong các loại nước tự nhiên và nước thải, Phospho hiện diện chủ yếu dưới
các dạng phosphate. Các hợp chất Phosphate được chia thành Phosphate vô cơ
và phosphate hữu cơ:
− Phosphate vô cơ: bao gồm orthophosphate (trong phân tử chỉ có 1 nhóm
phosphate) và polyphosphate (trong phân tử chứa nhiều nhóm phosphate). Trong
nước tự nhiên thì orthophosphate chiếm đa số, còn polyphosphate chỉ chiếm
phần nhỏ. Các chất này đều ở dạng hòa tan và thường bắt nguồn từ phân lân,
nước lò hơi, nước thải công nghiệp giặt tẩy...
23
− Phosphate hữu cơ: phospho trong các liên kết với các chất hữu cơ, bao gồm cả
các chất lơ lửng và các chất hòa tan. Loại này thường hiện diện trong các loại
nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất thực phẩm, nước thải chăn nuôi...và nồng
độ có thể lên tới vài chục mg/L.
Phospho là một chất dinh dưỡng đa lượng cần thiết đối với sự phát triển
của sinh vật. Phospho và các hợp chất chứa Phospho có liên quan chặt chẽ đến
hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, do sự có mặt quá nhiều các chất này
kích thích sự phát triển mạnh của tảo và vi khuẩn lam. Trạng thái dinh dưỡng
của nước tự nhiên được phân cấp và đánh giá thông qua nồng độ của
orthophosphat trong nước.
2.3.3.
Thông số sinh học
Chương trình quan trắc được xây dựng đầy đủ, dễ hiểu, bao gồm các hoạt
động sau: xác định vị trí lấy mẫu, thời gian vè tàn số lấy mẫu, thiết bị lấy mẫu,
thiết bị phân tích. Mục đích là vừa đảm bảo yêu cầu quan trắc vùa phù hợp về
kinh tế, nhằm quan trắc chất lượng môi trường nước sông Rế trên địa bàn huyện
An Dương với các chỉ tiêu về chất lượng vật lý hoá học và sinh học, các thành
phần môi trường để giúp cho việc thu thập các thông số nhằm so sánh với với
QCVN tương ứng, xác định phạm vi ảnh hưởng của các hoạt đông sản xuất và
sinh hoạt của khu dân cư tới nước sông. Qua đó xác định chất lượng nước sông
để có thể đua ra các biện pháp nhằm quản lý chất lượng nước sông Rế đảm bảo
hợp vệ sinh, phù hợp với các mục đích sử dụng.
25