Thực trạng công tác quản lý của nhà nước về đất đai trên địa bàn phường Khương Trung – Thanh Xuân – Hà Nội - Pdf 64

MỤC LỤC

1


LỜI CẢM ƠN

Trong 3 năm học tại Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, em đã
nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong trường, đặc
biệt là các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai. Với lòng cảm ơn sâu sắc, em
xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường nói chung và các thầy cô
giáo trong khoa Quản lý đất đai nói riêng.
Đặc biệt, trong đợt thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng học hỏi tìm tòi
của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các
thầy cô giáo, các giảng viên khoa Quản lý đất đai – Trường ĐH Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, cùng các anh chị làm việc tại Trung tâm Tài nguyên & Môi
trường Cty Cổ phần tập đoàn Đất Việt là đơn vị trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình nghiên cứu, báo cáo đề tài; sự quan tâm, theo dõi, động viên của
gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện tốt để em hoàn thành tốt đợt thực tập này.
Báo cáo tốt nghiệp sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn. Em kính
mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để bài báo cáo của em
được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

2


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Viết tắt
ĐH
QLNN

Sản xuất kinh doanh
Thành phố

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành

phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây
dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ,
3


nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập và bảo vệ được vốn đất
như ngày nay. Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, vị trí cố định trong
không gian, không thể thay thế và di chuyển theo ý muốn chủ quan của con
người. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên quý giá này một cách
hợp lý không những có ý nghía quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế đất
nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chính trị và phát triển xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Đất đai cũng như các quy định khác
vẫn còn nhiều hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện. Nhiều văn bản mang tính
pháp lý còn chồng chéo và mâu thuẫn, tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng
đất đai, mua bán trao đổi đất đai ngoài sự kiểm soát của pháp luật xảy ra. Việc
cấp GCN QSDĐ cho các hộ gia đình còn chậm, đặc biết đối với đất ở. Đối với
vấn đề cấp GCN QSDĐ ở đô thị và QSH nhà ở thì triển khai còn chưa đồng bộ,
kết quả đạt được thấp. Việc tranh chấp đất đai diễn ra dưới nhiều hình thức, việc
phát triền các khu dân cư mới ven đô thị lấy từ đất lúa còn đang diễn ra ở nhiều
nơi. Đứng trước thực trạng đó, để việc quản lý và sử dụng đất đai ngày càng có
hiệu quả, góp phần vào công cuộc cải tạo kinh tế - xã hội, thì cần phải rút kinh

-

luật đất đai.
Tìm hiểu thực tế công tác quản lý Nhà nước về đất đai của phường Khương

-

Trung – quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.
Đánh giá những bất cập và tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai

-

trên địa bàn phường.
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những bất cập và tồn tại đó.
Trên cơ sở thực tiễn của phường, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn phường trong
thời gian tới.
2.2. Yêu cầu
- Điều tra chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn phường
Khương Trung – quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội.
- Đánh giá được các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, nắm chắc các
quy định của ngành, các văn bản quy định, nghị định của chính phủ về quản lý
đất đai.
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về đất đai của phường.
- Số liệu đưa ra phải phản ánh trung thực khách quan thực trạng quản lý
và sử dụng đất tại phường.
- Có những đề xuất, kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế của phường.
- Những kiến nghị và đề xuất phải có tính khả thi với thực trạng của
phường.



- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính
Đây là một trong những nhiệm vụ về QLNN về đất đai. Trên cơ sở nội dung
Chỉ thị số 364/TTg và Nghị định số 119/CP của Chính phủ về quản lý địa giới
hành chính, Luật Đất đai 2003 quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Nội
vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND các cấp, lập và quản lý hồ sơ địa giới
hành chính, lập bản đồ hành chính. Cụ thể, Điều 16 của luật quy định:
+ Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ
sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước.
Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý
mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính.
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế
trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lâp hồ sơ địa giới hành chính các cấp.
+ UBND các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên
thực địa , lập hồ sơ địa giới hành chính trong phạm vi địa phương.
Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ QLNN đối với địa giới
hành chính. Gồm các loại tài liệu: quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về việc thành lập đơn vị hành chính hoặc điều chỉnh địa giới hành chính
( nếu có); bản đồ địa giới hành chính; sơ đồ vị trí các mốc địa giới hành chính;
bảng tọa độ mốc địa giới hành chính; các điểm đặc trưng trên đường địa giới
hành chính; bản mô tả tình hình chung về địa giới hành chính; biên bản xác nhận
mô tả đường địa giới hành chính; biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính;
thống kê các tài liệu về địa giới hành chính của các đơn vị hành chính cấp dưới.
Bản đồ địa giới hành chính là tài liệu rất quan trọng trong hồ sơ địa
giới hành chính. Bản đồ địa giới hành chính là bản đồ thể hiện các mốc địa giới
hành chính và các yếu tố địa vật, địa hình có liên quan đến mốc địa giới hành
chính.

mặc dù Luật Đất đai 1987 đã nghiêm cấm việc mua bán đất đai, nhưng thị
trường đất đai luôn sôi động ( cho dù đó là thị trường ngầm). Thị trường đất dai
đặc biệt sôi động kể từ khi Nhà nước ta có chủ trương xóa bỏ cơ chế quan liêu,
bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, cơ chế của nền kinh tế sản xuất hàng
hóa. Luật Đất đai năm 1993 đã ghi nhận “ đất có giá” và Luật Đất đai năm 2003
thừa nhận giá đất được hình thành do Nhà nước quy định, do thực tế chuyển
dịch đất đai trên thị trường. Đây là một quy định quan trọng, thể hiện sự có mặt
của quan hệ đất đai trong cơ chế thị trường. Hay nói cách khác, Nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi để đất đai tham gia vào nền kinh tế sản xuất hàng hóa, từng
bước tham gia vào TTBĐS.
- Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất
8


Đảm bảo người sử dụng đất thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo
pháp luật. Đồng thời, hạn chế tính quan liêu thậm chí tiêu cực của cán bộ làm
công tác QLNN về đất đai.
Hoạt động quản lý việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ
được tiến hành thông qua hệ thống tổ chức cơ quan hành chính các cấp và hệ
thống tổ chức ngành địa chính các cấp. Trên cơ sở những quy định chung về
quyền và nghĩa vụ của NSDĐ ( Điều 105, 106, 107 Luật Đất đai 2003), quyền
và nghĩa vụ của tổ chức SDĐ ( Điều 109, 110, 111, 112 Luật Đất đai 2003), cán
bộ địa chính và các cơ quan chức năng hướng dẫn các chủ SDĐ thực hiện đúng
các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ ngay tù các đơn vị hành chính cấp cơ sở là xã,
phường, thị trấn, bảo đảm các quy định của pháp luật được thực hiện và thực
hiện đúng trên từng thửa đất và từng chủ SDĐ.
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản
Thị trường bất động sản muốn phát triển thì một trong những yêu cầu

trong TTBĐS.
+ Thực hiện các biện pháp bình ổn giá đất, chống đầu cơ đất đai.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm về đất đai
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai nhằm phát hiện các sai phạm để ngăn chặn kịp thời, tránh hậu quả xấu gây
thiệt hại cho Nhà nước hoặc cá nhân
Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong quản lý và sử dụng đất
Giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các sai
phạm trong quản lý và sử dụng đất nhằm điều tiết mối quan hệ giữa Nhà nước
với người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
- Thống kê, kiểm kê đất đai
1.1. Đánh giá công tác quản lý đất đai một số nước trên thế giới
1.1.1. Công tác quản lý đất đai ở nhóm các nước phát triển ( nhóm G7)
Nhóm G7 bao gồm các nước: Anh, Đức, Canađa, Ý, Mỹ, Nhật Bản và
Cộng hoà Pháp. Xét về chế độ sở hữu nói chung, tại tất cả các quốc gia G7 đều
thừa nhận quyền tư hữu là quyền cơ bản nhất. Xét về chế độ sở hữu đất đai, các
nước thuộc nhóm G7 đều thực hiện mô hình sở hữu đất đai đa sở hữu. Đó là
vừa thừa nhận sở hữu đất đai của tư nhân và vừa thừa nhận đất đai sở hữu của
nhà nước.
Tại Anh, quyền tư hữu về đất đai được pháp luật thừa nhận. Cùng với đó,
luật pháp nước Anh cũng thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của nữ hoàng Anh
(hình thức sở hữu này chỉ mang tính tượng trưng, nặng về ý nghĩa chính trị,
10


không có ý nghĩa về mặt kinh tế và pháp luật). Bên cạnh đó nữ hoàng cũng có
những diện tích đất thuộc QSH của hoàng gia mà không phải là sở hữu của Nhà
nước.


đạo. Tuy nhiên, mô hình CNXH của các nước này cũng khác nhau và khác với
mô hình CNXH hiện thực của Liên Xô cũ, khác với mô hình CNXH theo quan
điểm của C.Mác. Trong đó, Trung Quốc tự nhận là mô hình CNXH mang đặc
sắc Trung Quốc (nhưng thực chất là mô hình CNTB nhà nước toàn trị một
Đảng), các quốc gia còn lại không có chủ thuyết riêng, về tổ chức bộ máy và
hình thái kinh tế xã hội cũng không rõ ràng theo mô hình nào. Đặc trưng của mô
hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây là nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung cao độ, dựa trên chế độ công hữu về các TLSX chủ yếu
(trong đó đặc biệt là đất đai). Tuy nhiên, chế độ công hữu về đất đai của các
nước thuộc khối XHCN cũng không hoàn toàn giống nhau: Ở Trung Quốc trước
năm 1978 là SHTD, sau này Hiến pháp năm 1982 của Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa tại Điều 10 quy định rõ ràng: Đất đai đô thị thuộc SHNN, đất đai nông thôn
và khu ngoại ô đô thị, đất làm nhà ở và đất tự lưu, đồi núi tự lưu cũng thuộc về
sở hữu tập thể; Ở Liên Xô, trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN LB Xô Viết
Nga thông qua ngày 10 tháng 6 năm 1918 nêu rõ: “Để thực hiện xã hội hóa đất
đai, công bố bãi bỏ SHTN về đất đai và toàn bộ quỹ đất được công bố là tài sản
chung của toàn dân và được chuyển giao miễn phí cho nhân dân lao động sử
dụng, trên cơ sở phân phối bình quân. Toàn bộ đất rừng, lòng đất, mặt nước đều
thuộc về Sở hữu toàn dân (SHTD)” . Chế độ SHTD về đất đai ở Liên xô trước
đây và SHNN về cơ bản được hiểu đồng nhất, nhưng sau này, ở LB Nga, SHNN
về đất đai được làm rõ hơn.
LB XHCN Nam Tư không đi theo mô hình kinh tế của khối các nước
XHCN lúc đó, chế độ sở hữu nói chung, trong đó có đất đai thuộc sở hữu của
nhiều thành phần kinh tế, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, cho phép SHTN về
đất đai.
1.1.3. Công tác quản lý đất đai ở các nước đang phát triển
Nhóm các nước đang phát triển hiện nay chiếm đa số các quốc gia trên thế
giới, có trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức trung bình và thấp. Về chế độ
chính trị, các nước đang phát triển theo đuổi những mô hình chế độ chính trị hết

phải là phần cơ bản.
1.1.4. Công tác quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện duy
nhất. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai. Nhà nước thực hiện các quyền của
một chủ sở hữu như sau:
13


- Quyền định đoạt đối với đất đai:
+ Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt
quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất;
+ Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với
người đang sử dụng đất, thu hồi đất;
+ Định giá đất;
- Quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài
chính về đất:
+ Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;
+ Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất;
+ Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người
sử dụng đất mang lại;
- Nhà nước trao quyền sử dụng đât cho người sử dụng đất thông qua hình
thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử
dụng đất ổn định, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai trong cả nước
- Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ QLNN về
đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện tại, đủ năng lực, bảo đảm quản lý
đất đai có hiệu lực và hiệu quả.
1.2. Đánh giá công tác quản lý nhà nước của Việt Nam qua các thời kì

là nhượng địa của pháp, áp dụng chế độ bảo thủ, điều thổ theo sắc lệnh ngày
02/02/1925, còn các tỉnh khác được lập ty địa chính, thực hiện quản thủ điền thổ
theo hai chế độ: lục điền chủ. Từ năm 1945 đến năm 1955 lập các nha địa chính
tại các phận. Năm 1956 đến năm 1959 lập nha tổng giám đốc địa chính, Địa
hình để thi hành các quốc sách về điền địa và nông nghiệp. Năm 1960 đến năm
1973, thiết lập nha điền địa nhằm xây dụng tài liệu nghiên cứu, tổ chức và điều
hành công tác tam giác đạc, lập bản đồ, sang bản, sổ địa bạ…
* Ở Trung kỳ:
Năm 1927 tiến hành đo đạc ở Trung Kỳ để thâu tóm quyền lực và tăng
cường sức mạnh của chính quyền thực dân ở nông thôn, thực dân Pháp còn tổ
chức lập bản đồ giải thửa và tiến hành đăng ký vào sổ tên chủ sở hữu. Từ năm
1921, các cơ quan địa chính địa phương bắt đầu triển khai công tác này một cách
khẩn trương và đạt hiểu quả. Nhờ vậy, việc xây dựng bản đồ giải thửa đã hoàn
thành năm 1932, tạo cơ sở xác định rõ giới hạn, diện tích và quyền sở hữu các
15


thửa ruộng, đồng thời xác định vị trí ranh giới các làng. Cùng với việc lập sổ địa
chính ở nông thôn, thực dân Pháp còn tiến hành đo đạc, quy chủ và lập sổ quản
lý đất đai ở các đô thị, xây dựng bản đồ theo phương pháp tam giác đạo.
* Ở Nam Kỳ:
Ngày 25 tháng 7 năm 1864 Thực dân Pháp ban hành sắc lệnh quy định “
Tổ chức tư pháp tại Nam Kỳ” khẳng định “ sẽ áp dụng luật Pháp nước Pháp ở
đây với một số sửa đổi”, do đó còn tồn tại song hành hai hệ thống luật pháp khác
nhau về quyền sở hữu ruộng đất của Pháp và triều đình phong kiến Việt Nam.
Nhưng sau đó để đáp ứng yêu cầu xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước cai trị,
bảo vệ quyền lợi của bọn tư sản pháp, chính quyền thực dân đã từng bước vô
hiểu hóa và thủ tiêu hệ thống luật pháp truyền thống của Việt Nam và khẳng
định vai trò độc tôn của luật pháp Pháp trên toàn lãnh thổ nước ta thông qua
việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật khác nhau. Năm 1925 nhà nước

dụng công điền, công thủ chia cho dân nghèo.
Ngày 04 tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất.
* Giai đoạn 1954 - 1960
Ngày 03 tháng 07 năm 1958 Chính phủ ban hành chỉ thị 354/TTg cho tái
lập hệ thống địa chính trong Bộ tài chính.
Năm 1960, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành
( 90% diện tích đất canh tác được tập thể hóa ). Hiến pháp năm 1959 đã xác định
3 hình thức sở hữu đất đai là:
+ Toàn dân
+ Tập thể
+ Tư nhân
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập (Nghị định số 70-CP
ngày 09 tháng 12 năm 1960 và Nghị định số 71-CP ngày 09 tháng 12 năm 1960
của Hội đồng Chính phủ), chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp với
nhiệm vụ quản lý mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp.
Quản lý ruộng đất bao gồm 3 nội dung chủ yếu: Lập bản đồ, địa bạ về ruộng đất,
thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể
ruộng đất, về quyền sở hữu, sử dụng ruộng đất, về tình hình canh tác và cải tạo
ruộng đất; Thống kê diện tích, phân loại chất đất; Nghiên cứu xây dựng các luật
lệ, thể lệ về quản lý ruộng đất trong nông nghiệp và hướng dẫn, kiểm tra việc thi
hành các luật lệ, thể lệ ấy. Hệ thống quản lý ruộng đất được tổ chức thành 4 cấp:
Trung ương là Vụ Quản lý ruộng đất; cấp tỉnh là Phòng Quản lý ruộng đất; cấp
huyện là Bộ phận Quản lý ruộng đất; cấp xã là Cán bộ quản lý ruộng đất.
* Giai đoạn từ 1960 đến 1979

17


Ngày 09/12/1960 Chính phủ Nghị định số 70/NĐ- CP về việc chuyển ngành

1. Điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất
2. Thống kê, đăng ký đất
3. Quy hoạch việc sử dụng đất
4. Giao đất, thu hồi đất và trưng dụng đất
5. Thanh tra việc chấp hành các chế độ về quản lý, sử dụng đất
6. Giải quyết tranh chấp về đất đai.
7. Quy định các chế độ, thể lệ quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện.

18


- Năm 1988 luật đất đai đầu tiên được ban hành. Đây là văn bản luật đầu
tiên chính thức sửa hệ luật đất đai, đưa chế độ sở hữu nông nghiệp đối với đất
đai và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước, giao đất ổn định lâu dài
- Năm 1993 luật đất đai thứ 2 ra đời, cho tới nay vẫn còn sử dụng ( mặc dù
đã qua hai lần sửa đổi ).
Từ quyết định 201 năm 1980 đến luật đất đai năm 1988 cho đến luật đất
đai năm 1993 đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước
thống nhất quản lý và nêu 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, đó là:
1. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân loại, lập bản đồ địa chính.
2. Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất.
3. Banh hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức
thực hiện các văn bản đó.
4. Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất.
5. Đăng ký đất đai, lập quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng
đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử j dụng đất.
6. Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất.
7. Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong quản lý và sử dụng đất đai.
Trong giai đoạn hiện nay, gắn với quá trình đổi mới đất nước, Đảng và

- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai;
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Luật Đất đai 1987 mới chỉ giải quyết mối quan hệ hành chính về đất đai
giữa Nhà nước (tư cách là chủ sở hữu) với người sử dụng đất. Do đó, nội dung
quản lý nhà nước về đất đai không có những nội dung về đánh giá đất, kinh tế
đất, cho thuê đất... Do không thừa nhận đất có giá nên Nhà nước nghiêm cấm
chuyển dịch đất đai dưới mọi hình thức. Những quy định này làm cho quan hệ
đất đai không được vận động theo hướng tích cực.
1.3.1.2. Luật Đất đai 1993
Ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993. Đây là một trong những
luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những
kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật Đất đai 1993 là tích cực, thúc đẩy
phát triển kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội của đất nước.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Luật Đất đai 1993 bao
gồm:
-

Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa

chính;
- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất;
- Ban hành các văn bản về đất đai và tổ chức thực hiện;
20


- Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất;
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử
dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
21


- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong
việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Hiếp pháp năm 1980 ra đời quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý”. Điều này tiếp tục được khẳng định trong Hiếp
pháp năm 1992, luật đất đai năm 1988, 1993, Luật sửa đổi năm 1998 và 2001
và Luật đất đai năm 2003.
Như vậy, Luật đất đai năm 1993 và 2003 là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp
cho Nhà nước trong công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê.
Ngày 01/7/1980 của Hôi đồng Chính phủ đã hành Nghị quyết số 201/CP
về việc tăng cường thống nhất quản lý ruộng đất trong cả nước.
Nghị định số 4/CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất.
Nghị định 38/CP năm 2000 về thu tiền sử dụng đất.
Nghị định số 4/2000/NĐ- CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ quy định thi
hành về luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai.
Nghị định số 66/2001/NĐ- CP ngày 29/9/2001 của Chính phủ quy định về
sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 4/2000/NĐ- CP.
Nghị định số 68/2001/NĐ- CP ngày 01/10/2001 của Chính về quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất.
Nghị định số 79/2001/NĐ- CP quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 17/2001/NĐ- CP ngày 01/11/2001.
Nghị định số 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về triển khai thi hành về Luật đất đai.
Quyết định số 24/2004/QĐ- BTN&MT ngày 10/11/2004 của Bộ Tài

Tên nước
Brunây

Văn bản luật quy định
Luật thu hồi đất 1949, Luật đất
đai 2000

Hình thức sở hữu
Tư hữu, Quốc Vương
Sở hữu quốc vương

2

Campuchia

3

Đông Timo

4

Indônexia

SHTN

Luật đất đai 2001

Sở hữu chính phủ

Quy định của Tổng thống về đất


Hiến pháp (điều 18)

8

Singapore

Luật đất đai 1978

Đất nông nghiệp thuộc
SHNN
SHTD
SHNN
SHTN
SHNN
SHNN
SHTN
23


9

Thái Lan

SHNN

Luật đất đai 2008

SHTN


phủ về thi hành Luật Đất đai 2003, toàn bộ quỹ đất của nước ta hiện nay được
phân thành 3 nhóm, trong đó lại chia nhỏ hơn thành 14 loại như sau:
* Nhóm đất nông nghiệp được chia thành 5 loại đất sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây
lâu năm.
24


- Đất nuôi trồng thuỷ sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác.
- Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và
các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các
loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí
nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo
cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông
sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
* Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành 6 loại đất sau:
- Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình
sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp;
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có
công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
- Đất phi nông nghiệp khác.
- Đất phi nông nghiệp khác là đất có các công trình thờ tự, nhà bảo tàng, nhà
bảo tồn, nhà trưng bầy tác phẩm nghệ thuật, cơ sở sáng tác văn hoá nghệ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status