Ngân Hàng Trung Ương Với Chính Sách Tiền Tệ Trong Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam - Pdf 35

Phần mở đầu
Đổi mới là một cuộc cải cách mang tính chất chuyển từ một nền kinh tế
kế hoạch tập trung, mang nặng tính quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà
nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thay đổi rất cơ
bản, sâu sắc, với một khối lợng công việc đồ sộ, phức tạo, mới mẻ và liên
quan đến hầu hết các mặt của hoạt động kinh tế, xã hội cho đến nay, việc
nghiên cứu một cách có hệ thống công việc đổi mới ở nớc ta vẫn là vấn đề
đang đợc đặt ra để đáp ứng nhu cầu xây dựng các chính sách vĩ mô. Nhiều
chính sách kinh tế mới đợc ban hành và phát huy tác dụng tích cực đáp ứng
đợc nhu cầu phát triển kinh tế trong đó chính sách tiền tệ là một trong những
chính sách kinh tế có vai trò trọng tâm và chủ yếu. Là tổ chức duy nhất có
quyền hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, NHTW đã đa ra những
quốc sách về chính sách tiền tệ nhằm đối phó với những bất ổn định trong nớc và cú sốc từ bên ngài vào. Do đó việc xây dựng và điều hành chính sách
tiền tệ của ngân hàng trung ơng trong điều kiện mới có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng.
Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, em chọn đề tài
"Ngân hàng trung ơng với chính sách tiền tệ trong quản lý kinh tế ở Việt
Nam"
Đề tài đợc kết cấu nh sau:
Chơng I: Lý luận chung về ngân hàng trung ơng và chính sách tiền tệ.
Chơng II: Ngân hàng trung ơng và chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong
thời gian qua.
Chơng III: Một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính
sách tiền tệ ở Việt Nam


Chơng I: Lý luận chung về ngân hàng trung ơng
và chính sách tiền tệ.
1.1. Ngân hàng trung ơng
1.1.1. Khái niệm ngân hàng trung ơng (NHTW)


+ Tỷ suất triết khấu: là lãi suất mà NHTW tính với các NHTM khi họ
muốn vay tiền.
+ Nghiệp vụ thị trờng mở phát sinh khi NHTW thay đổi cơ số tiền bằng
cách mua hoặc bán ra các chứng khoán tài chính trên thị trờng mở.
1.2.2. Ngân hàng trung ơng là ngân hàng của ngân hàng
Khi thực hiện chức năng này, NHTW cung ứng đầy đủ các dịch vụ của
một ngân hàng cho các ngân hàng trung gian bao gồm:
+ Mở tài khoản tiền gửi và quản lý tiền dự trữ của hệ thống NHTM tiền
gửi của NHTM tại NHTW gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh
toán.
Tiền gửi dự trữ bắt buộc hay còn gọi là dự trữ phát định là phần tiền đợc
giữ lại trong tổng số vốn mà NHTM huy động đợc, nó đợc gửi ở một tài
khoản của NHTW và NHTW quản lý phần tiền dự trữ này cho NHTM nhằm
đảm bảo khả năng thanh toán trớc nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng.
Tiền gửi thanh toán: các ngân hàng thế giới phải duy trì thờng xuyên
một lợng tiền gửi trên tài khoản tại NHTW để thực hiện các nhu cầu giao
dịch với các ngân hàng khác hoặc đáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHTM.
+ Cấp tín dụng cho NHTM
NHTW cho các NHTM vay nhằm mục đích
Phát hành thêm tiền trung ơng theo kế hoạch.
Bổ xung lợng vốn khả dụng cho hoạt động của các NHTM một cách thờng xuyên.
Là cứu cánh cho vay cuối cùng sẵn sàng cho các ngân hàng và định chế
tài chính khác vay tiền khi cơn khủng hoảng tài chính đe doạ hệ thống tài
chính.
1.2.3. NHTW là ngân hàng của chính phủ
Các dịch vụ ngân hàng mà MHTW cung cấp cho chính phủ bao gồm
+ NHTW là đại diện của ngân hàng nhà nớc.
Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của từng nhà nớc, chính phủ có thể uỷ quyền
cho bộ tài chính kho bạc đứng lên làm chủ tài khoản tại NHTW. Tiền thuế

trên các quỹ cho vay đợc tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội và với một hệ
thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trờng.
Khi các TCTD thiếu phơng tiện thanhtoán thì họ đến NHTW xin tái cấp
vốn. NHTW luôn là ngời cho vay cuối cùng, đóng vai trò chủ nợ với các tổ
chức tín dụng.
1.2.1.2. Chính sách ngoại hối
Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản có giá trị thanh
toán đối ngoại, phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trởng kinh tế
bền vững và gia tăng việc làm trong xã hội.
Chính sách ngoại hối đợc thể hiện trên các phơng diện sau:
Thứ nhất, chính sách hối đoái: chính sách hối đoái thờng hớng vào việc
chặn tích trữ ngoại hối trong các pháp nhân và thể nhân, quản lý việc mua
bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW.


Thứ hai, dự trữ ngoại hối: mỗi nớc đều có dự trữ ngoại hối tuỳ thuộc
vào khả năng của nền kinh tế đó. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu
thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lợng tiền trong nớc. Khi NHTW mua
ngoại tệ sẽ làm gia tăng dự trữ ngoại tệ, gia tăng khối lợng tiền tệ và ngợc
lại. Qua việc mua bán ngoại hối, NHTW can thiệp vào thị trờng, chủ động
tác động vào tỷ giá hối đoái theo ý muốn nhất định.
Thứ ba, tỷ giá hối đoái phản ánh tơng quan sức mua giữa nội tệ và
ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái ảnh hởng trực tiếp đến xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá
hối đoái quá thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu. Ngợc lại, nếu tỷ giá hối đoái quá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu. Do tầm quan
trọng của nó, nên NHTW rất quan tâm và khi cần thiết dùng nhiều biện pháp
để ổn định tỷ giá hối đoái.
1.2.1.3. Chính sách đối với ngân sách nhà nớc.
Tuỳ theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay không cân bằng mà ảnh
hởng tích cực hay tiêu cực voứi những mức độ khác nhau đối với lu thông
tiền tệ. Trờng hợp ngân sách thăng bằng vẫn có thể tác động mạnh tới CSTT.

suất) bắt buộc các TCTD phải thực hiện biện pháp này có u điểm là giúp
ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối u để cho vay, loại bỏ những dự án kinh
tế kém hiệu. Nhìn chung việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay
ngày càng ít đợc áp dụng ở các nớc theo cơ chế thị trờng. Bởi vì, trong cơ
chế thị trờng, lãi suất nhạy cảm với đầu t, nó phải đợc vận động theo quan hệ
cung cầu vốn trên thị trờng.
+ ấn định hạn mức tín dụng đối với các TCTD
Đây là biện pháp mà NHTW khống chế mức cho vay tối đa đối với các
TCTD. Trên cơ sở quy mô, tình hình hoạt động cũng nh khả năng huy động
vốn của từng TCTD, NHTW tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng
TCTD, đó chính là mức tối đa mà mỗi TCTD đợc phép vay từ NHTW. Với
việc sử dụng biện pháp này tạocho NHTW dễ đạt đợc các mục tiêu trung
gian CSTT. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trờng với sự biến động thờng xuyên của cung và cầu tiền vay, biện pháp này tỏ ra không phù hợp vì
không điều chỉnh kịp thời với sự biến động của nền kinh tế.
Bên cạnh việc quy định mức tín dụng đối với các TCTD NHTW còn
quy định hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế.
Trong trờng hợp này, NHTW có thể quy định giới hạn khối lợng tín
dụng mà các TCTD có thể cung cấp cho nền kinh tế. Nó đợc sử dụng để
kiếm soát chặt chẽ sự mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện chính sách thắt
chặt tiền tệ.

+ Phát hành tín phiếu NHTW.
Trong một số trờng hợp, NHTW có thể phát hành tín phiếu để giảm
khối lợng tiền trong lu thông. Việc phân bổ tín phiếu mang tính chất bắt
buộc đối với TCTD. Việc phát hành tín phiếu NHTW thờng áp dụng trong trờng hợp lạm phát cao, hoặc đợc sử dụng để hỗ trợ một số công cụ khác.
+ Phát hành trực tiếp cho NSNN và cho đầu t.


Trong trờng hợp NSNN bị thiếu hụt, NHTW phát hành tiền để bù đắp
sự thiếu hụt ấy. Biện pháp nàylàm gia tăng khối lợng trong lu thông, hậu quả

Nh vậy thông qua công cụ dự trữ bắt buộc NHTW tác động cả về khối
lợng và giả cả tín dụng của các NHTM.
Về số lợng: Tăng, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là thắt chặt
hay nới lỏng khả năng tạo tiền của NHTM.


Về chi phí: tăng, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là làm tăng
hoặc giảm cho phí tín dụng của các NHTM.
Do đó dự trữ bắt buộc tạo ra tác động kép (vừa tác động về khối lợng,
vừa tác động về chi phí) để buộc các NHTM có thể mở rộng hay hạn chế tín
dụng.
+ Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là cách để NHTW đa tiền ra lu thông, đồng thời khống chế
về số lợng và chất lợng tín dụng của cac TCTD.
Nếu căn cứ vào mục đích, các khoản tái tái cấp vốn, NHTW tác động
đến chi phí vay mợn của các TCTD tại NHTW. Nếu lãi suất tái cấp vốn tăng
lên, chi phí các khoản vay từ NHTW tăng lên các TCTD sẽ bất lợi trong vay
vốn. Trong điều kiện đó, các TCTD không có khả năng bành trớng tín dụng.
Nếu lãi suất tái cấp vốn giảm xuống, các TCTD có khả năng bành trớc tín
dụng do đợc bất lợi trong việc vay vốn của NHTW.
Điều kiện để NHTW tái cấp vốn là
- Còn hạn mức tín dụng dành cho TCTD đó
- Các khoản tín dụng đem đến tái chiết khấu phải lành mạnh và đảm
bảo khả năng thu hồi nợ.
ở các nớc công cụ tái cấp vốn đợc sử dụng một cách phổ biến để tác
động đến cơ số tiền và cung ứng tiền tệ và qua đó thực hiện các mục tiêu về
tăng trởng kinh tế và ổn định tiền tệ. Qua công cụ tái cấp vốn, NHTW là ngời cho vay cuối cùng tái cấp vốn đợc thực hiện trên nền các giấy tờ có giá,
nếu thời hạn vay mợn là rõ ràng, việc hoàn trả nợ tơng đối chắc chắn, tiền
vay vận động phù hợp với sự vận động của quy luật cung cầu thị trờng.
Mặc dù công cụ tái cấp vốn có nhiều công dụng trong việc thực hiện

rộng, với việc tăng cung ứng tiền danh nghĩa. Với mức giá đã cho, cung tiền
thực hiện tăng lên, đờng Thơng mại dịch phải đến LM'. Lãi suất giảm xuống
dới mức lãi suất của thế giới. Các nhà đầu t trong nớc sẽ "tìm kiếm cơ hội
đầu t ở nớc ngoài". Một luồng vốn chạy ra nớc ngoài. Ngân hàng trung ơng
phải bán dự trữ ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái không đổi.
Quá trình này kéo dài cho đến khi mức cung tiền và lãi suất trở lại mức
ban đầu
Nh vậy, CSTT tỏ ra kém hiệu lực hơn so với nền kinh tế đóng. ở đây tác
động của sự mở rộng tiền tệ đã bị tiêu bởi luồng vận động của t bản ra nớc
ngoài do lãi suất giảm đi, mặc dù, đầu t t nhân trong nớc tăng lên.
i
LM
LM'

i =i

E

E''
CM
E'
IS


+ Tác động của CSTT trong nền kinh tế mở với hệ thống tỷ giá linh
hoạt, t bản vận động hoàn toàn tự do. Mở rộng tiền tệ làm tăng cung ứng tiền
thực tế, đờng LM chuyển đến LM'. Lãi suất giảm làm giá hối đoái của đồng
nôi địa giảm (e giảm, E tăng) đồng nội địa giảm giá làm tăng khả năng cạnh
tranh. Xuất khẩu ròng tăng lên, làm đờng IS giảm chuyển sang bên phải đến
đờng IS'. Lãi suất trở về mức lãi suất của thị trờng thế giới, cân bằng mới đợc

Ngân hàng trung ơng của Việt Nam với tên gọi là ngân hàng nhà nớc
Việt Nam đợc thành lập từ năm 1951 trong điều kiện nền kinh tế nông
nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Nó là hệ thống ngân hàng một cấp phù hợp với
cơ chế quản lý nền kinh tế theo kế hoạch hoá tập trung và mang tính bao cáp
triệt để. Hệ thống ngân hàng một cấp này chỉ có một ngân hàng duy nhất là
NHTW vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa thực hiện chức năng kinh
doanh cơ cấu mạng lới theo cơ cấu quản lý hành chính.
Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng, năm 1986 hệ thống
ngân hàng một cấp đợc chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Tuy nhiên,
chỉ sau khi ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng (23/5/1990) thì hệ thống
ngân hàng 2 cấp ở Việt Nam mới thực sự đợc xây dựng phù hợp với mô hình
ngân hàng hai cấp của nền kinh tế thị trờng. Khái niệm NHTW lần đầu tiên
đợc đề cập trong pháp lệnh ngân hàng (5/1990) và trong luật ngân hàng nhà
nớc (12/1997).
"NHNN Việt Nam là cơ quan của chính phủ và là NHTW của nớc
CHXHCN Việt Nam, ngân hàng nhà nớc đợc thực hiện chức năng quản lý
Nhà nớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền,
ngân hàng của các tổ chức tín dụng và làm dịch vụ tiền tệ cho chính phủ".
Đặc điểm của hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam.
Phân biệt rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ giữa ngân hàng nhà nớc và
các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng nhà nớc đóng vai trò là ngân hàng phát hành tiền và các tổ
chức tín dụng.
Ngân hàng nhà nớc đóng vai trò là ngân hàng phát hành tiền và thực
hiện quản lý nhà nớc trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng nhằm vào các mục tiêu
của chính sách tiền tệ với trọng tâm là ổn định tiền tệ. Ngân hàng thơng mại
và các tổ chức tín dụng khác là những doanh nghiệp kinh doanh về tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận.
2.2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam thời gian qua.
2.2.1. Chính sách tiền tệ và việc sử dụng các công cụ chính sách tiền

đồng.
Về hàng hoá giao dịch, theo quy chế hiện hành thì chỉ có các giấy tờ có
giá ngắn hạn mới đợc mua bán ở thị trờng mở, song cho đến nay, chỉ có tín
phiếu kho bạc và tín phiếu ngân hàng nhà nớc đợc mua bán. Tín phiếu ngân
hàng nhà nớc đợc mua bán nhiều nhất với số lợng 1.070 tỷ/1.448.500 tỷ
đồng. Tín phiếu kho bạc nhà nớc chỉ có 378,500 tỷ đồng nếu tính theo giá
trị khi đến hạn thanh toán. Nh vậy hàng hoá ở thị trờng mở là khá đơn điệu
và chỉ tập trung ở các ngân hàng thơng mại quốc doanh.


Về phơng thức giao dịch các phiên giao dịch vừa qua chỉ áp dụng phơng thức mua bán hẳn với tín phiếu ngân hàng nhà nớc, phơng thức mua có
kỳ hạn đối với tín phiếu kho bạc nhà nớc, còn phơng thức bán hẳn ít đợc thực
hiện và đặc biệt phơng thức bán có kỳ hạn cha đợc thực thi. Tính đến ngày
15/11/2000, doanh số trúng thầu ở hình thức mua hẳn ở 13 phiên giao dịch là
480,50 tỷ đồng doanh số bán hẳn là 550 tỷ đồng. Phơng thức đấu thầu thờng
là đấu thầu lãi suất.
2.2.1.2. Công cụ lãi suất cho vay chiết khấu.
Lãi suất tái chiết khấu là một công cụ quan trọng giúp ngân hàng trung
ơng thực hiện chính sách tiền tệ, nhng việc áp dụng công cụ này ở Việt Nam
những năm vừa qua còn đang ở trạng thái giản đơn do các phơng tiện làm
căn cứ để NHNN thực hiện cho vay chiết khấu còn cha hoàn thiện (đó là các
thơng phiếu, hối phiếu).
Trong quá trình c ho vay chiết khấu, NHNN luôn điều chỉnh lãi suất
cho vay lãi suất phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ. Có thể nói trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây cho vay
chiết khấu thực sự trở thành công cụ đắc lực trong điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN Việt Nam. Việc điều chỉnh lãi suất cho vay chiết khấu ở
NHNN những năm vừa qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của
các NHTM và khả năng huy động vốn trong nền kinh tế đã tăng lên nhiều.
Cụ thể: trong năm 1997 lãi suất chiết khấu đợc điều chỉnh nhiều lần phù hợp

tiền cung ứng hạn mức tín dụng đối với tất cả NHTM là 34,5% (năm 1992)
và đã đạt đợc kết quả thực tế rất khả quan là mức tăng trởng kinh tế tăng gấp
2 lần so với dự kiến, mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều, tiền tệ dần đi
vào ổn định. Những năm sau đó, để kiểm soát lạm phát, NHNN cũng đa ra
tỷ lệ hạn mức tín dụng ở mức vừa phải cho các NHTM nhng tình hình thực
tế có khác đó là hầu hết các NHTM đều có xu hớng vợt qua chỉ tiêu mức tín
dụng theo kế hoạch đã đợc giao. Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ
hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng
của tổng phơng tiện thanh toán. Hơn nữa việc mở rộng tín dụng trong giai
đoạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng trởng kinh tế, nên tiếp tục thực hiện
hạn mức tín dụng sẽ tạo ra thêm những nhân tố khó khăn cho các NHTM
trong việc mở rộng tín dụng, vì vậy từ quý II năm 1998, NHNN đã không áp
dụng công cụ này nh 1 công cụ thờng xuyên để điều hành CSTT.
2.2.1.5. Công cụ lãi suất.
ở Việt Nam lãi suất đợc sử dụng nh công cụ của CSTT. Đặc biệt những
năm gần đây, việc điều chỉnh lãi xuất theo hớng từng bớc nới nỏng của
NHNN đợc coi nh một đối sách nhạy bén trớc những tăng giảm của cung
cầu về tiền tệ trong giai doạn đầu của thời kỳ quá độ, năm 1989 NHNN
thực hiện một cơ cấu kiểm soát lãi xuất cho vay và lãi xuất tiền gửi phức tạp,
ổn định các mức lãi xuất tiền gửi, lãi xuất cho vay cụ thể theo đối tợng,
ngành nghề kinh tế và kỳ hạn vay mợn.
Năm 1990, cơ chế lãi xuất trần tín dụng và sàn tiền gửi đã đợc áp dụng
nhng vẫn đợc phân biệt theo kỳ hạn và loại hình khách hàng.


Kể từ năm 1993, NHNN đã bỏ hản hình thức lãi xuất theo ngành , chủ
quy định các mức trần, lãi xuất theo kỳ hạn giao dịch. Cũng vào thời gian
này, cơ chế lãi xuất thoả thuận đã đợc thí điển áp dụng đối với nguồn vốn
hình thành do phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Trên thị trờng vì cầu tín dụng
cao hơn nên cũng lên lãi xuất cho vay đã đợc đẩy lân rất cao và cơ chế lãi

các NHTM cạnh tranh nhau đồng loạt tăng lãi xuất huy động vốn lên một


giới hạn nhất định, còn lãi xuất cho vay thì hầu hết nh không tăng, mức lãi
xuất tiền gửi VNĐ cao nhất của kỳ hạn 12 tháng ở các NHTM cổ phần lên
tới 0,6 -0,65%/ tháng, kỳ hạn 6 tháng: 0,4-0,55%/ tháng tiền gửi USĐ kỳ hạn
12 tháng phổ biến ở các ngân hàng là 5,5 % -6% năm. Nh vậy, hiện tại lãi
xuất cho vay nội tệ (VNĐ) hiện nay ở các Việt Nam 7,5% -10%/ năm thấp
nhất trong hơn 10 năm qua và lãi xuất cơ bản là 0,75%/ tháng.
2.3. Đánh giá chung việc điều hành và thực hiện chính sách tiền tệ
ở Việt Nam, thời gian qua.
2.3.1. CSTT với kiểm soát lạm phát tỷ lệ lạm phát thấp là mục tiêu
của mọi nền kinh tế. Với vai trò to lớn của mình để làm đợc điều đó, NHNN
Việt Nam đã giảm tiến hành thực hiện những công cụ của CSTT theo hớng
có lợi nhất. Theo từng thời kỳ đạt đợc những kết quả to lớn nhất.
Có thể thấy tỷ lệ lạm phát ở nớc ta các thời kỳ:
Năm
91
92
93
94
95
96
97
98
99
Lạm
6,8 17,5 5,2
14,4 12,7 4,5
3,7

Năm
GDP (%)
CN(%)
NN (%)
Dịch vụ
91
6
9,9
2,2
8,3
92
8,6
12,6
6,3
8,6
93
8,1
12,1
3,8
9,2
94
8,5
13,0
4,5
10,3
95
9,5
13,9
4,7
10,9

năm 1998 và 1999tuy có tăng trởng song ở mức thấp nhất và có xu hớng
chậm lại ở một số ngành.
Năm 2000, tốc độ tăng trởng kinh tế đạt 6,7% vợt mức chỉ tiêu đầu năm
do Quốc hội đề ra là 5,5 -6% và cao hơn nhiều so với năm 1999 là 4,8%.
Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tăng 15,5% (kế hoạch là 10,5 11%) giá trị sản xuất lâm, ng nghiệp là 4,9% (kế hoạch 3,5% - 4%) dịch vụ
tăng 6% (kế hoạch là 5 - 5,5%). Đến năm 2002 tốc độ tăng trởng kinh tế nớc
ta đạt 7% chỉ đứng sau Trung Quốc.
Nh vậy, qua bức tranh tổng thể ta thấy nền kinh tế Việt Nam đã có
những tăng trởng khá cả về lợng tuyệt đối cũng nh tốc độ (so với cùng kỳ
các năm trớc). Nét nổi bật là giá trị sản xuất nông nghiệp và dịch vụ đều tăng
so với cùng kỳ năm trớc, ngành công nghiệp duy trì đợc tốc độ tăng 2 chữ
số với mức cao nhất so với cùng kỳ trong 4 năm trớc đó.
2.3.3. Chính sách tiền tệ với ổn định việc làm.
Tăng trởng kinh tế cao ổn định đã góp phần giải quyết nhiều mặt về xã
hội trong đó đặc biệt lu tâm tới việc làm. Từ trớc đến nay lao động trong lĩnh


vực nông nghiệp vẫn chiếm đa số (70% dân số). Đây là loại hình lao động có
tính chất mùa vụ. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự dịch chuyển cơ cấu
kinh tế theo hớng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ
trọng ngành nông nghiệp. Sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch
vụ trong thời gian qua đòi hỏi phải đợc bổ sung lực lợng lao động. Bên cạnh
đó là việc mở rộng vốn đầu t cho mỗi thành phần kinh tế cũng cần phải sử
dụng số lợng lao động lớn hơn. Đây là những yếu tố giúp tỷ lệ thất nghiệp
giảm xuống.
Theo báo cáo thống kê thì những năm gần đây, Việt Nam có tỷ lệ tạo
việc làm nhanh hơn việc tăng dân số, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp có chiều hớng
giảm đi. Ước tính trong mỗi năm bình quân giải quyết việc làm mới cho
khoảng 1,3 triệu ngời. Rõ ràng, thông qua việc mở rộng đầu t tín dụng cho
các thành phần kinh tế, tạo điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh và dịch

động rất thấp. Nh vậy, tỷ giá không còn đợc điều chỉnh, mà là đợc hình
thành trên thị trờng.
Thông qua can thiệp và công bố giá giao dịch bình quân trên thị trờng
ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá giữa đồng Việt Nam và
đô la Mỹ (USD) dần dần, đều đặt qua các phiên giao dịch, không gây ra các
cú sốc về tăng đột biến tỷ giá, gây bất lợi cho các doanh nghiệp và thị trờng.
Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua, NHNNVN đã không ngừng đẩy
mạnh và phát triển mối quan hệ với các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế và
với ngân hàng các nớc, nhằm tranh thủ các nguồn tài trợ, các nguồn vay vốn
từ các tổ chức này nhằm: một mặt tăng cờng đầu t khôi phục và phát triển
nền kinh tế trong nớc, mặt khác đẩy nhanh quá trình thiết lập và hội nhập với
cộng đồng tài chính, tiền tệ quốc tế của Việt Nam.
Ngoài những thành tựu kể trên, quá trình thực thi CSTT của hệ thống
NHVN những năm qua còn góp phần đáng kể vào các quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc vẫn còn những vấn đề tồn tại
trong quá trình thực thi CSTT ở Việt Nam.
2.3.5. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực thi ở Việt Nam
những năm qua.
2.3.5.1. Về việc sử dụng các công cụ của CSTT
a. Những tồn tại của sử dụng nghiệp vụ thị trờng mở
Có thể nhận xét hoạt động của thị trờng mở vừa qua rằng:
+ Các tổ chức tín dụng cha tham gia thờng xuyên vào các phiên giao
dịch cách 10 ngày/ 1 lần, tạo ra quang cảnh khá buồn tẻ ở từng phiêi hội.
+ Hàng hoá giao dịch ở thị trờng mở chỉ dừng lại ở giấy tờ có giá trị
ngắn hạn mà tập trung vào 2 loại là tín phiếu NHNN và tín phiếu kho bạc.
Đây là khó khăn lớn nhất của nghiệp vụ thị trờng mở hiện nay.
+ Các phiếu đấu thầu lãi suất có tính cạnh tranh cao nên các NHTM và
các TCTD nhỏ không đủ tham gia, tạo ra tình huống cha sôi động của thị trờng.
+ Thị trờng thứ chấp của thị trờng mở bán lại tín phiếu giữa các TCTD

đợc thống kê.
d. Những tồn tại sử dụng hạn mức tín dụng.
Công cụ hạn mức tín dụng chỉ phù hợp với quá trình chuyển đổi kinh tế
trong giai đoạn đầu, nhng trong tơng lai sẽ còn phù hợp nữa. Nếu trong thời
kỳ đầu của quá trình đổi mới, công cụ này có tác dụng tích cực đối với việc
kiểm soát cung tiền nhằm đẩy lùi lạm phát, thì nay, hiệu quả của nó giảm
hẳn. Vì vậy từ quý II/ 1998, NHNN đã bỏ việc ấn định hạn mức tín dụng đối
với các TCTD.
e. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng.
Với chính sách và thành tựu đổi mới kinh tế, Việt Nam đã xây dựng đợc
những cơ sở quan trọng cho một nền kinh tế và một hệ thống ngân hàng
đang đợc nhanh chóng đổi mới, có tính bớc ngoặt phù hợp với cơ chế thị trờng. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới ngành ngân hàng và quá trình hội
nhập khu vực và quốc tế, hệ thống NHVN đã bộc lộ những yếu kém bên


trong về khuôn khổ pháp lý, hiệu quả quản lý và kinh doanh đòi hỏi phải có
những biện pháp cải cách mạnh mẽ và hết sức cấp bách không thể trì hoãn đợc.
f. Những tồn tại khác
Việc bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nớc của NHTW là một trong
những nguyên nhân làm cho lạm phát của Việt Nam tuy bị đẩy lùi nhng vẫn
còn tiềm ẩn với tỷ lệ cao.
Qúa trình thực thi CSTT của hệ thống ngân hàng đôi khi còn thiếu tính
tự chủ.
Những hạn chế trên đây chứng tỏ quá trình thực thi CSTT của Việt Nam
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng vẫn cần phải tiếp tục bổ
sung và hoàn thiện. Có nh vậy thì CSTT mới thực sự phát huy vai trò điều
tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trờng.


Chơng III: Một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới

trong từng thời kỳ.
Theo quy chế nghiệp vụ thị trờng mở, NHTW có thể thực hiện đấu thầu
khối lợng hoặc đấu thầu lãi suất. Việc đấu thầu khối lợng xảy ra khi lãi suất
cố định đợc tính toán và chỉ đạo, còn đấu thầu lãi suất sẽ xác định lãi suất sẽ


trúng thầu tại thời điểm mà khối lợng cần bơm vào hay rút ra khỏi lu thông
đạt đợc. Chính các mức lãi suất này sẽ quyết định giá của giấy tờ có giá trị
trên thị trờng mở. Để khuyến khích các TCTD tham gia nghiệp vụ thị trờng
ở, NHNN cần kết hợp cả hình thức đấu thầu khối lợng và đấu thầu lãi suất.
+ Hoàn thiện thị trờng liên ngân hàng
Thị trờng mở và nghiệp vụ thị trờng mở chỉ thực sự hữu hiệu trên cơ sở
thị trờng liên ngân hàng phát triển. Trong lịch sự thị trờng liên ngân hàng
hoạt động trớc khi thị trờng mở hoạt động. Thị trờng liên ngân hàng chính là
nơi xác định nhu cầu và khả năng vốn khả dụng của các NHTM, nơi mà
NHTW nắm bắt đợc một cách nhanh nhậy nhu cầu vốn của nền kinh tế qua
hoạt động của NHTM để quyết định sử dụng công cụ CSTT thích hợp. ở Việt
Nam, thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng có vai trò khá lớn trong luân chuyển
vốn ngoại tệ, thị trờng nội tệ liên ngân hàng gần nh đóng băng, điều này đã
làm giảm đáng kể khả năng quản lý của NHNN cũng nh sự phối hợp giữa thị
trờng chứng khoán - thị trờng mở - thị trờng tiền tệ. Vì vậy, việc hoàn thiện
thị trờng liên ngân hàng cần phải xem là cơ sở cho các hoạt động khác của
NHNN trong bối cảnh các thị trờng tài chính đã thiết lập và đi vào hoạt
động, hệ thống ngân hàng sẽ có sự cải cách mạnh mẽ, xu thế hội nhập quốc
tế sẽ trở thành hiện thực ở Việt Nam. Hoàn thiện hệ thống liên ngân hàng
nêu là một mối quan tâm đặc biệt của NHNN trong thời gian tới.
3.1.2. Chính sách lãi suất
Tính đến thời điểm hiện nay, một bộ phận lớn lãi suất tiền gửi bằng
đồng Việt Nam (trừ lãi suất kỳ phiếu, trái phiếu của NHTM) lãi suất tiền gửi
và cho vay ngoại tệ (trừ lãi suất tiền gửi bằng đô la Mỹ của các pháp nhân

sản lợng tiềm năng)
Khi cho rằng tổng cầu ở mức quá thấp có thể dùng chính sách mở rộng
tài chính và nới lỏng tiền tệ, đờng IS và LM dịch chuyển xa sang bên phải,
tổng cầu và sản lợng tăng mạnh.
Nếu tổng cầu ở mức quá cao, có thể dùng chính sách tài chính thắt chặt
và tiền tệ chặt để giảm mạnh tổng cầu.
Khi tổng cầu ở mức vừa phải, sản lợng tơng đối ổn định ở mức dự kiến,
có thể sử dụng hỗn hợp tài chính chặt chẽ - tiền tệ nới lỏng hoặc tài chính
chặt chẽ - tiền tệ nới lỏng hoặc tài chính mở rộng - tiền tệ chặt chẽ để làm
biến đổi thành phần của tổng cầu. Với hỗn hợp tài chính chặt chẽ và tiền tệ
nới lỏng vừa đủ để tổng cầu không thay đổi, nhng tiêu dùng và đầu t tăng
lên, chi tiêu chính phủ giảm xuống. Hỗn hợp này có thể ổn định sản lợng
hiện taị nhng có lợi cho sự tăng trởng tơng lai nhờ mở roọng quỹ vốn, sẽ có
thêm việc làm với năng suất cao hơn.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ để quản lý (kiểm soát) tổng cầu thờng
gặp phải trở ngại là lạm phát trong những điều kiện nào đó về cung, chính
sách tiền tệ nới lỏng có thể gia tăng của mức cung tiền tệ nới lỏng có thể
không đẩy đợc đờng LM sang phải, toàn bộ phần gia tăng của mức cung tiền


không có ảnh hởng đến tổng cầu mà chuyển toàn bộ vào giá làm cho lạm
phát trở nên trầm trọng.
3.3. Đổi mới thủ tục hành chính và bộ máy hành chính.
Những năm gần đây, NHTW đã điều chỉnh rất nhiều vấn đề để phù hợp
với nền t thị trờng hiện nay. Xong vấn đề các TCTD và các doanh nghiệp
quan tâm đó là thủ tục hành chính còn quá rắc rối, nhiều thủ tục trung gian,
bộ máy hành chính cồng kềnh không thích hợp với cơ chế thị trờng linh
động. Để đáp ứng yêu cầu trên Đảng và nhà nớc trên cơ sở tiếp thu, ứng
dụng mô hình của hệ thống NHTW của một số nớc đã thành công.
+ Làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận về ngân hàng, vai trò của Nhà nớc đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status