LỜI MỞ ĐẦU
Nếu như thế kỷ XX trong lịch sử Việt Nam là “thế kỷ của những biến đổi
to lớn và sâu sắc, thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập tự
do thống nhất Tổ quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý
nghĩa lịch sử và thời đại”, thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng
của toàn dân tộc chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội
chủ nghĩa. Sau 20 năm đổi mới thế và lực của nước ta đã lơn mạnh hơn
nhiều , để tiếp tục phát triển vươn lên tầm thế giới thì quan trọng và cơ
bản nhất phải biết kết hợp giữa Công nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Gắn Với
Phát Triển Kinh Tế Tri Thức . Hơn thế nữa ,loài người đã trải qua hai
nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của
nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh này, bộ phận
quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của
thời đại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công
nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin
học.... Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ
gen, nhân bản vô tính... đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn
toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người
đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng
trưởng kinh tế từ tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nước
nghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển
kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu.Hơn nữa chúng ta đang trên
con đường tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không
thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức để đưa nền kinh tế
nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới. Góp phần vào chiến lược
phát triển kinh tế,tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoa,hiện đại
hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức,tìm hướng đi đúng đắn cho
nền kinh tế tri thức,phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh đất nước,phù hợp
- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi
bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự
án
kinh
tế
xã
hội.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và
lãnh
thổ.
- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các
ngành lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao.
III. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức:
- Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông
dân.
+ Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một vấn đề lớn của
quá trình công nghiệp hóa đối với tất cả các nước tiến hành công
nghiệp hóa trên thế giới, bởi vì công nghiệp hóa là quá trình thu hẹp
nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp.
+ Về quy hoạch phát triển nông thôn:
-Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn, thực
hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã,
ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh.
-Hình thành các khu dân cư đô thị với kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
đồng bộ như thủy lợi, giao thông, điện nước, cụm công nghiệp,
trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ…
-Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn
hóa, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê
tín dị đoan, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
+ Về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn:
Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở
các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công
nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới. Chuyển dịch cơ cấu
lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm
nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo
điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực
nông
thôn,
kể
cả
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư
liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư
của các tập đoàn kinh tế lớn nước ngoài và các công ty lớn xuyên
quốc
gia.
Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự
án quan trọng để khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu luyện kim, cơ
khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính
sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Thu hút chuyên gia giỏi, cao
cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước
ngoài.
Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội nhất là
các sân bay quốc tế, cảng biển, đường cao tốc, đường ven biển,
đường đông tây, mạng lưới cung cấp điện, hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội ở các đô thị lớn, hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước. Phát
triển công nghiệp năng lượng gắn với công nghệ tiết kiệm năng
lượng. Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính viễn thông
- Đối với dịch vụ:
Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất là những
ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, đưa tốc
độ phát triển của ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP. Tận dụng tốt
thời cơ hội nhập kinh tế quốc để tạo bước phát triển ngành “công nghiệp
không khói” này. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành
dịch vụ truyền thống như vận tải, thương mại, ngân hàng, bưu chính
viễn thông, du lịch. Phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn.
về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh
và
hợp
tác
quốc
tế.
Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển
và vận tải biển, khai thác, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và
chế biến hải sản, phát triển du lịch biển, đảo. Đẩy mạnh phát triển
ngành công nghiệp đóng tàu biển, đồng thời hình thành một số hành
lang
kinh
tế
ven
biển.
Năm là, dịch chuyển cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ.
Để chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu công nghệ trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức
thuật
có
tay
nghề
cao.
- Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đặc biệt là
cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của
hoạt động khoa học và công nghệ.
Sáu là, bảo vệ, sử dụng, hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi
trường
tự
nhiên.
Xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức,
vấn đề bảo vệ, sử dụng tài nguyên và cải thiện môi trường tự nhiên
được
xác
-Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường
trong và ngoài nước
-Nhiều công trình quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng:
sân bay, cảng biển, đường bộ, cầu, nhà máy điện,… tăng nhanh và
có bước tiến theo hướng hiện đại
Hai là, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đã đạt được những kết quả nhất định:
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng ( từ 36,7% năm 2000 lên
41,1% năm 2010)
-Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm ( từ 24,5% năm 2000
xuống còn 21,6% năm 2010)
Cơ cấu kinh tế vùng đã có sự điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế
so sánh của từng vùng.
-Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển khá nhanh, đóng góp quan
trọng vào sự tăng trưởng và là đầu tàu của nền kinh tế.
-Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
•
Từ năm 2000 đến năm 2010, tỷ trọng lao động trong công nghiệp
và xây dựng tăng từ 13,1% lên 22,4%.
•
Dịch vụ tăng từ 19,7% lên 29,4%.
•
+Lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm
+Tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu tấn
=> Tăng 27% so với giai đoạn 1986 – 1990
Về phát triển các mặt xã hội
•
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
•
Đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt
•
Trong lĩnh vực lao động và việc làm:
+ Từ năm 1991 đến năm 2000, trung bình mỗi năm cả nước đã giải
quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động có công ăn việc làm;
+Những năm 2001 - 2005, mức giải quyết việc làm trung bình hằng
năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người;
+Những năm 2006 - 2010, con số đó lại tăng lên đến 1,6 triệu người.
Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phần đưa tỷ lệ lao động
qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010
Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa
về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học.
+Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối
những năm 1980 lên 90,3% năm 2007.
+Năm 2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính
sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học