Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Với sự phát triển trong những năm gần đây của nền kinh tế quốc dân nhiều
nguồn vốn khác nhau đã và đang được huy động đầu tư cho tất cả các ngành: công
nghiệp, nông nghiệp, XDCB, GTVT..., bộ mặt của đất nước đang thay đổi từng
ngày, từng giờ bởi việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng diễn ra nhanh chóng. Một trong
các ngành phát triển nhanh và mạnh là ngành xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản (XDCB) là một trong những nghành sản xuất vật chất của
nền kinh tế quốc dân, chiếm vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Lượng vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm hơn 30% tổng số vốn đầu tư
của cả nước đã thực sự tạo ra một động lực cho các doanh nghiệp hoạt động trong
nghành công nghiệp xây dựng phát triển. Vấn đề đặt ra là làm sao để quản lý vốn
có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất
xây lắp phải trải qua nhiều khâu: thiết kế, lập dự toán, đấu thầu, thi công, nghiệm
thu... với thời gian kéo dài. Chính vì thế, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm vốn đã là một phần hành cơ bản của công tác hạch toán kế toán lại
càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xây lắp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay, không chỉ có sự cạnh
tranh giữa hàng nội và hàng ngoại mà còn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh
nghiệp sản xuất trong nước. Do đó, điều kiện tiên quyết cho một doanh nghiệp tồn
tại chính là sự ứng xử giá linh hoạt ,biết khai thác tận dụng khả năng của mình
nhằm giảm chi phí tới mức thấp nhất để thu được lợi nhuận tối đa. Muốn vậy, chỉ
có hạch toán chi phí và tính giá thành đầy đủ, chính xác mới giúp cho doanh
nghiệp phân tích, đánh giá được kết quả kinh doanh, hoàn thiện bộ máy tổ chức
quản lý, tổ chức sản xuất để không ngừng đi lên.
Chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các đơn vị sản
xuất công nghiệp nói chung và sản xuất hàng tiêu dùng nói riêng trở thành đơn vị
hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy,
kế toán không còn là hình thức ghi chép bình thường mà nó còn là một công cụ
còn bao gồm một số khoản thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra (ví dụ: các
khoản trích BHXH, BHYT, KFCĐ, các loại thuế không được hoàn trả như thuế
giá trị gia tăng không được khấu trừ, thuế tài nguyên, ...).
I.1.2- Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều khoản chi có nội dung công dụng và mục
đích sử dụng không như nhau. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý nói chung
và kế toán chi phí sản xuất nói riêng, người ta thường phân loại chi phí sản xuất
theo những tiêu thức thích hợp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, công dụng kinh tế.
Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế ,
không kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục đích gì trong quá trình sản
xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm các yếu tố chi phí sau đây:
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí nguyên vật liệu như: xi măng, sắt, thép, gạch, sỏi, đá...
- Chi phí công cụ, dụng cụ: cuốc, xẻng ...
- Chi phí nhiên liệu động lực: xăng, dầu, mỡ ...
- Chi phí nhân công: tiền lương của công nhân trực tiếp, lao động thuê ngoài.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: các khoản hao mòn của tất cả tài sản cố
định trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại ...
- Chi phí khác bằng tiền.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế có tác dụng quan
trọng đối với việc quản lý chi phí trong lĩnh vực sản xuất, cho phép hiểu rõ cơ cấu,
tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự
toán chi phí sản xuất, làm cơ sở cho việc dự trù hay xây dựng kế hoạch cung ứng
vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động.
*Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ và khả năng qui nạp chi phí vào
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ các khoản chi phí
nguyên vật liệu mà đơn vị xây lắp chi ra để cấu tạo nên thực thể công trình như vật
liệu chính, cấu kiện bê tông...
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm toàn bộ các khoản thù lao phải trả
cho người lao động trực tiếp tiến hành xây dựng, lắp đặt các công trình, hạng mục
công trình, tháo ghép cốp pha giàn giáo ...
- Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm toàn bộ các khoản chi phí mà đơn
vị xây lắp bỏ ra có liên quan tới việc sử dụng máy thi công phục vụ cho việc xây
dựng công trình, hạng mục công trình như tiền khấu hao máy thi công, tiền lương
công nhân điều khiển máy, chi phí về nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung: là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong
phạm vi đội xây lắp (trừ ba loại chi phí kể trên ), bao gồm tiền lương và các khoản
trích theo lương của nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương của công
nhân trực tiếp sản xuất và công nhân lái máy, chi phí hội họp, tiếp khách, điện
thoại, điện nước và các khoản chi phí khác bằng tiền.
Chuyên đề tốt nghiệp
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng
phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí cho kỳ sau.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phương pháp lập dự toán
trong doanh nghiệp xây lắp là dự toán được lập cho từng đối tượng xây dựng theo
các khoản mục giá thành, nên phương pháp phân loại chi phí sản xuất theo khoản
mục là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.2. Giá thành và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
* Căn cứ vào mức độ hoàn chỉnh và khả năng phát huy tác dụng của từng sản
phẩm xây lắp, có thể chia giá thành xây lắp gồm hai loại:
- Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: là giá thành hạng mục công trình đã thi
công đến giai đoạn cuối cùng, phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế được duyệt, được
kiểm nhận bàn giao và thanh toán cho đơn vị sử dụng.
- Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành theo giai đoạn kỹ thuật qui ước:
là giá thành có khối lượng công tác thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng qui định.
+ Phải định lượng (đo, đếm... ) được và bên chủ đầu tư nghiệm thu thanh
toán cho khối lượng công việc hoàn thành này.
+ Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
*Dựa vào các khoản mục chi phí trong giá trị dự toán và giá trị quyết toán
công trình hình thành giá thành dự toán và giá thành quyết toán.
Giá trị dự toán xây lắp: giá trị dự toán hạng mục công trình là chi phí cần
thiết để hoàn thành hạng mục công trình theo khối lượng công tác đề ra trong bản
vẽ thiết kế thi công của hạng mục công trình.
Giá trị dự toán bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung thuế và lãi.
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí trực tiếp gồm:
+ Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ như gạch, đá, xi
măng, cát, sỏi, sơn, vôi màu..., chi phí công cụ, dụng cụ..., (không của máy thi công ).
+ Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí tiền lương công nhân sản
xuất, chi phí BHXH, BHYT, KFCĐ. Chi phí này trong nghành xây dựng cơ bản
được tính thêm phụ cấp không ổn định sản xuất, phụ cấp lưu động sản xuất.
+ Chi phí máy thi công: bao gồm toàn bộ chi phí tiền lương công nhân vận
hành máy, chi phí nhiên liệu, năng lượng, chi phí sữa chữa khấu hao máy thi công.
Chi phí chung: được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí nhân công cho từng
- Giá thành sản phẩm xây lắp theo đơn vị thời gian: là giá thành của toàn
bộ các công trình, hạng mục công trình mà doanh nghiệp đã tổ chức nghiệm thu,
bàn giao cho bên chủ đầu tư trong một thời kỳ nhất định, có thể là quí, năm.
1.3. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Hoạt động sản xuất của con người là để tạo ra sản phẩm vật chất- một yếu tố
khách quan để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khi tiến hành các hoạt
động sản xuất, con người phải quan tâm tới hiệu quả của hoạt động, mà hiệu quả
của hoạt động là sự so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả mang lại. Chính vì vậy,
trong quá trình sản xuất nhất thiết phải quan tâm đến việc quản lý chi phí.
Trong quản lý người ta sư dụng nhiều công cụ khác nhau, nhưng kế toán luôn
được coi là công cụ quản lý có hiệu quả nhất. Tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi cấu thành trong giá
thành sản phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm. Đặc
biệt, trong điều kiện hiên nay, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là vấn đề
trọng tâm mà các doanh nghiệp quan tâm, nó quyết định sự thắng thế trong cạnh
tranh là tăng chất lượng công trình và hạ giá thành sản phẩm.
Để đạt được mục tiêu hàng đầu là thu lợi nhuận cao nhất, các doanh nghiệp
phải tăng cường công tác quản lý kinh tế mà trước hết là quản lý chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm. Trong đó, trọng tâm là công tác hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm.
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp trong tổ chức kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý trong các doanh nghiệp, Bộ tài chính
đã chính thức ban hành chế độ kế toán theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày
20/3/2006 . Chế độ kế toán trong doanh nghiệp xây lắp một mặt tôn trọng các qui
định hiện hành của nhà nước về tài chính- kế toán, đảm bảo thống nhất về kết cấu
chính xác.
- Phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí và giá thành xây lắp để có quyết
định trước mắt và lâu dài phù hợp.
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản, sổ và các báo cáo kế toán nhằm đảm bảo
với phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đã lựa chọn để cung cấp thông tin cho
việc điều hành quản lý hoạt động xây dựng cơ bản.
Do vậy, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ngày
càng có vai trò quan trọng, ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp.
2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Chi phí biểu hiện mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả
của quá trình sản xuất. Như vậy, về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm xây lắp là hai khái niệm hoàn toàn giống nhau. Chúng đều là các hao phí về
lao động và các chi tiêu khác của doanh nghiệp xây lắp. Nhưng giữa chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau trên các phương diện như sau:
- Nói đến chi phí sản xuất xây lắp là xét đến các hao phí trong một thời kỳ,
còn nói đến giá thành sản phẩm xây lắp là xem xét, đề cập đến mối quan hệ của
chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp hoàn thành.
-Về mặt lượng, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau
khi có các sản phẩm dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ.
Tập hợp chi phí sản xuất xây lắp là cơ sở để tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Nếu chúng ta xác định công việc tính giá thành là chủ yếu thì tập hợp chi phí sản
xuất có tác dụng tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Ngược lại, dựa vào phân
Chuyên đề tốt nghiệp
tích giá thành sản phẩm chúng ta xem xét được tình hình tiết kiệm hay lãng phí chi
phí sản xuất trong kỳ đó.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ đảm
cường trách nhiệm vật chất đối với các bộ phận, đồng thời, cung cấp số liệu cần thiết cho
việc tính toán các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
3I.1.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hoặc một hệ
thống các phương pháp được tập hợp để sử dụng và phân loại chi phí sản xuất
trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.
Với các doanh nghiệp xây lắp có các phương pháp hạch toán chi phí sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng: chi phí sản xuất phát
sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào thì được tập hợp cho đơn đặt hàng đó.
-Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn vị thi công ( công
trường, đội thi công ); các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị
thi công, trong từng đơn vị đó lại được tập hợp theo mỗi đối tượng chịu chi phí
như hạng mục công trình, nhóm hạng mục công trình.
3.2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
3.2.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ
doanh nghiệp sản xuất, chế tạo và thực hiện cần tính được tổng giá thành và giá
thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong công tác tính
giá thành sản phẩm. Trong nghành xây dựng cơ bản, do đặc điểm sản xuất mang
tính đơn chiếc, mỗi sản phẩm đều phải có dự toán và thiết kế riêng nên đối tượng
tính giá thành sản phẩm xây lắp thường là các công trình, hạng mục công trình hay
khối lượng công việc có thiết kế và dự toán riêng đã hoàn thành.
Trên cơ sở đối tương tính giá thành đã xác định được, phải căn cứ vào chu
kỳ sản xuất sản phẩm, đặc điểm sản xuất sản phẩm và tổ chức công tác kế toán mà
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp xác định kỳ tính giá thành để đảm bảo số liệu cung cấp kịp thời,
Chi phí sản xuất xây lắp gắn liền với việc sử dụng vật tư, tiền vốn, lao động
trong sản xuất xây lắp. Thực chất quản lý chi phí sản xuất xây lắp là quản lý việc
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các yếu tố sản xuất xây lắp, hạ giá thành sản
phẩm xây lắp.
Trong nghành công nghiệp xây lắp để đảm bảo cung cấp hiệu quả vốn đầu
tư xây dựng cơ bản, các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước hướng vào việc quản
lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Điều này làm cho giá trị dự toán của các công trình xây dựng rất sát với chi phí mà
doanh nghiệp xây lắp bỏ ra để hoàn thành công trình đó. Do đó, vấn đề tăng cường
quản lý chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm xây lắp ngày càng trở nên quan
trọng.
Xuất phát từ những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc hạch toán kinh tế, đó là
sự trang trải chi phí và kinh doanh có lãi. Nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp
xây lắp phải tìm mọi biện pháp để kinh doanh có lãi. Như chúng ta đã biết:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí; do đó quản lý chặt chẽ chi phí cũng là một
trong những biện pháp tăng lợi nhuận của doanh nghiệp xây lắp.
3.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Để tổ chức tốt kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đáp ứng yêu
cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp xây lắp, kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
-Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý.
-Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp hàng tồn kho (kê khai thường xuyên
hay kiểm kê định kỳ ) mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
Chuyên đề tốt nghiệp
-Tổ chức tập hợp hoặc kết chuyển, phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối
4.1.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá
trình hoạt động xây lắp, bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trong biên
chế của doanh nghiệp và cho lực lượng lao động thuê ngoài.
Chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp xây lắp không bao gồm các
khoản trích BHXH, BHYT, KFCĐ tính trên quĩ lương công nhân trực tiếp tham
gia hoạt động xây lắp, không bao gồm tiền lương công nhân điều khiển và phục vụ máy
thi công.
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp được tiến hành theo từng loại công
nhân, theo từng công việc được giao và cho từng công trình, hạng mục công trình.
Việc hạch toán căn cứ vào hợp đồng giao khoán và bảng chấm công trên các công
trường, sau đó chuyển về phòng kế toán làm căn cứ tính lương và vào các tài
khoản kế toán liên quan.
Để theo dõi chi phí nhân công trực tíêp, kế toán sử dụng TK 622 - Chi phí
nhân công trực tiếp.
4.1.3. Kế toán chi phí máy thi công:
Chi phí máy thi công là toán bộ các chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình
sử dụng máy thi công để thực hiện khối lượng công việc xây lắp bằng máy theo
phương thức thi công hỗn hợp như: chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí tiền
lương, chi phí bảo dưỡng, sữa chữa máy thi công ...
Để theo dõi khoản mục chi phí máy thi công, kế toán sử dụng TK 623 - Chi
phí sử dụng máy thi công.
TK 623 được mở 6 tài khoản cấp hai:
TK 6231 - Chi phí nhân công: dùng để phản ánh lương chính, lương phụ,
phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công. TK
Chuyên đề tốt nghiệp
Tổng tiêu thức phân bổ của
x
Tiêu thức của
từng đối tượng
tất cả các đối tượng
tượng
Để theo dõi khoản mục chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 - Chi
phí sản xuất chung.
Chuyên đề tốt nghiệp
TK627 được mở 6 tài khoản cấp 2:
-TK 6271: Chi phí nhân viên quản lý đội xây dựng công trình.
-TK 6272: Chi phí vật liệu đội xây dựng công trình.
-TK 6273: Chi phí dụng cụ dùng chung cho đội sản xuất.
-TK 6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định của đội sản xuất.
-TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
-TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác.
4.1.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Để tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sử dụng TK154- chi phí sản xuất dở
dang, nhằm phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp áp dụng phương
pháp kê khai thường xuyên.
TK154 được mở chi tiết cho từng đối tượng, có kết cấu như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất sản phẩm.
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao
Xuất dùng trực tiếp cho sx
chế tạo sp
TK 627,641,642,241
Xuất dùng cho QLPX, bán
hàng, QLDN, XDCB
TK 142.242
Xuất CCDC
loại pbổ nhiều lần
pbổ dần vào cpsx
DN trong các kỳ
TK 632,157
TK 411
Xuất bán trực tiếp, gửi bán
Nhận vốn góp liên doanh
cổ phần
TK 154
Nhập do tự chế, thuê ngoài,
gia công, chế biến
TK 222,223
Xuất tự chế, thuê ngoài,
gia công, chế biến
TK 222,223
Xuất vốn ldoanh, lkết
TK 111,112,331…
TK 133
VAT
TK 151,152,153…
Kc tồn cuối kỳ
TK 111,112,331…
Các khoản được giảm trừ
Tổng giá t toán
TK 333
TK 621,627…
Thuế nhập khẩu
Xuất dùng cho sản xuất
TK …
TK 411
Nhận vốn góp
TK 711
Tài khoản liên quan
TK 223,222…
Được biếu tặng
CP thực tế KLXL
dở dang đầu kỳ
+
CP thực tế KLXL
phát sinh trong kỳ
=
x
CP dự toán
KLXL hoàn
thành bàn giao
trong kỳ
+
CP dự toán KLXL
dở dang cuối kỳ
theo mức độ hoàn
thành
CP dự toán của
KLXL dở dang
cuối kỳ theo
mức độ hoàn
thành
toàn doanh nghiệp phân bổ cho công trình, hạng mục công trình khoán hoàn thành
bàn giao cho bên chủ đầu tư.
Chi phí sản xuất ở đơn vị thi công ( bên nhận khoán ) là toàn bộ chi phí sản
xuất liên quan đến thi công công trình, hạng mục công trình ( vật liệu, nhân công,
máy thi công, sản xuất chung ) làm cơ sở để xác định giá thành sản xuất thực tế
của công trình, hạng mục công trình nhận khoán hoàn thành.
Chuyên đề tốt nghiệp
5.3 Các hình thức giao khoán sản phẩm xây lắp:
Có nhiều hình thức giao khoán sản phẩm xây lắp nhưng các đơn vị chủ yếu
sử dụng hai hình thức sau:
- Hình thức khoán gọn công trình (khoán toàn bộ chi phí ): theo hình thức
này đơn vị giao khoán tiến hành khoán toàn bộ giá trị công trình cho bên nhận
khoán. Khoán trọn gói toàn bộ các khoản mục chi phí, khi quyết toán công trình
quyết toán trọn gói cho bên nhận khoán. Đơn vị nhận khoán sẽ tổ chức cung ứng
vật tư, thiết bị kỹ thuật, nhân công... và tiến hành thi công. Khi công trình hoàn
thành bàn giao quyết toán sẽ được thanh toán toàn bộ công trình nhận khoán. Sau
đó nộp chi đơn vị giao khoán số phần nộp ngân sách, số trích lập quĩ doanh
nghiệp.
- Hình thức khoán theo từng khoản mục chi phí: theo hình thức này đơn vị
giao khoán sẽ khoán những khoản mục chi phí khi thỏa thuận với bên nhận khoán:
Vật liệu, nhân công, sử dụng máy... Bên nhận khoán sẽ chi phí những khoản mục
đó. Bên giao khoán sẽ trách nhiệm chịu chi phí và kế toán các khoản mục chi phí
không giao khoán, đồng thời phải giám sát về kỹ thuật và chất lượng công trình.