MỤC LỤC
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực tập
KS. Đinh Thị Thanh Huyền
Lê Thị Thoa
1
LỜI CẢM ƠN
Trong 3 năm học tại Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, em đã
nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong trường, đặc
biệt là các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai. Với lòng cảm ơn sâu sắc, em
xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường nói chung và các thầy cô
giáo trong khoa Quản lý đất đai nói riêng.
Đặc biệt, trong đợt thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng học hỏi tìm tòi
của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của cô
giáo Đinh Thị Thanh Huyền – giảng viên khoa Quản lý đất đai – Trường ĐH Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các anh chị làm việc tại Trung tâm Tài
nguyên & Môi trường Cty Cổ phần tập đoàn Đất Việt là đơn vị trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, báo cáo đề tài; sự quan tâm, theo
dõi, động viên của gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện tốt để em hoàn thành tốt đợt
thực tập này.
Báo cáo tốt nghiệp sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn. Em kính
mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để bài báo cáo của em
Giải thích viết tắt
Đại học
Quản lý nhà nước
Giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu
Quản lý đất đai
Thị trường bất động sản
Kinh tế - xã hội
Thể dục – thể thao
Trung học cơ sơ
Nghị định
Nghị quyết
Giáo dục và đào tạo
Tài nguyên và môi trường
Sản xuất kinh doanh
Thành phố
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây
dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ,
3
nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập và bảo vệ được vốn đất
quả cao, bảo vệ đất đai màu mỡ, bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho việc tổ
chức lại sản xuất trong nước theo định hướng sản xuất XHCH.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên và được sự nhất trí của khoa Quản
lý đất đai, trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của
cô giáo Đinh Thị Thanh Huyền, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá
thực trạng công tác quản lý của nhà nước về đất đai trên địa bàn phường
-
Khương Trung – Thanh Xuân – Hà Nội”.
2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
2.1. Mục đích
Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc quản lý và sử dụng đất theo hiến pháp và pháp
-
luật đất đai.
Tìm hiểu thực tế công tác quản lý Nhà nước về đất đai của phường Khương
-
Trung – quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.
Đánh giá những bất cập và tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
-
trên địa bàn phường.
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những bất cập và tồn tại đó.
Trên cơ sở thực tiễn của phường, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất
giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đem lại.
Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện các văn bản đó
Tạo hành lang pháp lý để các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và
-
những người sử dụng đất thực hiện.
Đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCN QSDĐ
Đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCN QSDĐ là
một biện pháp quan trọng để xác định quyền sử dụng đất, quản lý biến
động đất đai.
6
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính
Đây là một trong những nhiệm vụ về QLNN về đất đai. Trên cơ sở nội dung
Chỉ thị số 364/TTg và Nghị định số 119/CP của Chính phủ về quản lý địa giới
hành chính, Luật Đất đai 2003 quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Nội
vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND các cấp, lập và quản lý hồ sơ địa giới
hành chính, lập bản đồ hành chính. Cụ thể, Điều 16 của luật quy định:
+ Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ
sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước.
Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý
mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính.
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng
đất
Giao đất và cho thuê đất là những hình thức Nhà nước giao QSDĐ cho
người sử dụng đất. Chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất là việc Nhà
nước thực hiện quyền định đoạt của mình đối với đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai
Quản lý tài chính về đất đai là việc sử dụng hệ thống công cụ tài chính
như giá đất, thuế, tiền thuê đất…, nhằm điều tiết các quan hệ về đất đai để đạt
được mục tiêu trong quản lý.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, nó vừa là tư liệu lao động , vừa là
đối tượng lao động. Đầu tiên, đất không phải là hàng hóa song trong quá trình
phát triển xã hội, con người đã xác lập quyền sở hữu đất đai và đất trở thành
hàng hóa – một thứ hàng hóa đặc biệt, đất ( QSDĐ) cũng được mua bán, chuyển
đổi, chuyển nhượng, thừa kế…
Thực tế ở Việt Nam, trong những năm trước khi có Luật Đất đai 1993,
mặc dù Luật Đất đai 1987 đã nghiêm cấm việc mua bán đất đai, nhưng thị
trường đất đai luôn sôi động ( cho dù đó là thị trường ngầm). Thị trường đất dai
đặc biệt sôi động kể từ khi Nhà nước ta có chủ trương xóa bỏ cơ chế quan liêu,
bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, cơ chế của nền kinh tế sản xuất hàng
hóa. Luật Đất đai năm 1993 đã ghi nhận “ đất có giá” và Luật Đất đai năm 2003
thừa nhận giá đất được hình thành do Nhà nước quy định, do thực tế chuyển
dịch đất đai trên thị trường. Đây là một quy định quan trọng, thể hiện sự có mặt
của quan hệ đất đai trong cơ chế thị trường. Hay nói cách khác, Nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi để đất đai tham gia vào nền kinh tế sản xuất hàng hóa, từng
bước tham gia vào TTBĐS.
- Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất
8
+ Đất không có tranh chấp
+ QSDĐ không bị kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án.
+ Trong thời hạn SDĐ
9
Đối với đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện các dự án đầu
tư thì phải đầu tư vào đất theo đúng dự án đã được Nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt mới được tham gia vào TTBĐS.
Luật quy định Nhà nước quản lý đất đai trong việc phát triển TTBĐS
bằng các biện pháp chính như sau:
+ Tổ chức đăng kí hoạt động giao dịch về QSDĐ.
+ Tổ chức đăng kí hoạt động phát triển quỹ đất, đầu tư xây dựng
kinh doanh bất động sản.
+ Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia giao dịch về QSDĐ
trong TTBĐS.
+ Thực hiện các biện pháp bình ổn giá đất, chống đầu cơ đất đai.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm về đất đai
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai nhằm phát hiện các sai phạm để ngăn chặn kịp thời, tránh hậu quả xấu gây
thiệt hại cho Nhà nước hoặc cá nhân
Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong quản lý và sử dụng đất
Giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các sai
phạm trong quản lý và sử dụng đất nhằm điều tiết mối quan hệ giữa Nhà nước
với người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
- Thống kê, kiểm kê đất đai
1.1. Đánh giá công tác quản lý đất đai một số nước trên thế giới
1.1.1. Công tác quản lý đất đai ở nhóm các nước phát triển ( nhóm G7)
1.1.2. Công tác quản lý đất đai ở các quốc gia thuộc khối XHCN cũ (Liên Xô
cũ và Đông Âu)
Các quốc gia thuộc khối XHCN (hệ thống XHCN hay còn gọi là phe
XHCN) trong thời kỳ chiến tranh lạnh (sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến
khi Liên Xô sụp đổ năm 1991) bao gồm: Đông Âu gồm 8 quốc gia XHCN ở
Châu Âu là Ba lan, Tiệp khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Hungari, Rumani,
Bungari, Nam Tư và Anbani (Thực ra các nước Đông Âu nằm ở vị trí ĐN và
Trung Âu); Liên Xô(gồm có 15 nước cộng hòa: Nga; Ukraina; Belarus;
Uzbekistan; Kazakhstan; Gruzia; Azerbaijan; Litva; Moldova; Latvia;
Kirghiztan; Tajikistan; Armenia; Turkmenistan; Estonia); Trung Quốc; Cu Ba;
Bắc Triều Tiên; Việt Nam; Lào. Hiện nay, chỉ còn có 5 quốc gia là Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa, Cuba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào và Việt
Nam tiếp tục lựa chọn thể chế nhà nước XHCN, do các Đảng Cộng sản lãnh
11
đạo. Tuy nhiên, mô hình CNXH của các nước này cũng khác nhau và khác với
mô hình CNXH hiện thực của Liên Xô cũ, khác với mô hình CNXH theo quan
điểm của C.Mác. Trong đó, Trung Quốc tự nhận là mô hình CNXH mang đặc
sắc Trung Quốc (nhưng thực chất là mô hình CNTB nhà nước toàn trị một
Đảng), các quốc gia còn lại không có chủ thuyết riêng, về tổ chức bộ máy và
hình thái kinh tế xã hội cũng không rõ ràng theo mô hình nào. Đặc trưng của mô
hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây là nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung cao độ, dựa trên chế độ công hữu về các TLSX chủ yếu
(trong đó đặc biệt là đất đai). Tuy nhiên, chế độ công hữu về đất đai của các
nước thuộc khối XHCN cũng không hoàn toàn giống nhau: Ở Trung Quốc trước
năm 1978 là SHTD, sau này Hiến pháp năm 1982 của Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa tại Điều 10 quy định rõ ràng: Đất đai đô thị thuộc SHNN, đất đai nông thôn
và khu ngoại ô đô thị, đất làm nhà ở và đất tự lưu, đồi núi tự lưu cũng thuộc về
sở hữu tập thể; Ở Liên Xô, trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN LB Xô Viết
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thi hành chế độ công hữu XHCN về đất đai - đó
là chế độ SHNN và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động.
Ở Ixraen, hầu hết đất đai thuộc SHNN, Nhà nước thực hiện cho thuê đối với
các nông dân hoặc những doanh nghiệp, với hợp đồng thuê đất có thời hạn từ 49
đến 99 năm. Như vậy, đối với trường hợp Ixraen, chế độ sở hữu là chế độ SHNN
về đất đai. Tại Nam Phi, Luật CCRĐ 1997 của nước này quy định: đất đai thuộc
sở hữu của người lao động, đất công thuộc SHNN, đất của các chính quyền địa
phương. Như vậy, về cơ bản, Nam Phi thực hiện chế độ SHNN về đất đai. Đối
với Mozambich, đất đai thuộc SHNN và nghiêm cấm việc mua bán, chuyển
nhượng đất đai. Tại Mông Cổ, đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và tư nhân.
Các loại đất có thể thuộc QSH của các cá nhân người Mông Cổ hoặc các công
ty, tổ chức người nước ngoài. Như vậy, Mông Cổ thực hiện chế độ đa sở hữu,
trong đó có thừa nhận cả SHTN của người nước ngoài về đất đai .
Đối với khu vực Mỹ Latinh, hầu hết các quốc gia đang phát triển ở khu vực
này thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, trong đó sở hữu của nhà nước không
phải là phần cơ bản.
1.1.4. Công tác quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện duy
nhất. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai. Nhà nước thực hiện các quyền của
một chủ sở hữu như sau:
13
- Quyền định đoạt đối với đất đai:
+ Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt
quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất;
+ Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với
người đang sử dụng đất, thu hồi đất;
Thực dân Pháp chú trọng phát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam
Kỳ, duy trì chế độ công điền và chế độ sở hữu nhỏ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tổ
chức hệ thống quản lý đất đai trên lãnh thổ Việt Nam theo 3 cấp: Cơ quan quản
lý Trung ương là Sở Địa chính thuộc Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ và
Thống đốc Nam Kỳ, về sau trực thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương; Cơ quan
cấp tỉnh là Ty Địa chính; cấp cơ sở làng xã có nhân viên địa chính là chưởng bạ
ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và hương bộ ở Nam Kỳ. Thực dân Pháp đã tiến hành đo
đạc bản đồ địa chính từ năm 1871 ở Nam Kỳ, sau đó công việc đo đạc được
triển khai ra khắp lãnh thổ. Các bản đồ được xây dựng để thành lập hồ sơ địa
chính phục vụ cho việc thu thuế, quản lý đất đai.
* Ở Bắc kỳ:
Áp dụng chế độ quân thủ địa chính. Năm 1906 Sở địa chính chính thức được
ra đời sau khi đã phân định địa giới các huyện, tổng, năm 1912 Sở địa chính đo
đạc ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Yên, Hà Tây. Năm 1920 công việc đo đạc
để tính thuế cơ bản đã xong, các tỉnh Ninh Bình, Hải Phòng, Đà Nẵng được coi
là nhượng địa của pháp, áp dụng chế độ bảo thủ, điều thổ theo sắc lệnh ngày
02/02/1925, còn các tỉnh khác được lập ty địa chính, thực hiện quản thủ điền thổ
theo hai chế độ: lục điền chủ. Từ năm 1945 đến năm 1955 lập các nha địa chính
tại các phận. Năm 1956 đến năm 1959 lập nha tổng giám đốc địa chính, Địa
hình để thi hành các quốc sách về điền địa và nông nghiệp. Năm 1960 đến năm
1973, thiết lập nha điền địa nhằm xây dụng tài liệu nghiên cứu, tổ chức và điều
hành công tác tam giác đạc, lập bản đồ, sang bản, sổ địa bạ…
* Ở Trung kỳ:
Năm 1927 tiến hành đo đạc ở Trung Kỳ để thâu tóm quyền lực và tăng
cường sức mạnh của chính quyền thực dân ở nông thôn, thực dân Pháp còn tổ
chức lập bản đồ giải thửa và tiến hành đăng ký vào sổ tên chủ sở hữu. Từ năm
1921, các cơ quan địa chính địa phương bắt đầu triển khai công tác này một cách
khẩn trương và đạt hiểu quả. Nhờ vậy, việc xây dựng bản đồ giải thửa đã hoàn
thành năm 1932, tạo cơ sở xác định rõ giới hạn, diện tích và quyền sở hữu các
15
+ Hướng dẫn địa chủ qua hoạt động kỹ nghệ
+ Thu hồi về tay quốc gia những ruộng đất bị thực dân chiếm đoạt.
1.2.4 Công tác quản lý đất đai ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8.1945
* Giai đoạn 1945 – 1954
16
Ngày 02 tháng 02 năm 1947 thành lập Nha địa chính 6 Bộ tài chính. Toàn
bộ cán bộ địa chính được đi làm thuế nông nghiệp.
Tháng 7 năm 1949 Chính Phủ có sắc lệnh 78/SL quy định rằng 25% địa tô
và xóa địa tô phụ.
Ngày 13 tháng 7 năm 1951 theo sắc lệnh 40/SL ngành địa chính chính thức
hoạt động theo chuyên ngành.
Ngày 05 tháng 03 năm 1952 Chính phụ ban hành điều lệ tạm thời về việc sử
dụng công điền, công thủ chia cho dân nghèo.
Ngày 04 tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất.
* Giai đoạn 1954 - 1960
Ngày 03 tháng 07 năm 1958 Chính phủ ban hành chỉ thị 354/TTg cho tái
lập hệ thống địa chính trong Bộ tài chính.
Năm 1960, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành
( 90% diện tích đất canh tác được tập thể hóa ). Hiến pháp năm 1959 đã xác định
3 hình thức sở hữu đất đai là:
+ Toàn dân
+ Tập thể
+ Tư nhân
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập (Nghị định số 70-CP
ngày 09 tháng 12 năm 1960 và Nghị định số 71-CP ngày 09 tháng 12 năm 1960
của Hội đồng Chính phủ), chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp với
+ Trung ương có tổng cục quản lý ruộng đất thuộc hội đồng bộ trưởng.
+ Tỉnh có cục quản lý ruộng đất thuộc phòng nông nghiệp
Mục đích của việc tách ngành điạ chính riêng ra và thành lập hệ thống quản lý
đất đai riêng biệt là nhằm quản lý thống nhất toàn bộ đất đai nông
nghiệp,
nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ tài nguyên môi trường, sử dụng
đất tiết kiệm và hiệu quả.
* Giai đoạn năm 1980 đến nay : Do Hiến pháp năm 1980 hợp ba hình
thức sở hữu đất đai thành một hình thức sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý
nên việc quản lý đất đai phải thay đổi theo cho phù hợp.
Ngày 01 tháng 7 năm 1980 trong quyết định 201/CP của Hội đồng Chính
phủ về việc thống nhất tăng cường công tác quản lý ruộng đất có nêu 7 nội
dung quản lý nhà nước về đất đai như sau:
1. Điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất
2. Thống kê, đăng ký đất
3. Quy hoạch việc sử dụng đất
4. Giao đất, thu hồi đất và trưng dụng đất
5. Thanh tra việc chấp hành các chế độ về quản lý, sử dụng đất
6. Giải quyết tranh chấp về đất đai.
7. Quy định các chế độ, thể lệ quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện.
18
- Năm 1988 luật đất đai đầu tiên được ban hành. Đây là văn bản luật đầu
tiên chính thức sửa hệ luật đất đai, đưa chế độ sở hữu nông nghiệp đối với đất
đai và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước, giao đất ổn định lâu dài
- Năm 1993 luật đất đai thứ 2 ra đời, cho tới nay vẫn còn sử dụng ( mặc dù
quản lý đất đai. Mục đích cuối cùng của Nhà nước và người sử dụng đất là làm
sao khai thác tốt nhất tiềm năng của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu kinh
tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, đất đai cần phải được thống nhất quản lý theo
quy hoạch và pháp luật.
1.3.1.1. Luật Đất đai 1987
Ra đời đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về
đất đai ở Việt Nam. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai của Luật này được
quy định tại Điều 9, bao gồm:
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ địa chính;
- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất;
- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực
hiện các chế độ, thể lệ ấy;
- Giao đất và thu hồi đất;
- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai;
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Luật Đất đai 1987 mới chỉ giải quyết mối quan hệ hành chính về đất đai
giữa Nhà nước (tư cách là chủ sở hữu) với người sử dụng đất. Do đó, nội dung
quản lý nhà nước về đất đai không có những nội dung về đánh giá đất, kinh tế
đất, cho thuê đất... Do không thừa nhận đất có giá nên Nhà nước nghiêm cấm
chuyển dịch đất đai dưới mọi hình thức. Những quy định này làm cho quan hệ
đất đai không được vận động theo hướng tích cực.
1.3.1.2. Luật Đất đai 1993
Ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993. Đây là một trong những
luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những
kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật Đất đai 1993 là tích cực, thúc đẩy
phát triển kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội của đất nước.
chức thực hiện các văn bản đó;
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất;
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
- Thống kê, kiểm kê đất đai;
- Quản lý tài chính về đất đai;
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản;
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
21
- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong
việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Hiếp pháp năm 1980 ra đời quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý”. Điều này tiếp tục được khẳng định trong Hiếp
pháp năm 1992, luật đất đai năm 1988, 1993, Luật sửa đổi năm 1998 và 2001
và Luật đất đai năm 2003.
Như vậy, Luật đất đai năm 1993 và 2003 là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp
cho Nhà nước trong công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê.
Ngày 01/7/1980 của Hôi đồng Chính phủ đã hành Nghị quyết số 201/CP
đất đai. Nước ta tồn tại một hình thức sở hữu đất đai duy nhất: sở hữu toàn dân,
với Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực
hiện quyền làm chủ của mình bằng việc được Nhà nước giao QSDĐ. Nhà nước
thực hiện quyền làm chủ của mình bằng việc xác lập chế độ pháp lý về quản lý
và sử dụng đất đai của cơ quan quyền lợi dựa trên những đặc điểm thực tiễn của
đất nước qua các giai đoạn. Ngoài ra hệ thống các cơ quan chuyên môn của các
cấp thực hiện giám sát việc quản lý và sử dụng đất theo Quy hoạch và Pháp
luật.
ST
T
1
Bảng thống kê chế độ sở hữu đất đai của một số nước ASEAN:
Tên nước
Brunây
Văn bản luật quy định
Luật thu hồi đất 1949, Luật đất
đai 2000
Hình thức sở hữu
Tư hữu, Quốc Vương
Sở hữu quốc vương
2
Campuchia
Mianma
Hiến pháp (điều 18)
8
Singapore
Luật đất đai 1978
Sở hữu tập thể
SHNN
đai 2006
SHTN
SHNN
Quy định của Chính phủ về quản
SHTN
lý đất đai 2004
Đất nông nghiệp thuộc
SHNN
SHTD
SHNN
SHTN
SHNN
+ Các chủ thể quản lý đất đai là cơ quan nhà nước gồm 2 loại là: Các cơ
quan thay mặt Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai ở địa
phương theo cấp hành chính, đó là Uỷ ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên
môn ngành quản lý đất đai ở các cấp. Các cơ quan đứng ra đăng ký quyền quản
lý đối với những diện tích đất chưa sử dụng, đất công ở địa phương. Theo quy
định của Luật Đất đai 2003, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng ký vào
hồ sơ địa chính những diện tích đất chưa sử dụng và những diện tích đất công
cộng không thuộc một chủ sử dụng cụ thể nào như đất giao thông, đất nghĩa
địa...Các cơ quan này đều là đối tượng quản lý trong lĩnh vực đất đai của các cơ
quan cấp trên trực tiếp và chủ yếu theo nguyên tắc trực tuyến.
* Đất đai
Đất đai là nhóm đối tượng thứ hai của quản lý nhà nước về đất đai. Các cơ
quan quản lý đất đai của bộ máy nhà nước thay mặt Nhà nước quản lý đến từng
thửa đất, từng diện tích đất cụ thể. Theo Luật Đất đai 2003 và được cụ thể hoá ở
Điều 6, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về thi hành Luật Đất đai 2003, toàn bộ quỹ đất của nước ta hiện nay được
phân thành 3 nhóm, trong đó lại chia nhỏ hơn thành 14 loại như sau:
* Nhóm đất nông nghiệp được chia thành 5 loại đất sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây
lâu năm.
24
- Đất nuôi trồng thuỷ sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác.
- Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và
các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các
loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí