xây dựng chỉ số chất lượng nước nhằm đánh giá hiện trạng môi trường nước sông đáy trên địa bàn tỉnh hà nam và đề xuất một số giải pháp bảo vệ chất lượng nước mặt sông đáy - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, dưới tác động của các yếu tố
tự nhiên và hoạt động của con người, tình hình diễn biến môi trường đang nảy
sinh hàng loạt các vấn đề ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Nhiều vấn
đề về môi trường cấp bách đã và đang diễn ra rất phức tạp ở qui mô địa
phương và trên toàn lưu vực cần được xem xét xử lý, khắc phục và phòng
ngừa. Trước những yêu cầu phát triển bền vững kinh tế – xã hội cho các tỉnh
và vùng lãnh thổ, vấn đề nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế diễn
biến môi trường là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn.
Chất lượng môi trường nước tại các lưu vực sông trên địa bàn tỉnh Hà Nam
đang bị suy giảm nhanh chóng, chủ yếu bắt nguồn từ sông Nhuệ - Đáy, là con
sông có chức năng tiêu thoát nước cho khu vực Hà Nội, các tỉnh lưu vực sông
và phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp. Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn
đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, dài 237 km, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và đổ ra biển tại cửa Đáy. Nhưng sau khi
xây dựng xong đập Đáy nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy
qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông Đáy coi
như đoạn sông chết. Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác cản trở
việc thoát lũ mùa mưa. Lượng nước để nuôi sông Đáy chủ yếu là do các sông
nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào Nam Định, sông
Nhuệ. Sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Hiện nay sông Đáy đã bị xâm nhập mặn ở vùng hạ lưu, phần thượng và
trung lưu cũng đã bị ô nhiễm do nguồn thải ở vùng dân cư tập trung, khu công
nghiệp của các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hà Nội, đặc biệt là
úng, lụt ở vùng trũng Nam Định, Ninh Bình gây ô nhiễm môi trường nói
chung và môi trường nước nói riêng.

1


Chỉ số môi trường là cách sử dụng số liệu tổng hợp hơn so với đánh giá

1.1. Tổng quan về môi trường nước mặt
Môi trường: Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm
2005: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.[1]
Nước mặt: Theo Điều 2, Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13:
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.[2]
Nước mặt bao gồm các nguồn nước trong các hồ chứa, sông suối. Do
kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí
nên các đặc trưng của nước mặt là:
- Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy
- Chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng trường hợp nước trong các ao hồ, đầm
lầy chứa chất rắn lơ lửng và chủ yếu ở dạng keo)
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao.
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo.
- Chứa nhiều vi sinh vật.
Vai trò của nguồn nước mặt:
- Cung cấp nước cho các hoạt động của con người.
- Cung cấp nước cho các nhà máy xử lý nước.
- Nguồn năng lượng thủy điện dồi dào.
- Tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản.
- Môi trường sống của các vi sinh vật sống dưới nước.
- Góp phần điều hòa nhiệt độ.
- Giao thông đường thủy trên sông

3


1.2. Tổng quan về ô nhiễm nước mặt
1.2.1. Khái niệm

Phát triển
dịch vụ

Hình 1.1: Các nguyên nhân gây ô nhiễm nước

4


1.2.2.1. Ô nhiễm tự nhiên
Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão... hoặc do các sản phẩm hoạt động
sống của sinh vật, kể cả các xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi,
chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng
đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm
hòa vào dòng lớn.
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ
hoặc do các tác nhân độc hại của các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận
các công trường kỹ thuật bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hóa chất.
Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt...) có thể
rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên nhân
chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu.
1.2.2.2. Ô nhiễm nhân tạo
 Từ sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện,
khách sạn, cơ quan, trường học,... chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt,
vệ sinh của con người.
Thành phần cơ bản của chất thải sinh hoạt là chất hữu cơ dễ bị phân hủy
sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ),
chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng
như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là
khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng

mg/l
N – NO3
mg/l
Chất tẩy rửa
mg/l
P
mg/l

Tỉ lệ thay đổi
7,5
1000 – 2000
150 – 500
100 – 400
300 – 1000

Phần lắng gạn được
10%
50 – 60%
20 – 30%
20 – 30%

100 – 300
30 – 100
20 – 80

không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp
khác; thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dưa, vườn cây, rau chứa các
chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt.
1.2.3. Các dạng ô nhiễm nước
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô
nhiễm, như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt. Hoặc dựa
vào môi trường nước, như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương.
Hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.
1.2.3.1. Ô nhiễm vật lý
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ
lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu
cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của các vi khuẩn và các vi sinh vật
khác lại càng làm tăng tốc độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của
ánh sáng.
Nhiều nước thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu
hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hóa học như
muối sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfua, phenol... làm cho nước có vị không
bình thường. Các chất amoniac, sulfua, xyanua, dầu làm nước có mùi lạ.
Thanh tảo làm cho nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có
mùi tanh của cá. [16]

7


Bảng 1.2: Các đặc điểm lý học, hóa học và sinh học của nước thải
Đặc điểm
Màu
Mùi
Chất rắn

xói mòn đất
Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp
Hóa học
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải nông nghiệp
Nước thải công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Do sự phân hủy của các chất hữu cơ trong
nước thải, trong tự nhiên
Chất thải sinh hoạt, nước cấp, nước ngầm
Nước cấp, nước ngầm
Nước thải công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công
nghiệp, rửa trôi
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công
nghiệp, nước cấp
Sự phân hủy của nước thải sinh hoạt
Sự phân hủy của nước thải sinh hoạt
Sinh học
Các dạng chảy hở và hệ thống xử lý
Các dạng chảy hở và hệ thống xử lý
Nước thải sinh hoạt, hệ thống xử lý
Nước thải sinh hoạt, hệ thống xử lý

8


Hydrocarbons là các hợp chất của nguyên tố cacbon và hydrogen.
Chúng ít tan trong nước nhưng tan nhiều trong dầu và các dung môi hữu cơ.
Chúng là một trong những nguồn ô nhiễm của nền văn minh hiện đại. Vấn đề
hết sức nghiêm trọng ở những vùng nước lợ và thềm lục địa có nhiều cá.
 Chất tẩy rửa: Bột giặt tổng hợp và xà bông
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có
cực (polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic
và non-ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS
(tetrazopylène bebzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.
 Nông dược (Pesticides)
Người ta phân biệt
- Thuốc sát trùng (insecticides)
- Thuốc diệt nấm (fongicides)
- Thuốc diệt cỏ (herbicides)
- Thuốc diệt chuột (diệt gậm nhấm = rodenticides)
- Thuốc diệt tuyến trùng (nematocides)
Các nông dược tạo nên một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực nước.
Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông
hoặc do việc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước
mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bờ biển.
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp nhưng
hậu quả cho môi trường và sinh thái cũng rất đáng kể.
1.2.4. Hoạt động của con người và vấn đề ô nhiễm nước
Trong hoạt động sống của mình, hàng ngày con người đã thải vào môi
trường xung quanh một khối lượng nước bẩn tương đương với khối lượng
nước sạch đã được cung cấp. Nước bẩn thải ra từ các khu dân cư, đô thị,
thành phố, các nhà máy xí nghiệp v.v. có chứa một khối lượng lớn chất bẩn

10


2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho
phép.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn
nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước
tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Ở thành phố
Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện
gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải
khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu;
nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm
lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu...
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m 3/ngày không
qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ
thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,
mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần
lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một
lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những
nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các
kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như
Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng
không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt
quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD;
Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.

12




trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là
loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời
sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
1.2.4.2. Tình trạng ô nhiễm nước ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy
Theo các kết quả nghiên cứu và quan trắc của nhiều cơ quan, lưu vực
sông Đáy hiện nay đang có nhiều điểm nóng mà chất lượng môi trường nước
ở đó đã tới mức báo động. Nhiều nơi trên sông Nhuệ và sông Châu có hiện
tượng cá chết do nước bị ô nhiễm (thôn Thường Ấm, xã Lam Hạ, thành phố
Phủ Lý, Hà Nam); thành phố Phủ Lý nhiều lần đã phải ngừng cung cấp nước
sinh hoạt cho nhân dân do mức độ ô nhiễm nước sông Nhuệ, sông Đáy quá
nặng... [9]
Sông Nhuệ đang bị ô nhiễm nặng do những con sông tiêu thoát, nước
thải sinh hoạt và công nghiệp chưa được xử lý và nước tiêu nông nghiệp. Môi
trường nước bị ô nhiễm do sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề, sản xuất nông nghiệp, các khu khai khoáng, các khu đô thị và tập trung
dân cư cao trong lưu vực.
Sông Đáy chảy qua địa phận huyện Mỹ Đức, Hà Nội đến ngã ba sông
cầu Hồng Phú, thành phố Phủ Lý thì dòng sông Nhuệ góp nước từ phía tả
ngạn. Đoạn hạ lưu nơi hợp dòng với sông Nhuệ, sông Đáy bị ô nhiễm ở mức
độ nghiêm trọng bởi nước sông Nhuệ có chứa các chất ô nhiễm hữu cơ, dinh
dưỡng và lượng ôxy rất thấp.
Sông Châu (sông Phủ Lý) xưa kia cũng là phân lưu của sông Hồng
chảy vào sông Đáy tại Phủ Lý, nhưng cửa sông đã bị bồi lấp, hiện sông Châu
chỉ còn là con sông tiêu nước cho vùng 6 trạm bơm lớn của tỉnh Hà Nam và
Nam Định. Qua kết quả khảo sát thực địa cho thấy chất lượng nước của sông
Châu chỉ bị ô nhiễm do hàm lượng cặn, chất hữu cơ không đạt tiêu chuẩn loại
A, hàm lượng kim loại nặng trong cả 2 mùa thấp, nằm trong giới hạn cho


Đặc tính hóa hữu cơ của nước thể hiện trong quá trình sử dụng oxy hòa
tan trong nước của các loại vi khuẩn, vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ.

15


Nước tự nhiên tinh khiết hoàn toàn không chứa những chất hữu cơ nào
cả. Nước tự nhiên đã nhiễm bẩn thì thành phần các chất hữu cơ tăng lên các
chất này luôn bị tác dụng phân hủy của các vi sinh vật. Nếu lượng chất hữu cơ
càng nhiều thì lượng oxy cần thiết cho quá trình phân hủy càng lớn, do đó
lượng oxy hòa tan sẽ giảm xuống, ảnh hưởng đến quá trình sống của các sinh
vật trong nước.
Phản ánh đặc tính của quá trình trên, có thể dùng một số thông số sau:
+ Nhu cầu oxy sinh học BOD (mg/l)
+ Nhu cầu oxy hóa học COD (mg/l)
+ Nhu cầu oxy tổng cộng TOD (mg/l)
Các thông số trên được xác định qua phân tích trong phòng thí nghiệm
mẫu nước thực tế. Trong các thông số, BOD là thông số quan trọng nhất,
phản ánh mức độ nhiễm bẩn nước rõ rệt nhất.
Đặc tính vô cơ của nước bao gồm độ mặn, độ cứng, độ pH, độ acid, độ
kiềm, lượng chứa các ion Mangan (Mn), Clo (Cl), đồng (Cu), kẽm (Zn), các
hợp chất chứa Nito hữu cơ, amoniac (NH3, NO2, NO3) và phosphat (PO4).
1.3.3. Thông số sinh học
Thông số sinh học của chất lượng nước gồm loại và mật độ các vi khuẩn
gây bệnh, các vi sinh vật trong mẫu nước phân tích. Đối với nước cung cấp
cho sinh hoạt yêu cầu chất lượng cao, trong đó đặc biệt chú ý đến thông số
này.
1.4. Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)
Ngày 01 tháng 7 năm 2011, Tổng Cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã ban hành quyết định số 879/QĐ-TCMT về việc “Ban hành sổ

17


- Thu gọn kích thước, đơn giản hóa thông tin để dễ dàng quản lý, sử
dụng và tạo ra tính hiệu quả của thông tin.
- Thông tin cho cộng đồng về chất lượng môi trường, nâng cao nhận thức
bảo vệ môi trường cho cộng đồng.[15]
1.4.2. Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)
1.4.2.1. Giới thiệu chung về WQI
Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index- WQI) là một chỉ số tổ hợp
được tính toán từ các thông số chất lượng nước xác định thông qua một công
thức toán học. WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được
biểu diễn qua một thang điểm.
Việc sử dụng sinh vật trong nước làm chỉ thị cho mức độ sạch ở Đức từ
năm 1850 được coi là nghiên cứu đầu tiên về WQI.
Chỉ số Horton (1965) là chỉ số WQI đầu tiên được xây dựng trên thang
số.
Hiện nay có rất nhiều quốc gia/địa phương xây dựng và áp dụng chỉ số
WQI. Thông qua một mô hình tính toán, từ các thông số khác nhau ta thu
được một chỉ số duy nhất. Sau đó chất lượng nước có thể được so sánh với
nhau thông qua chỉ số đó. Đây là phương pháp đơn giản so với việc phân tích
một loạt các thông số.
Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm:
- Phục vụ quá trình ra quyết định: WQI có thể được sử dụng làm cơ sở
cho việc ra các quyết định phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên.
- Phân vùng chất lượng nước.
- Thực thi tiêu chuẩn: WQI có thể đánh giá được mức độ đáp ứng/không
đáp ứng của chất lượng nước đối với tiêu chuẩn hiện hành.
- Phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian.
- Công bố thông tin cho cộng đồng.

lượng thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng


Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, Màu sắc



Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS
Hình dưới đây chỉ ra số lượng các thông số được sử dụng trong các mô

hình WQI khác nhau:

19


Hình 1.2: Số lượng các biến được sử dụng trong các báo cáo WQI
(Couillard and Lefebvre (1985) and Wepener et al (2006))
(nguồn: Development of Water Quality Indices for Surface Water Quality
Evaluation in Vietnam, Thesis for Ph.D.’s Degree - Pham Thi Minh Hanh)
Tần suất sử dụng các thông số được chỉ ra trong hình dưới đây:

Hình 1.3: Tần suất sử dụng các thông số trong các mô hình WQI

20


(nguồn: Development of Water Quality Indices for Surface Water Quality
Evaluation in Vietnam, Thesis for Ph.D.’s Degree - Pham Thi Minh Hanh)
Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo (tính toán
chỉ số phụ)

khác nhau có các đặc điểm khác nhau và có các trọng số khác nhau, vì vậy
WQI của các lưu vực khác nhau không thể so sánh với nhau.
Bước 4 : Tính toán chỉ số WQI cuối cùng
Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán WQI cuối cùng từ
các chỉ số phụ: trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất.

Bảng 1.3: Các phương pháp tính toán WQI cuối cùng
STT

1

2
3

4

5

Phương pháp

Công thức

Nghiên cứu sử dụng
Prati et al., 1971;

Trung bình cộng

Sargaonkar and

không trọng số

dạng Solway

22


6

Tyson and House, 1989;

Tổng có trọng số

Gray, 1996; Bordalo,

dạng Solway

2006

Trung bình bình
7

phương điều hòa

8

không trọng số
Giá trị nhỏ nhất

Dojlido et al., 1994;
Cude, 2001


qi: Chỉ số phụ

23

−k


k là hằng số và được tính như sau: k = 1 / log 2 ( n − 1)
Liou et al. (2004) cũng đề xuất dùng một công thức kết hợp cả trung
bình cộng và trung bình nhân.

 3
  1
  2

I = CtemC pH Ctox  ∑ qi wi  ×  ∑ q j w j  ×  ∑ qk 
  j =1
  k =1 
 i =1

1/ 3

Trong đó :
Ctem. CpH, Ctox : Chỉ số phụ tương đương ứng với nhiệt độ, pH và các
chất độc hại
qi : Chỉ số phụ của nhóm các thông số DO, BOD5, N-NH3
qj : Chỉ số phụ ứng với nhóm thông số độ đục, TSS
qk : Chỉ số phụ của nhóm vi sinh vật bao gồm Fecal coliform
1.4.3. Kinh nghiệm xây dựng WQI của một số quốc gia trên thế giới
Có rất nhiều quốc gia đã đưa áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có

đầu và chỉ số WQI được sử dụng hiện tại) đều sử dụng phương pháp tiếp cận
Delphi.
Việc lựa chọn biến số sử dụng phương pháp DELPHI và tập hợp lại bằng
phương pháp chuyên gia. Chuyển đổi các biến số bằng cách logarit hóa để
tính các chỉ số phụ. Trong quá trình xây dựng chỉ số WQI ban đầu, một nhóm
các chuyên gia đã được tập hợp và sử dụng phương pháp Delphi để xác định
các biến số và trọng số của mỗi biến. Việc loại bỏ các tỉ lệ bằng phương pháp
Redudancy and impairment categories của 6 thông số (DO, BOD, pH, tổng
rắn, amoni+nitrat, fecak coliform). Các thông số được phân loại thành các
nhóm nhân tố khác nhau: tiêu thụ oxy, phú dưỡng, thông số vật lý, các chất
hòa tan và yếu tố ảnh hưởng đến sức khẻ
Sự tiêu thụ Oxy. Với nhiều biến thì sự thay đổi nhỏ trong một biến
không thể phản ánh rõ nét trong chỉ số WQI cuối cùng.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status