ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
LÈNG NGỌC MẪN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIẾM SINH HỌC CỦA LOÀI CÂY
VƯƠNG TÙNG (MURRAYA GLABRA GUILAUM) LÀM CƠ SỞ CHO
VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN CÂY RỪNG QUÝ HIẾM
TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC
HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Chính quy
: Quản lý tài nguyên rừng
: Lâm nghiệp
: 2010-2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung
loài cây Vương tùng (Murraya galabra Guillaum) làm cơ sở cho việc bảo tồn và
phát triển nguồn gen cây rừng quý hiếm tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam
Xuân Lạc huyện Chợ Đồn Tỉnh Bắc Kạn ”
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy
giáo ThS. Dương Văn Đoàn và các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp
giúp đỡ của các ban ngành lãnh đạo khu bảo tồn Nam Xuân Lạc và người dân hai
xã: Bản Thi và Xuân Lạc tôi đã hoàn thành khóa luận đúng thời hạn. Qua đây tôi
xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp,
đặc biệt là thầy giáo ThS. Dương Văn Đoàn người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Bên cạnh đó tôi xin cảm ơn đến các ban
ngành lãnh đạo, các cán bộ kiểm lâm viên khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Lạc và bà con trong khu bảo tồn đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận.
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lèng Ngọc Mẫn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích ................................................................................................. 3
1.3. Mục tiêu .................................................................................................. 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học................................ 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn .............................................................................. 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................... 4
4.3.3. Đặc điểm về tái sinh của loài ......................................................... 39
4.3.4. Đặc điểm cây bụi, dây leo và thảm tươi nơi có loài phân bố ......... 40
4.3.5. Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố .............................. 41
4.4. Đặc điểm phân bố của loài ................................................................... 41
4.4.1. Đặc điểm phân bố trong các trạng thái rừng .................................. 41
4.4.2. Đặc điểm phân bố theo độ cao ....................................................... 42
4.5. Sự tác động của con người đến khu vực nghiên cứu ............................ 42
4.6. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài ............................ 46
4.6.1. Các chính sách hoạt động để bảo tồn và phát triển loài Vương tùng... 46
4.6.2. Đề xuất biện pháp bảo tồn .............................................................. 47
4.6.3. Đề xuất biện pháp phát triển .......................................................... 47
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 49
5.1. Kết luận ................................................................................................. 49
5.2. Kiến nghị .............................................................................................. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 52
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt
Giải thích
CS
: Cộng sự
D1,3
: Đường kính 1,3m
: Ô tiêu chuẩn
STT
: Số thứ tự
VQG
: Vườn quốc gia
WWF
: Quỹ bảo vệ động vật hoang dã
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.
Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi ............................ 19
Bảng 4.1.
Một số đặc điểm về sử dụng loài cây Vương tùng của người
dân địa phương............................................................................ 30
Bảng 4.2.
Thống kê sự hiểu biết của người dân về loài cây Vương tùng ... 32
Bảng 4.3.
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Ảnh cành Vương tùng hoa, quả và phân bố của loài ..................... 16
Hình 4.1: Ảnh thân cây Vương tùng trưởng thành ......................................... 33
Hình 4.2: Ảnh lá Vương tùng trưởng thành mặt dưới và trên ........................ 34
Hình 4.3: Ảnh cành lá Vương tùng trưởng thành ........................................... 34
Hình 4.4: Ảnh chồi non cây Vương tùng ........................................................ 34
Hình 4.5: Ảnh lá non cây Vương tùng ............................................................ 34
Hình 4.6: Ảnh cành và quả Vương tùng ......................................................... 36
Hình 4.7: Cây gỗ bị chặt đổ không khai thác do rỗng lói ............................... 43
Hình 4.8: Phần thân cây gỗ không sử dụng được nên bỏ lại .......................... 43
Hình 4.9: Ảnh khai thác Giang ....................................................................... 44
Hình 4.10: Ảnh khai thác Mã hồ ..................................................................... 44
Hinh 4.11: Hiện tượng chăn thả gia súc tại khu bảo tồn ................................. 45
Hình 4.12: Ảnh phát rừng làm nương rẫy ngay trong vùng lõi của khu bảo tồn .... 46
Hình 4.13: Ảnh đốt rừng làm nương rẫy......................................................... 46
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á
giàu về đa dạng sinh học (ĐDSH). Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao
điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miễn Điện, Nam Trung
Quốc, Indonesia và Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành
một trong những khu vực có ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài
sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. ĐDSH có vai
trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh
thái. Đó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng của loài người và sự bền vững
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày
17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới
hành chính của xã Xuân Lạc, Bản Thi và Đồng Lạc chủ yếu là rừng trên núi đá
vôi có nhiều loài cây quý hiếm. Trong khu vực có khoảng 373 loài động vật,
trong đó có 20 loài quý hiếm; hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực
vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Mặc dù có diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối
liền Vườn quốc gia Ba Bể với khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Na Hang. Hiện
trạng rừng ở KBT này còn tương đối nguyên vẹn, nhiều nơi ít bị tác động bởi
con người, còn lưu giữ nhiều loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt
Chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Vạc Hoa và các
loài thực vật quý hiếm như Vương tùng, Huỳnh đường, Nghiến, Đinh, Thông
pà cò các loài lan hài,...(Báo cáo kết quả điều tra phân bố các loài thực vật
quý, hiếm và sinh cảnh chính, 2012)[1].
Núi đá vôi là hệ sinh thái rất đặc biệt của nước ta, nó chứa đựng một
nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quí giá. Nằm trong hệ thống rừng đặc
dụng của Việt Nam, KBTL&SC NXL là vùng núi đá vôi liền kề với VQG Ba
Bể, KBT Na Hang Tuyên Quang. Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên
rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép của các làng bản xung quanh.
Vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng
như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại KBT đã được tỉnh Bắc Kạn rất
quan tâm. Cũng như các KBT khác, KBTL & SCNXL huyện Chợ Đồn tỉnh
Bắc Kạn là nơi lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc
biệt loài cây Vương tùng. Để tìm hiểu một số loài thực vật quý, hiếm đó tôi tiến
hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
loài cây Vương tùng (Murraya galabra Guillaum.) làm cơ sở cho việc bảo tồn
và phát triển nguồn gen cây rừng quý hiếm tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn Tỉnh Bắc Kạn ”
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu
Trong những năm nửa cuối của thế kỷ 20, diện tích rừng của Việt Nam
đã có những biến động đáng kể; chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học
đã và đang bị suy giảm
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên
ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi
trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng
trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần.
∗Về cơ sở sinh học
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng,
đây là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật
quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường...là cơ sở khoa học xây dựng mối
quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên.
∗Về cơ sở bảo tồn
Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã có những giải pháp nhằm
bảo vệ rừng, bảo vệ giá trị đa dạng sinh học. Một trong những giải pháp quan
trọng là việc thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn
quốc. Ngày 8 tháng 9 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng
Chính phủ) đã ban hành chỉ thị số194-CT về việc thành lập hệ thống rừng đặc
dụng với 73 khu, và được chia làm 3 loại: vườn quốc gia (VQG), khu bảo
tồn (KBT) thiên nhiên và khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường. Ngày
17 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định
số192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn
thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010[17]. Hệ thống này có tổng diện tích
gần 2,5 triệu hécta chiếm khoảng 7% diện tích tự nhiên toàn quốc với 126
khu rừng đặc dụng, trong đó có 27 VQG, 49 khu dự trữ thiên nhiên, 13
- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)
+Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã
ban hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP)[14]. Nghị định quy định các loài
động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:
+IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì
mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng).
6
+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì
mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng).
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại KBTL&SCNXL huyện
Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn
CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành
phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong
những loài thực vật cần được bảo tồn đó chính là cây Vương tùng tại
KBTL&SCNXL, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và
thực hiện đề tài.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Trên thế giới
Lịch sử phân loại thực vật
Trong giai đoạn đầu mỗi quốc gia phân chia cây cối theo cách khác nhau
và người ta cũng chưa biết đề ra các nguyên tắc và phương pháp phân loại do
đó phân loại thực vật cũng chưa thành một môn khoa học.
Ở nước cổ Hy lạp theo Phraste (371-286 TC) là người đầu tiên mô tả
khoảng 500 loài cây phân ra cây lớn, cây nhỏ, cây sống trên cạn, cây sống
nghiệp xã hội.Các tổ chức hợp tác bảo vệ rừng như chương trình hợp tác của
TFAP (Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch hành động bảo vệ rừng nhiệt
đới và ITTA, Hiệp ước quốc tế về gỗ nhiệt đới. Các công ước quốc tế đã được
ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học
như: Công ước Cites 1973, IUCN (International Union for Conservation of
Nature and Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn nguồn tài
nguyên thiên nhiên.Nghị định Thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng
Ozon (1987). Tháng 9 năm 1991, hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại
Pari đã vạch ra chiến lược toàn cầu hóa về bảo vệ rừng.
Năm 1991, Hiệp hội thế giới về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và quỹ bảo
vệ động vật hoang dã (WWF) đã đưa ra đề xuất tăng diện tích rừng được bảo
vệ lên 10% vào thế kỷ XXI. Những công ước quốc tế đã được kí kết nhằm
mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới
như: Công ước bảo vệ di sản văn hóa thế giới (1973), công ước về buôn bán
các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Công ước Cites, 1973)[10] công ước
bảo vệ các vùng đất ướt Ramar, Nghị định thư montreal về các chất làm suy
giảm tầng Ozone (1987), ngày 5/6/1992 Công ước đa dạng sinh học được kí
kết và có 170 nước tham gia[11].
Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng
đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi
nói riêng. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự
8
phát triển của xã hội sinh thái học bền vững. Thực tế tại New Zealand cho thấy,
vào những năm 1980, mạng lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên
tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng.
Ngoài ra, phục hồi rừng nghèo trên núi đá vôi như: Viện khoa học
Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là
Các tổ chức hợp tác bảo vệ rừng như chương trình hợp tác của TFAP
(Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch hành động bảo vệ rừng nhiệt đới và
ITTA, Hiệp ước quốc tế về gỗ nhiệt đới. Các công ước quốc tế đã được ký kết
nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học như: công
ước Cites 1973, IUCN (International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên
nhiên.Nghị định Thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozon (1987).
Tháng 9 năm 1991, hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại Pari đã vạch ra
chiến lược toàn cầu hóa về bảo vệ rừng. Năm 1991, Hiệp hội thế giới về bảo
vệ thiên nhiên (IUCN) [19]và quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF)[21] đã
đưa ra đề xuất tăng diện tích rừng được bảo vệ lên 10% vào thế kỷ XXI.
Những công ước quốc tế đã được kí kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên
rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới như: Công ước bảo vệ di sản
văn hóa thế giới (1973), công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt
chủng (Công ước Cites, 1973) , công ước bảo vệ các vùng đất ướt Ramar,
Nghị định thư montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone (1987), ngày
5/6/1992 Công ước đa dạng sinh học được kí kết và có 170 nước tham gia.
Năm 1789 A.jussieu đã đặt tên họ Cam là Rutaceae lấy từ tên chi Ruta
L (dẫn theo A.Engler 1896) sau khi được chính thức đã có một số hệ thống
phân loại họ Cam ra đời. Đáng chú ý là hệ thống của De Candolle (1824),
G.Bentham & J.D.Hooker (1876), Engler (1896)...
Họ Cửu lý hương thường được gọi là họ Cam (danh pháp khoa học:
Rutaceae) là một họ thực vật trong bộ Bồ hòn (Sapindales). Tuy nhiên, ở đây
dùng từ cửu lý hương làm chính do Rutaceae có nguồn gốc từ Ruta là tên gọi
khoa học của chi cửu lý hương (vân hương), trong khi chi Cam có danh pháp
là Citrus. Các loài của họ này nói chung có hoa được chia thành 4 hay 5 phần,
thông thường có mùi thơm rất mạnh. Chúng xuất hiện dưới dạng và kích
thước từ cây thân thảo tới cây bụi và cây thân gỗ nhỏ. Quan trọng nhất về mặt
kinh tế trong họ này là chi Citrus (chi Cam), trong đó bao gồm các loại cây ăn
quả như cam, chanh, quất, quít, bưởi và bưởi chum.
phong phú và đa dạng. Theo các số liệu thống kê mới nhất, thảm thực vật Việt
Nam có trên 12000 loài, trong đó có trên 3000 loài được dùng làm thuốc và
gần 600 loài cây cho tinh dầu. Vì vậy, việc bảo tồn giá trị truyền thống trong
y học dân tộc và phát triển nó theo hướng hiện đại từ nguồn tài nguyên thực
vật phong phú ở nước ta là việc làm cần thiết và cấp bách. Trên thực tế, việc
bảo tồn, bảo vệ rừng đặc dụng là đóng góp tích cực của Việt Nam đối với việc
bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên toàn cầu, nhưng đang bị chính
con người tàn phá và hủy diệt. Để đạt được những thành quả đó Đảng và Nhà
11
nước đã có nhiều chính sách, bộ luật, chương trình dự án nhằm quản lí bảo vệ
và phát triển nguồn tài nguyên rừng.
Các nghiên cứu về bảo tồn
Cụ thể là luật quản lí bảo vệ và phát triển rừng năm 1994, tháng 7/1993
luật đất đai ra đời quy định cụ thể các điều khoản chính sách về đất đai.
Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố,
trong thời gian từ 1992 đến 1996 và năm 2007, đã thực sự phát huy tác dụng,
được sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu giảng dạy, quản lý,
bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật ở nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển
khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi
trường thiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua.
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và
phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã. Điều này được thể hiện
bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời. Ba mốc quan trọng nhất trong
lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT (1992)[15],
Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002)[16] và Nghị Định 32-CP (2006)[14]. Nghị
định 32/2006 CP được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm
2006 nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm cần được bảo
dụng, (2) Có nhiều loài bị đe dọa và nguy cấp, (3) Có các loài đặc hữu.
Các mối đe dọa đối với tài nguyên thực vật hiện nay là rất lớn không
loại trừ các KBT và VQG. Để đánh giá mức độ tác động của con người đã có
nhiều tài liệu đã đề cập tới. Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao
Việt Nam đã khuyến cáo nên đánh giá theo các tiêu chí chính sau:
- Mất loài, thay đổi quần xã.
- Mất rừng, tình trạng manh mún.
- Tăng độ lắng đọng trầm tích, tần suất hạn hán nhiều hơn.
- Sản lượng lâm sản ngoài gỗ giảm sút.
- Mất đi những địa điểm có tầm quan trọng.
Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội, 2000, Bài giảng Bảo tồn đa
dạng sinh học đã đưa ra con người có thể gây nên các tác động ngắn hạn hoặc
dài hạn. Tác động tức thời như chăn thả quá mức có thể làm mất nguồn thức
ăn cho động vật hoang dã. Tác động lâu dài làm mất đi sự tái sinh tự nhiên của
các loài cây thân gỗ và lau sậy chiếm ưu thế. Cũng như đối với các dạng điều
tra khác, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu sâu sắc các mục tiêu đánh giá
tác động của con người và vật nuôi lên các sinh cảnh. Chỉ khi đó ta mới thu
thập thông tin một cách chính xác và kịp thời để lên kế hoạch quản lý.
13
Một chiến lược quản lý KBT hoàn chỉnh bao gồm việc giám sát mức độ
"quấy nhiễu sinh cảnh" do tác động của con người để dự báo được mức độ tác
động trong tương lai và thực thi các biện pháp chống lại .
Đứng trước thực trạng trên Đảng và nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu đối
với công tác quản lí bảo vệ rừng là: Rừng phải có chủ, hạn chế tình trạng phá
rừng, đốt nương làm rẫy, đưa người dân tham gia vào công tác bảo vệ nguồn
tài nguyên rừng với trương trình phát triển kinh tế xã hội đất nước theo hướng
bền vững.
sinh học nhằm bảo tồn các loài quý hiếm là một vấn đề rất được chú ý nó chỉ
là giúp một phần nhỏ vào công tác bảo tồn ,nhưng qua hoạt động này sẽ giúp
ta duy trì và bảo tồn được thêm một loài thực vật đang bị khai thác nhiều chỉ
còn lại số lượng ít, hy vọng sau kết quả nghiên cứu này, nhiều loài cây khác
cũng sẽ được nghiên cứu và bảo tồn.
Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật bản địa
hoang dại hữu ích, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà
nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài thực vật bản địa
hoang dại hữu ích có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương”
trong đó có ở Việt Nam.
Đỗ Tất Lợi (1991)[13] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
- tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang
dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay. Theo Hà Thu Chử
(1996) tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài cây song bao gồm:
Chi mây nếp (Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops) có 4
loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài, chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi
song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chi song voi (Plecomomiopsis) có 1
loài. Ngoài ra tác giả và các cộng sự đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài
thực vật bản địa hoang dại hữu ích, giới thiệu về một số nhóm các loài thực
vật bản địa dại hữu ích có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý các loài thực
vật bản địa hoang dại hữu ích, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát
triển các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích...
Tổng quan về loài cây nghiên cứu
Ở Việt Nam cây Vương tùng với tên gọi khác Cơm nguội, Củ khỉ,
Nguyệt quế nhẵn, Nhâm hội. Tên khoa học Murraya tetramera Huang –
Murraya glab. Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh
giá "bị đe doạ" (T). Thuộc họ cam Rutaceae (Họ Cửu lý hương).
Họ Cam (danh pháp khoa học: Rutaceae) là một họ thực vật trong bộ
Bồ hòn (Sapindales).
Các loài của họ này nói chung có hoa được chia thành 4 hay 5 phần,
Ngoài ra, người ta còn dùng làm nguyên liệu cất tinh dầu để chế thuốc
xoa trị cảm cúm, đau bụng. Gần đây, ngoài những công dụng trên, nhân dân
một số nơi ở nước ta đã cất tinh dầu củ khỉ để dùng phối hợp với một số tinh
dầu khác như bạc hà, khuynh diệp chế dầu xoa bóp, dầu uống chữa cảm mạo,
đau nhức. Có thể dùng tinh dầu để chiết mentol và izomentol để từ đó chuyển
thành mentola.
- Cẩm nang đa dạng sinh học. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội (1997)
- Sách đỏ Việt Nam, phần 2: Thực vật – trang 362
16
- Phân hạng: VU A1a,c,d
- Loài cây Vương tùng có ở Quảng Ninh, Hải Phòng (Cát Hải: đảo Cát
Bà), Ninh Bình (Tam Điệp), Thanh Hóa (Hà Trung, Vĩnh Lộc, Đông Sơn,
Nông Cuống, Nga Sơn, Quảng Xương), Bắc Kạn (KBTL&SCNXL huyện
Chợ Đồn).
Đăc điểm nhận dạng: Cây gỗ nhỏ, thường mọc thành bụi, cao 2-4 m.
Ngọn cành và cuống lá non màu đỏ tím. Lá kép hình lông chim, mọc so le, dài
10-25 cm, có 3-9 lá chét. Lá chét hình mũi mác, dài 3,5-7,5 cm, rộng 1,5-3,5
cm, đầu lá thuôn hẹp tạo thành mũi nhọn, cuống lá dài 3-5 mm. Mặt trên
phiến lá bóng, soi lên ánh sáng thấy rõ nhiều túi tiết tinh dầu. Mép lá nguyên,
có nhiều túi tiết nằm sát mép lá trông như có răng cưa nhỏ. Cụm hoa là một
chùm sim ở đầu cành, mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm. Hoa mẫu 4.
Cánh hoa dài 4-6 mm, rộng 1,5 mm. Nhị 8, bốn nhị ngoài dài 5 mm, bốn nhị
trong dài 4 mm. Bộ nhụy dài khoảng 3 mm, bầu sần sùi. Quả hình cầu hay
bầu dục, đường kính 7-9 mm, chứa 1-2 hạt; vỏ quả có nhiều túi tiết tinh dầu,
khi chín màu đỏ.
Hình 2.1: Ảnh cành Vương tùng hoa, quả và phân bố của loài
(Tuyên Quang). KBT nằm trên diện tích của xã Xuân Lạc và giáp với xã Bản
Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn .
2.3.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn.
* Khí hậu: Theo số liệu khí hậu thuỷ văn của huyện Chợ Đồn thì khu
vực xã Xuân Lạc và xã Bản Thi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè từ
tháng 4 đến tháng 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20,100C; nhiệt độ trung bình cao
nhất 26,70C vào tháng 7; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,50C vào tháng 1.