QUẢN lý môi TRƯỜNG và GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN lý bảo vệ môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ lụa NHA xá xã mộc NAM HUYỆN DUY TIÊN - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại khoa môi trường trường ĐH
Tài nguyên và môi trường Hà Nội. Tôi đã được tiếp cận và trang bị cho bản
thân kiến thức chuyênmôn của một nhân viên quản lý môi trường. Cùng
với bài giảng của thầy cô giáo về cácvấn đề cơ bản liên quan đến lĩnh vực
môi trường.Tuy nhiên để khỏi bỡ ngỡ sau khi ratrường, nhà trường đã tạo
điều kiện cho tất cả sinh viên được tiếp cận với thực tế bênngoài nhà
trường. Từ đó kết hợp lý thuyết và thực hành trong trường, bản thân tôi
nóiriêng và tất cả sinh viên nói chung có thể hiểu sâu sắc, toàn diện, khách
quan hơn về cácvấn đề xoay quanh kiến thức quản lý môi trường và các
lĩnh vực liên quan bước đầu làm quen với môi trường làm việc thực tế.
Trong khoảng thời gian thực tập tại Công ty cổ phần môi trường đô
thị và công nghiệp 10- URENCO 10. Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sựgiúp đỡ của các thầy cô giáo, cơ quan, cán bộ của
công ty.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cán bộ của cong
ty cổ phần môi trường và đô thị 10 URENCO 10đã cung cấp số liệu và tạo
diều kiện cho thực hiện chuyên đề trong thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo Vũ Văn Doanh và các thầy cô
khoa Môi Trường, trường ĐH tài nguyên và môi trường Hà Nội đã dạy dỗ,
chỉ bảo tôi trong những năm qua. Và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi ý
kiến trong suốt quá trình thực hiện vàhoàn thành bài báo cáo này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp CĐ9QM2, bạn bè,
người thân đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên khích lệ tôi trong suốt thời gian
học tập và rèn luyện tại trường.
Do thời gian và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài báo cáo này
không thể trách khỏi sai sót. Vì vậy, rất mong nhận được sự chỉ bảo của
thầy cô để bài báo cáo của tôi hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày..... tháng….. năm 2012
1

 Đối tượng của công tác quản lý môi trường :
• Theo phạm vi quản lý có thể chia ra các loại :

-Quản lý môi trường khu vực :khu vực đô thị ,nông thôn ,..
-Quản lý môi trường theo ngành kinh tế như công nghiệp ,nông nghiệp
,năng lượng
2


-Quản lý tài nguyên :tài nguyên nước ,tài nguyên biển ,tài nguyên khí hậu ,
….


Theo tính chất của công tác quản lý môi trường có thể phân loại :
-Quản lý chất lượng môi trường như ban hành va kiểm tra các quy chuẩn
,tiêu chuẩn về chất lượng không khí ,nước mặt ,nước ngầm ,đất,khí thải ,nước
thải,chất thải rắn và chất thải nguy hại .
-Quản lý kỹ thuật môi trường :quản lý hệ thống quan trắc ,giám sát ,đánh
giá chất lượng các thành phần môi trường ,các trạm phân tích ,các phòng thí
nghiệm phân tích chất lượng môi trường …
-Quản lý kế hoạch môi trường :quản lý xây dựng và thực thi các kế
hoạch bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương ,…

 Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:

- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững
kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường.
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ

môi trường .
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng trên các nguyên
tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận là “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP)
và nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP)
- Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) đề ra 1972 cho rằng:
Những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng
chống ô nhiễm. Đồng thời nguyên tắc PPP “mở rộng” 1974 chủ trương rằng, các tác
nhân ngoài việc tuân thủ các chi phí tiêu chuẩn đối với việc gây ô nhiễm còn phải
bồi thường cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm gây ra.
- Nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP) cho rằng những
người được hưởng lợi từ việc chất lượng môi trường được cải thiện cũng phải trả
một khoản tiền.
* Các công cụ kinh tế như :
- Thuế và phí môi trường
- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm".
- Ký quỹ môi trường.
- Trợ cấp môi trường và nhãn sinh thái.
1.2.3. Công cụ kĩ thuật
Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà
nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất
ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá
môi trường, monitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất
thải.Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền
4


kinh tế phát triển như thế nào.Công cụ kĩ thuật hỗ trợ cho việc thực hiện các công
cụ pháp lý và công cụ kinh tế và đây là công cụ không thể thiếu trong QLMT.
Tuy nhiên việc áp dụng công cụ kỹ thuật thường gặp phải trở ngại do chi
phí đầu tư tốn kém và đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao.

tơ, dệt
nhuộm
, đồ da

Chế biến
nông sản,
thực
phẩm

Tái

Tái
chế
kim
loại

chế
giấ

Tái
chế
nhựa

Thủ
công
mỹ
nghệ

Vật liệu
xây

42

0

23

1

121

9

77

Miền Nam 11

21

0

5

0

93

5

42


đình (chiếm 80,1%). Trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề.

6


1.3.2

Thực trạng môi trường tại các làng nghề

Do ô nhiễm môi trường, lao động không có dụng cụ bảo hiểm và sinh hoạt
hàng ngày chung với môi trường sản xuất, tình trạng sức khoẻ của người dân làng
nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu cả nước có trên 4200 cơ sở
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng việc xử lý đạt ở mức thấp, trung
bình chỉ khoảng 26%. Thực tế này đã dẫn đến tỷ lệ người dân ở các làng nghề bị
mắc các bệnh thông thường và hiểm nghèo cao gấp 2-3 lần các làng xã thuần
nông. 51 làng xã thuộc 25 tỉnh thành được cho là “làng ung thư”, với tỷ lệ người
dân nghi ngờ mắc, chết do ung thư cao cũng là những làng nghề, hoặc làng nằm
gần khu công nghiệp, kho hóa chất, bãi rác bị ô nhiễm. Trong các làng nghề, tỷ lệ
mắc bệnh nhiều nhất liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm
phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%.
Nguyên nhân của một số bệnh tật phổ biến trong nhân dân hiện nay, theo
đánh giá của Bộ Y tế là do suy thoái môi trường không khí, nước, đất, chất thải
công nghiệp và đô thị, chất thải y tế, ô nhiễm tiếng ồn...
1.3.2.1 Hiện trạng môi trường nước
Theo kết quả xét nghiệm của Viện khoa học và công nghệ môi trường
(trường Đại học Bách khoa Hà Nội) thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô
nhiễm nước có thể được chia ra thành ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất,
ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.Ô nhiễm hữu cơ thường gặp ở
các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm. Nước thải của các làng nghề này có


100

-

6.076

2.400

764

4110

2

Ươm tơ Đông Yên- Quảng
Nam

20

7,2

632

241

517

69


14

77-139

5

Dệt đũi Nam Cao - Thái
Bình

-

8,2

372

212

375

260

6

Dệt nhuộm Thái Phương-Thái
Bình

-

6,9


dính nhiều tạp chất, nên trong quá trình công nghệ sử dụng rất nhiều nước để rửa
phế liệu.Lượng nước này ước tính khoảng 20 - 25m 3/tấn nhựa phế liệu. Thành
phần của nước thải này rất phức tạp, vì chứa nhiều loại hợp chất vô cơ, hữu cơ
bám dính trên nhựa trong quá trình sử dụng, trong đó có cả các chất độc hại (từ
bình chứa thuốc trừ sâu, hoá chất,...), vi sinh vật gây bệnh. Tại các làng nghề tái
chế kim loại, lượng nước sử dụng không nhiều, chỉ dùng cho nước làm mát, vệ
sinh thiết bị, nhà xưởng và nước thải từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại nên có
8


hàm lượng các chất độc hại khá cao, đặc biệt là các kim loại nặng. Ô nhiễm nước
do kim loại cũng thường gặp tại các làng nghề chạm,mạ bạc.
1.3.2.2 Hiện trạng môi trường không khí
Đặc trưng nhất của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là mùi hôi thối do
sự phân hủy của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải từ các cống
rãnh, kênh mương. Quá trình phân giải yếm khí các chất hữu cơ sinh ra các khí độc rất
ảnh hưởng đến sức khỏe người dân làng nghề.Đặc biệt phải kể đến các làng nghề sản
xuất nước mắm, do phơi ngoài trời nên mùi hôi, tanh khắp cả làng rất khó chịu.
Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng. Ô nhiễm
chủ yếu ở các làng nghề tái chế giấy là bụi, hơi kiềm, Cl 2 do dùng nước Javen để
tẩy trắng và hơi H2S. Tại một số vị trí sản xuất, hàm lượng Cl 2 vượt tiêu chuẩn cho
phép tới ba lần, hơi H2S tại các bãi rác, cống rãnh vượt tiêu chuẩn cho phép 1 - 3
lần.Trong công nghệ tái chế nhựa, khí ô nhiễm phát sinh từ công đoạn gia nhiệt trong
quá trình tạo hạt, đùn túi làm nhựa cháy sinh khí độc như HCl, HCN, CO, HC.
. Các tác động chủ yếu đến môi trường từ hoạt động của các làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng là ô nhiễm không khí do bụi và khói lò nung. Quy trình
nung vôi, gạch ở các làng nghề chủ yếu theo phương pháp thủ công sử dụng
nhiên liệu là than. Khí thải từ các lò nung đốt than chứa bụi, các khí ô nhiễm.
Đặc biệt các lò nung thường không được thiết kế đúng quy cách, nên quá trình
cháy không hết, tạo ra các sản phẩm cháy nhiên liệu thiếu ôxy như CO,


Phước Lâm, Khánh Hòa

63,3
viên

triệu

Tân Yên, Bình Dương

967
viên

triệu

Các làng nghề Mang 310
Thít, Vĩnh Long
viên

triệu

Đồng Tân, Thanh Hóa

49.680
vôi

tấn

Kiện Khê, Hà Nam


477,7

72,93

339,16

1.405,3

177,9

42,55

176

21.467

2.717

691

2.688

6.822

871

221,7

861,8


cả các vùng lân cận..Đồng thời các chất ô nhiễm có trong môi trường nước đã
ngấm vào môi trường đất khiến cho môi trường đất bị ô nhiễm trầm trọng.
1.3.3

Một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường làng nghề

. Hiện nay, đã có nhiều giải pháp được áp dụng đồng thời nhằm giải quyết
vấn để môi trường làng nghề. Nhưng có thể phân ra thành hai hướng giải pháp cơ
bản: Giải pháp về công nghệ và Giải pháp về quản lý.
1.3.3.1

Giải pháp về công nghệ
10


Các làng nghề thường sử dụng công nghệ thủ công, lạc hậu thường gây ô
nhiễm môi trường.Vì vậy, đổi mới công nghệ là một trong những giải pháp tối ưu
nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của làng nghề.Hiện nay, các nhà khoa học
rất chú trọng vào việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn vào sản xuất làng nghề.
*) Áp dụng các mô hình sản xuất làng nghề gắn với sản xuất sạch hơn
Mô hình này chú trọng vào các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu lượng
phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết kiệm và hợp lý
các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý
chất thải phù hợp (chú trọng tới biện pháp tái chế, tái sử dụng) nhằm bảo vệ môi
trường hiệu quả.
Để thực hiện tốt hướng này, các cơ quan quản lý về khoa học công nghệ, tài
nguyên và môi trường các địa phương cần có kế hoạch trong việc hợp tác với các
cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ của Trung ương để giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể ở địa phương mình, trong đó chú trọng tới cải tiến công nghệ sản
xuất và áp dụng các công nghệ môi trường đơn giản, rẻ tiền, phù hợp với quy mô,

hoá và tính nghệ thuật cao. Giá trị sản phẩm không chỉ tính bằng giá nguyên liệu
và công lao động, mà chủ yếu được đánh giá bằng tính nghệ thuật và tính văn
hoá của sản phẩm. Điều thu hút khách du lịch sẽ không chỉ là sản phẩm của làng
nghề, mà chính là hoạt động sản xuất truyền thống ở làng nghề. Với các làng
nghề kết hợp với khu du lịch theo mô hình này, vấn đề vệ sinh môi trường sẽ
được đặt ra như là một tiêu chí quan trọng trong việc quy hoạch làng nghề. Điều
kiện môi trường cũng sẽ là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch. Việc
phát triển các làng nghề theo hướng này chủ yếu nên áp dụng với các làng nghề
truyền thống lâu đời, có các mặt hàng mang tính đặc thù văn hoá Việt Nam, đặc
biệt là các làng nghề thủ công mỹ nghệ, dệt nhuộm, gốm sứ… Hiện nay, những
làng nghề truyền thống như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng tranh Đông Hồ
(Bắc Ninh), lụa Vạn Phúc (Hà Tây),lụa Nha Xá (Hà Nam), đồ đá Non Nước
(Quảng Nam), nghề thêu ở Huế...đã trở thành những điểm du lịch hấp dẫn.
*) Xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn:
Mô hình này sẽ thích hợp với các làng nghề tiểu thủ công nghiệp mới.Mô
hình sản xuất tập trung ở khu vực gần làng xã, thuận tiện cho việc quy hoạch
tổng thể mà vẫn giữ được những lợi thế đặc trưng của sản xuất tại các làng nghề.
Nhu cầu hình thành các cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn hiện nay
đang rất bức xúc xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ áp lực lên môi trường sống của
người dân nông thôn và cũng phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, công nghiệp ở nông thôn nước ta cần
phải được tổ chức lại sao cho có hệ thống, trật tự và phát triển bền vững, tạo nhiều sản
phẩm cho xã hội và tránh gây ô nhiễm đến môi trường.
Những thế mạnh của các làng nghề tiểu thủ công truyền thống được phát huy
trong bối cảnh xã hội hiện đại, vừa tạo vị thế của ngành tiểu thủ công nghiệp trong
bối cảnh công nghiệp hoá nông thôn đang được đẩy mạnh thông qua việc phát triển
12


các khu công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn, vừa góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá


1.4 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VÀ
CÔNG NGHIỆP URENCO 10
Công ty cổ phần môi trường đô thị và Công nghiệp 10- Urenco 10
tiền thân là Xí nghiệp xử lý chất Công nghiệp - Ytế được thành lập ngày
29/05/2002 trực thuộc Công ty môi trường đô thị Hà Nội. Sự ra đời của Công ty
Cổ phần Môi trường đô thị và công nghiệp 10 đánh dấu một bước phát triển
trong thời kỳ đổi mới.
* Các lĩnh vực hoạt động chính:
- Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp,
thương mại, y tế và xây dựng
- Sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng hoá từ nguồn phế thải; tái
chế, tái sử dụng phế thải
- Tư vấn, dịch vụ lập các dự án đánh giá tác động môi trường, quan
trắc môi trường
- Nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ ngành môi trường đô
thị và công nghiệp
- Xây dựng chuyên dụng bao gồm: Phá dỡ và chuẩn bị các mặt bằng
thi công, thi công lắp đặt, quản lý, duy trì, vận hành, cải tạo, sửa chữa hệ thống
điện, hệ thống cấp thoát nước và lắp đặt xây dựng khác, hoàn thiện công trình
xây dựng và hoạt động chuyên dụng khác
- Lắp đặt quản lý, duy trì vận hành và sửa chữa hệ thống điện chiếu
sáng Xử lý ô nhiễm và hoạt động quản lý chất thải khác
- Mua, bán, đại lý mua, đại lý bán phế liệu, phế thải kim loại, phi kim,
máy móc, vật tư, thiết bị, vật liệu chuyên dùng ngành môi trường đô thị và Công
nghiệp
- Thiết kế, gia công, sửa chữa bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị
chuyên dùng ngành môi trường đô thị và Công nghiệp.
→ Đối với những sinh viên đang còn ngồi trên ghế của nhà trường
được thực tập tại những nơi như công ty cổ phần môi trường và đô thị và công

triển ngành nghề, khôi phục và nhân cấy nghề mới nhằm tạo việc làm, tăng thu
nhập cho người lao động .Nhờ đó, các nghề truyền thống của huyện đã có bước
phát triển vững chắc đạt giá trị sản xuất lớn.Tiêu biểu là nghề mây giang đan
ngày càng được nhân rộng tới từng thôn, xóm. Nhiều mặt hàng đã chinh phục
được thị trường trong nước và quốc tế , trở thành những sản phẩm xuất khẩu chủ
lực của huyện như : lụa, đũi, bát đĩa mây, thêu ren, long nhãn, hạt sen … Số
lượng các doanh nghiệp sản xuất CN-TTCN tăng nhanh. Năm 2005 có 54 doanh
nghiệp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất CN-TTCN, đến năm 2008 tăng lên 71
doanh nghiệp với tổng số vốn chủ sở hữu lên đến 1.185.250 triệu đồng.

15


2.2 Đặc thù của làng lụa Nha Xá - xã Mộc Nam –huyện Duy Tiên –tỉnh
Hà Nam .
2.2.1.Vị trí địa lý
Xã Mộc Nam là một xã đồng bằng thuộc châu thổ sông Hồng nằm ở vị trí
trung tâm huyện Duy Tiên , tỉnh Hà Nam, là địa bàn giáp ranh của 5 xã và 2 thị
trấn
Làng Nha Xá thuộc xã Mộc Nam huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam có vị trí
địa lý khá thuận lợi trong việc lưu thông hàng hoá: nằm gần trung tâm huyện
đường liên huyện chạy dọc theo chiều dài xã, cách đường Quốc lộ 1A 2 km và thị
xã Phủ Lý 5 km về phía Nam (trung tâm tỉnh Hà Nam) ..., Vì vậy rất có lợi thế để
phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là để tiêu thụ hàng hóa tiểu thủ công nghiệp.
2.2.2 .Đặc thù tự nhiên - xã hội
Làng nghề lụa Nha Xá là một trong 2 làng nghề được công nhận làng
nghề dệt lụa truyền thống với hơn 1.500 lao động lành nghề chiếm 91% tổng số
lao động trong làng, ngoài ra còn tạo ra được hơn 2.000 việc làm cho các lao
động lúc nông nhàn. Với lực lượng lao động dồi dào như vậy là điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của làng nghề ở hiện tại cũng như trong tương lai.

sa, thành phần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp. Nhìn chung đất đai của xã thuộc loại có
độ phì nhiêu cao. thích hợp cho trồng rau màu, cây ăn quả, có điều kiện phát triển
trang trại. Vùng đồng thích hợp cho cấy lúa và có thể phát triển một số cây ăn
quả như: cam canh, nhãn, vải ..
2.3.2.Phát triển kinh tế xã hội
 Đặc điểm dân số và lao động

Nguồn lao động của xã tương đối dồi dào và chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, hiện nay toàn xã có 3039 hộ, với 13007 nhân khẩu, số hộ nông nghiệp là: 937
hộ (chiếm 30,83%), lao động nông nghiệp 2973 lao động (chiếm 24,84%). Hộ phi nông
nghiệp là 2102 hộ (chiếm 69,17 %), trong đó hộ ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
(TTCN) là 1488 hộ (chiếm 70,79% số hộ phi nông nghiệp). Số lao động tham gia vào
các hoạt động ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao
động và có xu hướng tăng lên về tỷ trọng. Lao động CN - TTCN luôn chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong tổng cơ cấu lao động chiếm gần một nửa số lao động qua các năm, năm
2009 là 4585 lao động chiếm 71,81% lao động, và số lượng lao động này liên tục tăng
lên với tốc độ bình quân khoảng gần 700 lao động trên năm. Lao động làm dịch vụ chỉ
17


tăng lên từ 2008, tuy nhiên lực lượng lao động này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong số lao
động phi nông nghiệp (khoảng 2,88% năm).
Số lao động nông nghiệp có xu hướng giảm, năm 2009 là 3814 lao động nhưng đến
2011 chỉ còn 2973 lao động giảm 841 lao động. Điều này cho thấy số lao động làm nông
nghiệp đã chuyển dần sang các lĩnh vực khác, chủ yếu là TTCN. Tốc độ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng ngành TTCN đã
chiếm ưu thế cùng với thương mại - dịch vụ. Theo chiến lược phát triển kinh tế của xã,
trong những năm tới phấn đấu ngành CN - TTCN đóng góp 60% GDP của xã, đồng thời
đưa xã Mộc Nam trở thành trung tâm TTCN của huyện Duy Tiên ..
Đất đai và tình hình sử dụng đất đai


(5)

Diện
tích

năm So với năm
2008
Tăng
Tăng
Diện
(+)
(+)
tích
giảm
giảm
(-)
(-)
(6)
(7)
(8)

811,11 811,11

1

Đất nông nghiệp

NNP


2,21

HNK

22,79

22,79

3
1.1.2

Đất trồng cây lâu năm

CLN

31,35

31,35

1.2

Đất nuôi trồng thuỷ sản

NTS

45,64

47,29

2


58
512,
36
2,21

-37,04

15,0
139,5

+7,78

448,4
2191,

-2,78

40
61,5
2

-0,95

-40,23
-29,26

-8,19
+40,30



2.2.4

2.2.5

2.3

2.4

2.5

2.6

3

3.1

60,57

61,5
2105,

-0,95

29
1,56

-0,03

+38,50


99,7
1

+31,88

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

TTN

2,66

2,66

2,66

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

NTD

8,67

8,67

8,70

-0,03

13,2
3


-0,03

Đất bằng chưa sử dụng

BCS

2,10

2,10

2,13

-0,03

+0,47

+2,49

(nguồn: thống kê 25-2-2011 của sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà
Nam)

19


Qua bảng 2.1 ta thấy năm 2011 so với năm 2010 cơ cấu đất tự nhiên theo
mục đích sử dụng của xã Mộc Nam như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên là: 811,11 ha, trong đó đất nông nghiệp là:
577, 31 ha chiếm trên 71% tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp giảm so
với năm 2005 là 40,23 ha (do quá trình đô thị hóa chuyển mục đích đất nông



kiện tốt nhất để mọi người dân đến khám chữa bệnh được thuận lợi nhất. Do có
công ăn việc làm và thu nhập thường xuyên nên đời sống về vật chất và tinh thần
của nhân dân trong làng được nâng cao. Số hộ có nhà cao tầng, nhà mái bằng
chiếm tỷ lệ 56%, số hộ có điện thoại chiếm tỷ lệ 35% số hộ dân trong thôn. 100%
số hộ dân có tivi, radiocassette. Trong làng có gần 200 xe máy. Không còn hộ đói
và nhà tranh tre vách đất, số hộ nghèo giảm còn 7%. Xã có một trạm phát thanh
trung tâm, và ở mỗi xóm đều có một loa phóng thanh. Trạm phát tranh có nhiệm
vụ phát thanh các tin tức liên quan tới các nghị quyết của đảng, chính sách của
chính phủ, các quy định của tỉnh, huyện, xã và các thông tin về tình hình sản xuất
..., đến nhân dân trong xã.
- Hệ thống thuỷ lợi : Hệ thống tưới tiêu của xã đã được đổ bê tông với
chiều dài là 16 km. Hệ thống thoát nước, cống rãnh được xây dựng kiên cố từ 3
năm trước đây, nhưng hiện nay do sự phát triển quy mô sản xuất với quy mô lớn
hơn nhiều nên tình trạng ùn tắc, ứ đọng xảy ra thường xuyên, nhiều khi tràn lên
mặt đường, gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra việc đầu tư cho hệ thống này
không được đồng bộ, mang tính chất chắp vá đã làm cho hệ thống bị xuống cấp
nhanh chóng. Đây chính là điểm cần quan tâm giải quyết vì nó có sự ảnh hưởng
rất lớn tới vấn đề môi trường trong xã.

 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Mộc Nam là xã đứng thứ ba về phát triển kinh tế của huyện Duy Tiên .
Với bản chất cần cù, chịu khó, không ngừng học hỏi, vươn lên của người dân,
nền kinh tế xã đã phát triển mạnh với việc duy trì và phát triển nghề lụa Nha Xá .
Nền kinh tế xã đang phát triển với sự gia tăng giá trị tất cả các ngành, cơ cấu
kinh tế, thay đổi dần theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần các
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ, được thể hiện qua
bảng 2.2


78.787,38

Năm 2011

So với 2006 tăng
(+), giảm (-)

Giá trị (triệu
đ)

+ 18.096,62

103.043,83

Cơ cấu
(%)

So với năm 2007
tăng (+), giảm
(-)
+ 6.159,83

36.642,38

46,51

48.823,4
0

50,39

24.607,5
0

25,40

-997,50

22.297,50

21,64

-2.310,00

2. Thu nhập BQ /LĐ/năm

7,73

8,53

+ 0,81

8,61

+ 0,07

3. Thu nhập BQ /người /năm

6,01

7,44

động/năm. Đã giải quyết việc làm cho 6369 lao động địa phương và 30004500 lao động địa phương khác. Thu nhập bình quân một hộ CN - TTCN khoảng
33, 91 triệu đồng/năm, đóng góp ngân sách Nhà nước hơn 36 triệu đồng (Báo cáo
sở công nghiệp năm 2011).
Ngành thương mại dịch vụ của xã trong những năm gần đây có xu hướng
tăng nhanh hơn các ngành khác cả về giá trị và tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung.
2.2.4. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ SẢN XUẤT CỦA LÀNG
NGHỀ LỤA
NHA XÁ
2.2.4.1. Lịch sử làng nghề:
Theo các cụ già nói lại, làng nghề bắt đầu từ khi Nhân vệ Vương Trần Khánh
Dư về tu ở chùa Nha Xá.Ông đào ao, thả cá, rồi nghĩ ra cách ươm tơ để làm vợt vớt cá.
Từ đó Nha Xá theo nghề này.
Từ những năm 1954, người dân chuyên dệt tơ bóng (gia công) cho Nhà nước,
tất cả được thu gom về trạm gia công Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam). Sau đó làng
thành lập Hợp tác xã (HTX) gia công tơ lụa từ năm 1959 đến năm 1981.Trong khoảng
thời gian đó, làng nghề phát triển mạnh.
Khi nhu cầu nhân công cho việc dệt tăng cao thì làng để cho những làng
xung quanh làm công việc ươm tơ và chuyển sang chuyên dệt. Những người như:
cụ Khiển, cụ Tiến, cụ Cựu… đặc biệt là cụ Khiển là những người có công đóng
góp cho thời hoàng kim của làng dệt này, nên công việc làm ăn thịnh vượng
trong nhiều năm, nghề được lan sang nhiều xã của huyện Duy Tiên.
Đến những năm 1981, làng nghề chùng xuống do thời thế thay đổi. Sự
thịnh suy của làng nghề phụ thuộc nhiều vào thời thế.Khi đó, người ta bỏ làm dệt
vì lụa làm ra không ai mua. Dân nghèo túng không đủ ăn, nhiều gia đình chuyển
sang buôn bán, làm thuê làm mướn. Trước thời buổi khó khăn đó, sự khủng
hoảng của nghề khiến những nghệ nhân của làng hết sức lo lắng. Nghệ nhân Lê
Văn Khiển cố gắng trấn an bà con.
Nhưng trước sự khó khăn trầm trọng ấy, dù có cố gắng đến mấy thì người
dân vẫn cứ bỏ cái nghề không kiếm ra tiền.Đời sống nhân dân lâm vào tình cảnh
khó khăn. Nhiều người đã phải mang bị đi ăn xin. Mãi đến năm 1986 mở cửa,

làng du lịch.
Xét chung về làng nghề có hai loại sản phẩm chính là lụa và sa tanh. Giá
thành sản phẩm lụa dao động từ 50.000- 80.000đồng/mét; giá sản phẩm sa tanh
từ 70.000 – 100.000đồng/mét tùy thuộc vào chất lượng sản phẩm.
2.4.2.2. Tình hình công nghệ sản xuất và môi trường lao động
Trước đây,lụa Nha Xá chỉ dệt bằng khung dệt thủ công với chưa đầy 40
khung dệt, nay đã tăng lên trên 400 khung dệt và đã được cơ giới hoá 100. Khảo
sát thực tế tại các cơ sở sản xuất và tiến hành phỏng vấn 15 hộ dân cư không làm
nghề hoặc làm ở mức độ rất nhỏ của làng nghề lụa Nha Xá cho thấy toàn bộ các
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status