Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất các giải pháp bảo vệ - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Hà. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tôi cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Lê Thị Thủy

1


LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học tự nhiên –
Đại học Quốc gia Hà Nội, em đã được các thầy cô trong và ngoài Khoa Môi trường
tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm hết sức quý giá trong
suốt quá trình học tập. Đến nay, em đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài:
“Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Cấm tỉnh Nghệ An và đề xuất các
giải pháp bảo vệ”.
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo Khoa
Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã giúp đỡ em hoàn thành khóa học của
mình. Đặc biệt em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS. Nguyễn Thị Hà đã tận tình
chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học khoa học tự nhiên đã
tạo điều kiện cho em trong thời gian học tập tại trường.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên của gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu này.
Hà nội, tháng 12 năm 2014

Hóa chất bảo vệ thực vật
Lưu vực sông
Mô hình cơ bản của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ
Quyết định
Quy chuẩn Việt Nam
Phương pháp tính WQI của Qũy vệ sinh Quốc gia Hoa
Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm.
Phương pháp tính WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa
Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm tính
theo công thức dạng tổng.
Phương pháp tính WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa

SC-WQI/WM :

Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm tính

TCMT :
TSS:
TCMT:
TCVN:
UBND:
WQI:
WQISI:

theo công thức dạng tích.
Tổng cục Môi trường
( Total Suspended Solid ): Tổng chất rắn lơ lửng
Tổng cục Môi trường
Tiêu chuẩn Việt Nam
Ủy ban nhân dân

phận huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò. Lưu vực sông đã cung cấp một lượng tài
nguyên nước dồi dào cho sinh hoạt và sản xuất của dân cư địa phương góp phần
phát triển kinh tế của khu vực cũng như của tỉnh. Hiện nay do xu thế đô thị hoá,
công nghiệp hoá nên việc khai thác tài nguyên nước tại lưu vực sông này đang trở
nên quá tải; môi trường nước sông nói riêng và môi trường xung quanh lưu vực nói
chung đang bị xuống cấp ngày càng rõ rệt hơn do nước thải sinh hoạt và sản xuất
không qua xử lý, rác thải rắn, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật nên đang làm cho chất
lượng nước giảm sút, đa dạng sinh học suy giảm. Việc khai thác và chế biến của
ngành thuỷ sản trong những năm qua đã làm tăng lượng chất thải ảnh hưởng xấu tới
môi trường lưu vực sông, đặc biệt là khu vực cửa sông, ven biển.
Sinh kế của dân cư xung quanh lưu vực chủ yếu dựa vào nghề nông, nguồn
nước phục vụ cho sinh hoạt tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản là nguồn

5


nước lấy từ hệ thống kênh mương dẫn từ sông gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ
người dân và sản lượng lương thực. Vấn đề ngày càng trở nên cấp bách hơn khi dân
số tăng nhanh cả về tự nhiên và cơ học do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa.
Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường
nước sông Cấm tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp bảo vệ” nhằm điều tra, đánh
giá các nguồn thải có khả năng tác động; hiện trạng chất lượng môi trường nước
sông Cấm, đánh giá khả năng sử dụng nguồn nước; từ đó đề xuất những giải pháp
khả thi nhằm sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên nước các sông Cấm
là hết sức cần thiết và cấp bách.
2. Mục tiêu đề tài
- Đánh giá các nguồn tác động có khả năng ảnh hưởng tới chất lượng môi
trường nước sông Cấm tỉnh Nghệ An.
- Đánh giá chất lượng nước theo phương pháp tính chỉ số chất lượng nước
tổng hợp (WQI).

trong vòng 20 năm nữa [26].

7


Với 80% nước của châu Á được dùng cho tưới tiêu phục vụ nông nghiệp,
việc thiếu nước có thể dẫn đến những tác động nghiêm trọng đối với cung cấp
lương thực. Trong khi đó, khoảng 10 đến 15% nước của châu Á dùng cho công
nghiệp. Nhưng hiệu quả của việc dùng nước trong nông và công nghiệp chỉ tăng có
1% một năm kể từ năm 1990. Thapan cảnh báo trừ phi cải thiện triệt để tỷ lệ hiệu
quả dùng nước trong cả nông nghiệp và công nghiệp, châu Á không thể thu hẹp
khoảng cách giữa cung và cầu trong năm 2030 [26].
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ồ ạt là hai lý do dẫn đến cuộc khủng
hoảng này nhưng chủ nghĩa tiêu dùng là lý do không kém phần quan trọng. Một ví
dụ là mức tiêu thụ thịt của Trung Quốc đã tăng gấp đôi trong vòng 20 năm qua và
dự đoán sẽ tiếp tục tăng gấp đôi trong 20 năm nữa. Để sản xuất một kg thịt cần đến
khoảng 35.000-70.000 lít nước và để sản xuất một kg gạo cần đến 10.000 lít nước
[15].
Bộ trưởng Phát triển Dân tộc Singapore cho biết mỗi ngày có hơn 200.000
người từ các khu vực nông thôn di chuyển tới các thành phố hoặc thị trấn. Như vậy,
cứ 3 ngày, một lượng người tương đương với một thành phố mới với dân số bằng
Seattle hoặc Amsterdam lại xuất hiện. Đến năm 2050, 70% dân số toàn cầu sẽ sống
trong các thành phố, tăng so với con số 50% ở thời điểm hiện tại [26].
Ở Philippines, trong số 412 con sông, 50 sông đã bị ô nhiễm do tác nhân sinh
học. Chỉ riêng việc làm sạch vịnh Manila và sông Pasig ở Manila đã tốn khoảng từ
2 đến 2,5 tỷ USD [13].
Tại Trung Quốc, nhiều hồ nước, dòng sông và vùng biển đang ô nhiễm
nghiêm trọng do tác động của tự nhiên và con người. Nguyên nhân là do tốc độ phát
triển chóng mặt của Trung Quốc kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao. Tuy
vậy, chính phủ nước này chưa hề có biện pháp chặt chẽ nào để bảo vệ nguồn nước,

sông này hàng ngày vẫn sử dụng nước sông để giặt giũ, tắm rửa, thậm chí cả đun
nấu [15].
Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ dãy
Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal.
Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì
bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và rác thải
sinh hoạt chưa qua xử lý. Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng. Ngoài

9


ra, do phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi thể người
trôi lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt
cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông. Nước sông giờ không những
không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp.
Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khá cao như
thủy ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel
(10-130ppm) [15].
Sông Buriganga là một trong những con sông lớn chạy qua thủ đô Dhaka của
Bangladesh. Tuy nhiên, hiện nay mức ô nhiễm của sông rất cao. Sông bị ô nhiễm
bởi các hóa chất từ các nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy. Hầu hết
những loại hóa chất được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô
nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), rất độc hại đối với con người [15].
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng lượng dòng
chảy nước mặt hàng năm lên đến 830-840 tỷ m3. Tuy nhiên, Việt Nam không phải là
quốc gia giàu về nước. Tài nguyên nước của nước ta phụ thuộc nhiều vào các nước
có chung nguồn nước phía thượng lưu, với gần 2/3 tổng lượng nước mặt hàng năm
là từ ngoài biên giới chảy vào. Chất lượng nước mặt của Việt Nam đang có chiều
hướng ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó,

khỏe con người. Nhu cầu sử dụng phân bón cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
của khu vực phía Bắc chiếm 30 – 40% tổng nhu cầu của cả nước. Đồng bằng sông
Hồng là khu vực tập trung nhiều làng nghề nhất cả nước với gần 900 làng nghề
(chiếm khoảng 60% tổng số làng nghề trên cả nước). Các làng nghề với quy mô sản
xuất thủ công, lạc hậu, nhỏ lẻ, phân tán và phần lớn không có công trình xử lý nước
thải đang làm cho môi trường nước mặt ở các khu vực này bị ô nhiễm nghiêm trọng
[12].
* Nước thải y tế: Nước thải y tế chứa nhiều hóa chất độc hại với nồng độ cao
và chứa nhiều vi khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm. Đây là nguồn thải độc hại nếu
không được xử lý trước khi thải ra môi trường. Mức độ gia tăng lượng nước thải y
tế cả nước năm 2011 so với năm 2005 là 20%. Hầu hết các bệnh viện tuyến trung
ương do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý. Tuy nhiên, các bệnh viện

11


địa phương và các phòng khám, chữa bệnh tư nhân nằm rải rác thì phần lớn chưa có
hệ thống xử lý nước thải. Theo Cục Quản lý Môi trường Y tế của Bộ Y tế: năm 2011
cả nước có 13.640 cơ sở y tế, khám chữa bệnh. Mỗi ngày các đơn vị này thải ra
120.000 m3 nước thải y tế. Trong khi đó, chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có
hệ thống xử lý nước thải này.
Ngày nay, các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đều
gắn với các lưu vực sông (LVS) lớn như hệ thống sông Hồng - Thái Bình, hệ thống
sông Đồng Nai, Mê Công... và các cửa sông ven biển, từ đó đóng góp to lớn vào sự
phát triển của đất nước. Tuy nhiên, điều đó cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực cho
môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng tại các LVS. Chất lượng nước
các sông đang diễn biến phức tạp, nhiều nơi bị suy thoái, nhất là các khu vực nội
thành, nội thị, các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp (KCN), làng
nghề. Nổi cộm nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường tại 3 LVS: sông Cầu, sông
Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai [12].

mùa khô, giá trị các thông số BOD5, COD, Coliíbrm .. tại các điểm đo đều vượt
QCVN 08:2008/ BTNMT nhiều lần. Khu vực đầu nguồn sông Nhuệ, nước sông còn
tương đối tốt nhưng sau hợp lưu với sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nước thải chính
của các quận nội thành Hà Nội), nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm trầm trọng (đặc biệt
tại điểm Cầu Tó trở đi). Mặc dù đã được pha loãng từ đoạn hợp lưu với sông Đáy
trở về hạ lưu và áp dụng giải pháp điều tiết đưa nước sông Tô Lịch qua hệ thống hố
điều hòa Yên Sở bơm ra sông Hồng vào mùa kiệt, nước sông Nhuệ vẫn là nguyên
nhân chính gây ô nhiễm cục bộ cho LVS Nhuệ -sông Đáy, nguồn cấp nước sinh hoạt
và sản xuất cho thành phố Phủ Lý và một số địa phương phía hạ nguồn [12].
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai bao gồm liên tỉnh/thành phố, trong đó 7
tỉnh/thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Theo thống kê sơ bộ,
trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có đến 103 KCN do Chính phủ ra quyết định
thành lập (chưa kể các KCN/CCN do địa phương thành lập) với diện tích quy hoạch
trên 33.600 ha, thải ra lượng nước thải từ sản xuất công nghiệp khoảng 1,8 triệu
m3/ngày đêm. Tuy nhiên, hiện mới có khoảng 1/3 các KCN/khu chế xuất đã và đang
xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; một số KCN có trạm xử lý nước thải
tập trung nhưng vận hành chưa đúng quy định; tỷ lệ đấu nối nước thải các nhà máy
vào hệ thống xử lý nước thải tập trung còn thấp; nguồn phát sinh nước thải chủ yếu

13


từ các ngành: chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, chế biến mủ cao su, xi mạ... Tại
nhiều vị trí các giá trị N-NH4+ BOD5) COD vượt ngưỡng QCVN 08 mức BI nhiều
lần Khu vực cửa sông đã bị ô nhiễm hữu cơ, giá trị các thông sỗ đều vượt QCVN
08:2008/BTNMT mức AI, một số nơi còn vượt mức BI (cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, Cái
Mép). Ngoài ra, các tác động tiêu cực từ thủy điện, khai thác khoáng sản phía
thượng nguồn, xâm nhập mặn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã và đang là
những mối đe dọa đến môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai [12].
Theo kết quả khảo sát, hiện nay, hệ thống sông, hồ trên địa bàn TP Hà Nội

các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm
rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên
nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc
đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu
hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước [3].
Chất lượng các nguồn nước mặt đang suy giảm rõ rệt. Nhiều sông, hồ, kênh,
rạch ở các thành phố lớn, các khu dân cư tập trung đang dần biến thành nơi chứa
các chất thải đô thị, chất thải công nghiệp chưa qua xử lý. Không chỉ riêng ở khu
vực đô thị mà ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt từ
nguồn nước thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và sản xuất của các
làng nghề cũng đang cần sự quan tâm kịp thời. Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm
môi trường nước mặt đang là vấn đề cấp bách, không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của
các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội.
1.2. Tổng quan về phương pháp đánh giá chất lượng nước
1.2.1. Tổng quan về chỉ số môi trường
Chỉ số môi trường: là một tập hợp các tham số hay chỉ thị được tích hợp hay
nhân với trọng số. Các chỉ số ở mức độ tích hợp cao hon, nghĩa là chúng được tính
toán từ nhiều biến số hay dữ liệu để giải thích cho một hiện tượng nào đó.
1.2.2. Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)
a. Giới thiệu chung về WQI
Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index- WQI) là một chỉ số tổ hợp
được tính toán từ các thông số chất lượng nuớc xác định thông qua một công thức

15


toán học. WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua
một thang điểm.
Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm:

+ Các khía cạnh sức khỏe: Tổng Coliform, Fecal Coliform, Dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng;
+ Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, Màu sắc;
+ Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS.
Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo (tính toán chỉ số phụ)
Các thông số thường có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau.
Vì vậy để tập hợp được các thông số vào chỉ số WQI ta phải chuyển các thông số về
cùng một thang đo. Bước này sẽ tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số. Chỉ số phụ
có thể được tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn.
Bước 3: Trọng số
Trọng số được đưa ra khi ta cho rằng các thông số có tầm quan trọng khác
nhau đối với chất lượng nước. Trọng số có thể xác định bằng phương pháp Delphi,
phương pháp đánh giá tầm quan trọng dựa vào mục đích sử dụng, tầm quan trọng
của các thông số đối với đời sống thủy sinh, tính toán trọng số dựa trên các tiêu chu
ẩn hiện hành, dựa trên đặc điểm của nguồn thải vào lưu vực, bằng các phương pháp
thống kê…
Một số nghiên cứu cho rằng trọng số là không cần thiết. Mỗi lưu vực khác
nhau có các đặc điểm khác nhau và có các trọng số khác nhau. Vì vậy WQI của các
lưu vực khác nhau không thể so sánh với nhau.
Bước 4 : Tính toán chỉ số WQI cuối cùng
Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán WQI cuối cùng từ các
chỉ số phụ: trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất.
Bảng 1.1: Các phương pháp tính chỉ số WQI
TT

Phương pháp

Công thức

1

không trọng số

8

Giá trị nhỏ nhất

I = Min(q ,q , ..q )
1 2
n

9

Giá trị lớn nhất

I = Max(q ,q , ..q )
1 2
n

Một số bất cập khi tính toán ch ỉ số WQI cuối cùng :
+ Tính che khuất : Một chỉ số phụ thể hiện chất lượng nước xấu nhưng
có thể chỉ số cuối cùng lại thể hiện chất lượng tốt.
+ Tính mơ hồ : Điều này xảy ra khi chất lượng nước chấp nhận được nhưng
chỉ số WQI lại thể hiện ngược lại.
+ Tính không mềm dẻo: Khi một thông số có thể bổ sung vào việc đánh giá
chất lượng nước nhưng lại không được tính vào WQI do phương pháp đã được cố
định.
1.2.3. Kinh nghiệm xây dựng WQI của một số quốc gia trên Thế giới
Mô hình WQI được đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 1970 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang. Từ những năm 70 đến nay, trên
thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu phát triển và áp dụng mô hình WQI
cho quốc gia hay địa phương mình theo một trong 3 hướng:

b. Tính toán chỉ số phụ: phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỉ lệ
Từ điểm số trung bình do các chuyên gia cho ứng với từng khoảng

19


nồng độ thực tế. Đối với mỗi thông số chất lượng nước tác giả đã xây d ựng một
đồ thị và hàm số tương quan giữa nồng độ và chỉ số phụ. Dựa vào phương pháp
thử với sự trợ giúp của phần mềm xử lý bảng tính Excel, các hàm chất lượng
nước được biểu thị bằng các phương tr ình sau:
- Hàm chất lượng nước với thông số: BOD5 y = - 0,0006 x2 - 0,1491x +
9,8255.
- Hàm chất lượng nước với thông số DO: y = 0,0047x2 + 1,20276x - 0,0058
- Hàm chất lượng nước với thông số SS: y = 0,0003x2 - 0,1304x + 11,459
- Hàm chất lượng nước với thông số pH: y = 0,0862x4 - 2,4623x3 +
24,756x2 – 102,23x + 150,23
- Hàm chất lượng nước với thông số tổng N: y = - 0,04x2 – 0,1752x + 9,0244
- Hàm chất lượng nước với thông số coliform: y = 179.39x - 0,4067
c. Trọng số
Theo phương pháp Delphi, các mẫu phỏng vấn được biên soạn và gửi đến
40 chuyên gia chất lượng nước ở các trường Đại Học, các Viện Nghiên cứu, các
trung tâm Môi trường để lấy ý kiến. Các mẫu phỏng vấn được gửi đi hai đợt: đợt
một là các câu hỏi để xác định các thông s ố chất lượng nước quan trọng, đợt hai
là các câu hỏi để xác định trọng số của các thông số chất lượng nước để xây dựng
chỉ số phụ và hàm chất lượng nước.
Kết quả có 6 thông số chất lượng nước được lựa chọn là những thông số
chất

lượng nước quan trọng với các trọng số được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.2: Trọng số của các thông số chất lượng nước

Tổng N

0,63

0,15

Tổng coliform

0,56

0,13

20


d. Tính toán ch ỉ số cuối cùng
Chỉ số WQI cuối cùng được tính theo công th ức trung bình cộng có trọng
số:
Trong đó :
I: Chỉ số cuối cùng
qi: chỉ số phụ cho các thông s ố
wi Trọng số
Để đánh giá chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai, dựa vào một số kết
quả nghiên cứu của nhiều tác giả và kinh nghiệm thực tế đề xuất phân loại
nguồn nước mặt theo chỉ số WQI như sau:
Bảng 1.3: Phân loại chất lượng nước theo WQI
Loại nguồn
nước

Ký hiệu màu


Vàng

3

0,08

3

Độ đục

0,08

4

pH

0,12

5

Oxy hòa tan (DO)

0,17

6

Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD5)

0,1

7

Ion Nitrat (NO3-)

(chẳng hạn, cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp…) được tính toán
theo WQI tổng quát (hay WQI cho đa mục đích sử dụng nước) được tính theo
công thức:

Trong đó Fi là:
- Giá trị "hàm nhạy" của thông số i, nhận giá trị trong khoảng 0,01 ÷ 1
- Fi được xác định từ "hàm nhạy" đối với thông số i ;
- n: số thông số CLN lựa chọn (n = 3 ÷ 5, tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng
nước).

Trong đó, WQI là WQI của các mục đích sử dụng nước khác nhau, k là s
i
ố mục đích sử dụng nước. Có thể đưa vào tử số của công thức (4) các hệ số thể
hiện tầm quan trọng khác nhau của mỗi mục đích sử dụng nước.
* Xác định các mục đích sử dụng nước sông kênh rạch ở TP. Hồ Chí Minh.
Các mục đích sử dụng nước của các kênh rạch ở TP.Hồ Chí Minh bao gồm:
+ Tiếp xúc trực tiếp (tắm, bơi lội)
+ Cấp nước sinh hoạt (điểm thu nước thô cho các nhà máy nư ớc.

23


+ Nông nghiệp (hay nước thủy lợi)
+ Công nghiệp (nước cấp cho các ngành công nghi ệp nói chung: làm mát, v
ệ sinh công nghiệp.
+ Thủy sản (nuôi tôm, cá...).
* Xác định các thông s ố CLN lựa chọn cho các mục đích sử dụng nước
Các tiêu chí để xác định các thông s ố CLN lựa chọn cho mỗi mục đích sử
dụng nước bao gồm:
+ Thông số phải có tầm quan trọng lớn,

71 ÷ 90

Tốt (ô nhiễm nhẹ)

III

35 ÷ 64

51 ÷ 70

Trung bình (ô nhiễm trung bình)

IV

11 ÷ 34

26 ÷ 50

Xấu (ô nhiễm nặng)

V

0 ÷ 10

0 ÷ 25

Rất xấu (ô nhiễm rất nặng)

24


* Tính toán WQI thông số

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status