Câu 1 : Những nét khái quát về tiến trình lịch sử nhà nước và pháp luật
Việt nam.
Quá tình hình thành nhà nước: Nhà nước ta trải qua 4 giai đoạn phát triển liên tục
1. Giai đoạn Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, tồn tại trong nửa
đầu thiên kỷ thứ II TCN
2. Giai đoạn Đồng Đậu, thuộc trung kỳ, thời đại đồng thau nửa sau thiên kỷ thứ
II TCN
3. Giai đoạn Gò Mun thuộc hậu kỳ thời đại, thời đại đồng thau khoảng cuối
thiên kỷ thứ II đầu thiên kỷ thứ I TCN
4. Giai đoạn Đông Sơn thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, từ đầu thiên kỷ thứ II TCN
và vài thiên kỷ sau CN. Giai đoạn đầu thuộc thời kỳ Hùng Vương, còn cuối
thuộc Bắc thuộc sau đó.
Lịch sử nhà nước Việt Nam trải qua rất nhiều giai đoạn, từ thời kỳ sơ khai là nhà
nước Văn lang- Âu lạc.
Giai đoạn 2: 1000 năm bắc thuộc và quá trình đấu tranh giành độc lập
-Nhà nước pháp luật Ngô – Đinh – Tiền Lê giai đoạn củng cố nền độc lập dân tộc
và bước đầu xác lập nhà nước trung ương tập quyền
-Nhà nước pháp luật các triều đại Lý- Trần- Hồ trong giai đoạn củng cố phát triển
nhà nước trung ương tập quyền.
-Nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền thời Lê Sơ (TK XV-XVI)
-Nhà nước thời kỳ nội chiến phân liệt (TK XVI- XVIII)
Giai đoạn 3: Chính quyền và luật lệ thời pháp thuộc
Giai đoạn 4: Nhà nước và pháp luật từ cách mạng tháng 8/1945 đến nay
-Cách mạng tháng 8 và sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và pháp
luật trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp (1945-1954)
-Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ chống mỹ cứu nước, thống nhất tổ quốc
(1954-1976)
-Sự thành lập nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – pháp luật trong cơ
chế quan liêu bao cấp (1975-1986)
-Nhà nước và pháp luật thời kỳ đổi mới
Câu 2 : Sự hình thành, đặc trưng cơ bản của nhà nước Văn lang- Âu lạc
Hai là, các thủ lĩnh ngày càng có địa vị và có vai trò quan trọng trong xh,
quyền lực và tài sản của họ tích tụ ngày càng lớn đòi hỏi phải có những cơ cấu tổ
chức mới, thôi thúc sự ra đời sớm của nn
Sự hình thành nhà nước Âu lạc
Vào cuối đời Hùng vương, giữa Hùng vương (vua của cư dân Lạc việt) và Thục
phán (Âu việt) xảy ra xung đột. Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì bị nạn xâm lược
của đế chế Tần. Thục Phán đã đứng lên với vai trò là thủ lĩnh liên minh bộ lạc chỉ
đạo cuộc kháng chiến chống Tần. Cuộc kháng chiến kéo dài 5 – 6 năm và với
thắng lợi của nó đã khiến Hùng vương nhường ngôi cho Thục phán. Thục phán
xưng là An Dương vương, lập ra nước Âu lạc
NN Âu lạc tồn tại khoảng 30 năm. Năm 179 TCN, Triệu đà đánh bại An dương
vương, mở đầu thời kì Bắc thuộc
Đặc điểm:
Tổ chức bộ máy nhà nước:
2
Thủ lĩnh (liên minh bộ lạc)
Vương (hùng vương; An dương
vương)
Tù trưởng (bộ lạc)
Lạc tướng (bộ)
Tộc trưởng (công xã thị tộc)
Bồ chính (công xã nông thôn)
Pháp luật:
NN Văn lang – Âu lạc đã có pl nhưng đó là hình thức pl sơ khai và chủ yếu là tập
quán pháp, còn mang đậm tàn dư của chế độ nguyên thủy.
(huyện lệnh)
Huyện
(huyện lệnh)
Về luật pháp:
Nguồn luật: sử dụng 2 nguồn luật song song là tập tục người Việt (chủ yếu là lệ
làng) và một số pháp luật thời trung hoa.
Nội dung:
- Về luật hình sự: những lãnh tụ nghĩa quân đều bị chính quyền đô hộ khép tội
phản loạn, phản nghịch. Hình phạt phổ biến của luật này lưu đày học tử. Một số
tội phạm về chức vụ luật hánh ở Giao Châu quy định 6 điều lệnh nhằm hạn chế
quan lại người Hán ở Âu Lạc làm thiệt hại công quỹ cống nạp, có thể làm dân nổi
loạn chống đối.
- Luật lệ dân sự, tài chính:
Ruộng đất có 2 hình thức sở hữu là:
Sở hữu tối cao của Hoàng Đế Trung Quốc (sở hữu nhà nước): do chính quyền đô
hộ lập ra và chính quyền đó thay Hoàng Đế thực hiện quyền sở hữu đó.
3
Sở hữu tư nhân: Chủ sở hữu chỉ có thể là quan lại, địa chủ người Hán và một số ít
quý tộc người Việt.
- Luật lệ hôn nhân và gia đình: quy định tuổi kết hôn: nam từ 20-50 tuổi, nữ từ
15-40. Và phải có sính lễ cưới hỏi. Chức môi quan được lập ra để kiểm soát việc
thục hiện kết hôn theo đúng tập quán hôn nhân Nho giáo tuy nhiên chỉ có người
Hán mới theo luật lệ hôn nhân gia đình, còn người Việt thì theo tập tục truyền
thống.
Câu 4 : Những đặc trưng cơ bản về tổ chức nhà nước, pháp luật của các
triều Ngô – Đinh – tiền Lê, Lý – Trần – Hồ
Phủ
Hương
Châu
Châu
Xã
Giáp
Giáp
Giáp- hương
Xã
Xã
Xã
Quân đội:
- thập đạo quân thể hiện lực lượng vũ trang toàn dân
- tổ chức quân sự gắn liền với tổ chức hành chính. Lực lượng vũ trang được chia
làm 5 cấp (đạo, quân, lữ, tốt, ngũ). Mỗi đạo hành chính là 1 đạo quân sự
4
Đài
Phủ
Ty
Giám
Cục
1242-1397
Lộ
Phủ-Châu
Xã
1397
Lộ
Phủ
Châu
Huyện
Xã
Địa phương:
1010-1242
Lộ-Trại
Phủ- Châu
Hương- xã- sách
Quân đội:nam từ 18-20 tuổi gọi là hoàng nam, còn từ 20-60 gọi là đại hoàng nam.
Phải đăng ký vào sổ quân.
Tổ chức quân đội chặt chẽ gồm:
Quân cấm vệ: bảo vệ cung cấm, kinh đô, là quân tinh nhuệ nhất, được lựa chọn
cẩn thận và tập huấn chu đáo
5
Hữu tướng
VP tư vấn:
Các tỉnh
Hàn Lâm viện
Chiến sự Viện
Nội mật viện
Các bộ:
Lễ
Lại
chia cả nước thành 5 đạo:
Lộ, trấn, phủ
Châu
Huyện
Xã.
6
Cơ quan chuyên
môn:
Ngự sử đài
Ngũ hình viện
Quốc sử viện
Quốc tử giám
Thái sử viện
Quân đội: gồm quân đóng ở kinh đô và quân đóng ở các đạo. Chế độ tuyển binh
chặt chẽ, cứ 3 năm 1 lần
o Bộ Hộ: quản lý về ruộng đất, tài chính, tô thuế, kho tàng, hộ khẩu,
lương của quan và quân trong cả nước.
o Bộ Hình: trông coi về hình pháp, xét xử và ngục tụng.
o Bộ Công: trông coi việc sửa chữa , xây dựng cung điện, đường xá, cầu
cống, thành trì... quản lý các công xưởng và thợ thuyền của nhà nước.
o Bộ Binh: quản lý về linh vực quân sự như tuyển quân, huấn luyện
quân đội, quân trang và khí giới, trông coi việc trấn giữ các nơi biên ải
và ứng phó với các tình hình khẩn cấp...
- Lục Tự:
7
o Đại lý tự: xem xét lại những án nặng đã xử như án về tội tử hay tội
lưu rồi gửi kết quả sang Bộ Hình để tâu lên vua xin quyết định.
o Thái thường tự: phụ trách việc thi hành những lễ nghi và điều khiển
ban âm nhạc trong các buổi nghi lễ, trông coi các đền thờ thổ địa.
o Quang lộc tự: phụ trách việc cung cấp và kiểm tra đồ ăn thức uống
trong các buổi tế lễ, yến tiệc ở triều đình.
o Thái bộc tự: có nhiệm vụ giữ gìn, trông nom xe, ngựa của nhà vua và
của các hoàng tử, kiểm soát mục súc trong cả nước.
o Hồng lô tự: có trách nhiệm tổ chức các buổi xướng danh cách vị tân
khoa tiến sĩ, sắp xếp các thể thức nghi lễ khi cần đón các khách quý
của nhà vua, tổ chức việc an táng cho các quan to ở trong triều.
o Thường bảo tự: giữ việc đóng ấn vào quyển thi của các thí sinh trong
các kỳ thi hội.
- Lục khoa: Lễ khoa (trước là Đông khoa), Lại khoa (trước là Trung thư khoa),
Hộ khoa (trước là Hải khoa), Hình khoa (trước là Tây khoa), Công khoa ( trước
là Bắc khoa), Binh khoa (trước là Nam khoa). Lục khoa là cơ quan trực thuộc
nhà vua, có chức năng giám sát, kiểm soát Lục bộ, từng khoa giám sát, kiểm
soát từng Bộ tương ứng.
các vụ kiện tụng tranh chấp trong tôn thất. Hiến ty
Hiến sát
b.
Chính
quyền
địa
phương
(Chánh ngũ phẩm)
(Chánh lục phẩm)
c.
Phủ
Tri Phủ (Tòng lục phẩm)
Huyện - Châu
Tri Huyện – Tri Châu (Tòng thất phẩm)
Xã
Chú thích:
Xã quan
8
cấp trên và cấp
lãnh đạo
và việc cắt đặt số Xã trưởng tuỳ theo quy mô từng loại xã. Trong quy định
về việc cắt đặt số Xã trưởng theo số hộ nhiều hay ít (ban hành năm Quý Mão
- 1483), vua Lê Thánh Tông quy định như sau:
Xã có 500 hộ trở lên: đặt 5 Xã trưởng
Xã có 300 hộ trở lên: đặt 4 Xã trưởng
Xã có 100 hộ trở lên: đặt 2 Xã trưởng
Xã có 60 hộ trở xuống: đặt 1 Xã trưởng.
Nếu so sánh với việc đặt số Xã quan thời Lê Thái Tổ và Xã trưởng thời Lê
Thánh Tông tuỳ theo quy mô từng loại xã thì chúng ta thấy có sự khác biệt
qua bảng số liệu sau:
Loại xã
Đời vua
Xã lớn
Xã vừa
Xã nhỏ
9
Lê Thái Tổ (1428) 3 Xã quan 2 Xã quan 1 Xã quan
Lê Thánh Tông (1490) 5 Xã trưởng 4 Xã trưởng 2 Xã trưởng
Qua bảng trên, có thể thấy số Xã quan (Xã trưởng) được đặt theo 3 loại xã
tương ứng (xã lớn, xã vừa, xã nhỏ) của thời Lê Thánh Tông nhiều hơn thời
Lê Thái Tổ. Việc tăng thêm số Xã trưởng đứng đầu 1 xã thời Lê Thánh Tông
là hợp lí vì quy mô cấp xã giai đoạn này đã được mở rộng do sự gia tăng dân
số.
- Định rõ tiêu chuẩn bầu chọn, thực hiện chế độ khảo hạch và quy trách nhiệm
đối với chức danh Xã trưởng
+ Thời Lê Thánh Tông đã làm được một điều rất quan trọng, đó là việc đặt
ra quy định thống nhất có tính chất pháp lí về việc bầu chọn chức danh Xã
trưởng với những tiêu chuẩn rõ ràng.
10
Như vậy, trách nhiệm của Xã trưởng trước nhà nước rất nặng nề khi phải là
người đảm bảo cho các chính sách quản lí làng xã của nhà nước được thực
hiện có hiệu quả ở địa phương do mình quản lí.
- Đặt thêm chức danh Thôn trưởng để cùng Xã trưởng quản lí làng xã
Để quản lí tốt làng xã, bên cạnh chức danh Xã trưởng, nhà nước trung ương
thời Lê Thánh Tông còn đặt thêm chức danh Thôn trưởng. Thôn trưởng có
thể được dân làng bầu trong số những người đứng tuổi từ khoảng 30 tuổi trở
lên, có tư cách đứng đắn, có khả năng cùng với xã trưởng đảm nhận các
công việc mà cộng đồng giao phó. một số chức năng chính của Thôn trưởng
dưới thời Lê Thánh Tông như sau:
- Đảm bảo giữ gìn an ninh, trật tự trong thôn xóm.
- Cùng với Xã trưởng, tổ chức thu thuế ở thôn xã và phân định ruộng đất
(công, tư) theo quy định của nhà nước.
- Đảm bảo nhân đinh và sức kéo cho sản xuất nông nghiệp trong làng xã.
- Chống nạn cường hào, tham nhũng trong bộ máy quản lí làng xã
Chính sách của nhà nước trung ương thời Lê Thánh Tông đối với bộ máy
quản lí làng xã có ý nghĩa rất lớn tới lịch sử và đương đại thể hiện rất rõ qua
mặt tích cực của cách tổ chức quan lí
Thứ nhất, việc tiêu chuẩn hoá các phẩm chất, năng lực cần có của Xã trưởng
cho thấy nhà nước trung ương thời Lê Thánh Tông đã đánh mạnh vào quyền
tự trị trong việc bầu chọn chức danh đứng đầu làng xã.
Trước đây, việc bầu người đứng đầu làm Xã trưởng là do ở dân và chưa có
tiêu chí chung, thống nhất nào của nhà nước quy định việc bầu chọn cũng
như tiến trình bầu chọn. Vì vậy, tiêu chí bầu chọn có thể do từng làng xã,
từng địa phương quy định theo truyền thống dân chủ làng xã vốn có từ lâu
đời như: ưu tiên người cao tuổi (truyền thống trọng người già), có uy tín và
có đức hạnh trong làng hoặc thuộc dòng dõi thế gia, cự tộc…
vẫn có sự đảm bảo thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Thứ ba, chế độ khảo hạch chức danh Xã trưởng thời Lê Thánh Tông (sau khi
bầu chọn) đã góp phần không nhỏ giúp cho chính sách quản lí bộ máy quản
lí làng xã của nhà nước thu được hiệu quả.
Qua các điều quy định đã nêu ở trên cho thấy, nhà nước thời Lê Thánh Tông
đã có một chu trình khép kín về các thể lệ bầu chọn Xã trưởng: từ việc quy
định tiêu chuẩn, đặt thể lệ bầu chọn và tiến hành xét duyệt đến khâu khảo
hạch...
>>>rất cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lí làng xã của nhà nước
thông qua bộ máy chính quyền cấp xã, góp phần tăng cường tính thống nhất
và tập quyền của nhà nước trung ương dưới thời Lê Thánh Tông.
Thứ tư, việc đặt thêm chế độ Thôn trưởng (đứng đầu mỗi thôn) bên cạnh
chức danh Xã trưởng có thể xem là nét độc đáo trong chính sách quản lí làng
xã của nhà nước Lê sơ từ thời Lê Thánh Tông.
Trên thực tế, nếu một xã có nhiều thôn (nhất xã nhị, tam thôn) thì bản thân
người Xã trưởng cũng khó có thể bao quát và quản lí sát sao về mọi mặt trên
địa bàn của mình. Nhà nước vì vậy đã đặt thêm chế độ Thôn trưởng - người
sẽ phối hợp và giúp Xã trưởng quản lí địa bàn thôn xóm của mình tốt hơn..
Điều đó đã góp phần tăng cường tính thực thi, hiệu quả trong chính sách
quản lí làng xã của nhà nước. Cho đến ngày nay, với sự trở lại vị trí của thôn
làng truyền thống và việc đặt lại chế độ Trưởng thôn, điều đó tự bản thân nó
đã minh chứng cho sự đúng đắn và tính hiệu quả qua việc thiết lập chế độ
Thôn trưởng từ thời Lê Thánh Tông.
Câu 34. Khái quát về hệ thống pháp luật, triết lý cơ bản trong xây dựng, áp
dụng pháp luật và các định chế phi quan phương (các thiết chế xã hội, định chế
- quy tắc điều chỉnh xã hội ) triều vua Lê Thánh Tông, ý nghĩa lịch sử và đương
đại.
a. Khái quát về hệ thống pháp luật
b. Triết lý cơ bản trong xây dựng, áp dụng pháp luật
12
nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng
đất.
a, Dân sự.: các điều khoản liên quan đến chế độ ruộng đất, những điều về mua
bán cầm cố, thừa kế ruộng đất.
b, Hình sự: Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo bao trùm
toàn bộ nội dung của bộ luật, gồm: những nguyên tắc chung áp dụng khi trừng
phạt, Dấu hiệu của tội phạm, Phân loại tội phạm, đồng phạm, các giai đoạn
phạm tội và phòng vệ chính đáng, Hình phạt.
13
c.
d.
-
c, Hôn nhân gia đình: điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn
nhân(do chết hoặc ly hôn), quan hệ gia đình.
d, Tố tụng: những quy định chặt chẽ về thủ tục khi giải quyết kiện tụng như việc
thụ lý khiếu kiện, thẩm vấn, tra khảo, phân xử.
Cơ sở tư tưởng
Nho giáo
Các nguyên tắc cơ bản
Vô luật bất hình
Chiếu cố
Chuộc tội bằng tiền
Về trách nhiệm hình sự
Thưởng người tố giác và trừng phạt kẻ che giấu tội phạm.
Câu 36. Nội dung cơ bản của QTHL, sự thể hiện các quan điểm cơ bản của
đồng hoá, Đại Việt giành lại được bằng bao nhiêu xương máu, nên ý thức dân
tộc càng được nêu cao và trở thành niềm tự hào dân tộc, ý thức hệ dân tộc. ý
thức tự tôn dân tộc đã ảnh hưởng và chi phối cả lĩnh vực lập pháp. Bộ QTHL –
tinh hoa của luật pháp thời Lê sơ đã tiếp thu tư tưởng truyền thống dân tộc, ý
thức tự tôn dân tộc về một nền văn hoá phát triển không thua kém Trung hoa.
Chính vì thế, tính dân tộc được thể hiện rất rõ trong QTHL.
-
-
-
-
2. Biểu hiện
Phong tục tập quán là nguồn luật rất quan trọng của QTHL. Các hương ước là
phong tục tập quán được Nhà nước thừa nhận và ghi nhận trong pháp luật thành
văn. Các nhà làm luật triều Lê đã tiếp thu các giá trị văn hoá của dân tộc thông
qua các phong tục tập quán vốn có từ lâu đời và đang được thực hiện trong cuộc
sống của quần chúng nhân dân, đưa chúng vào hệ thống PL của triều đình. Việc
áp dụng các phong tục tập quán như vậy đã làm cho các điều khoản của bộ luật
phù hợp, sát với thực tế đời sống, dễ hiểu, dễ thực hiện do đó có tính khả thi
cao.
QTHL là pháp luật hướng Nho nhưng có sự biến đổi linh hoạt phù hợp với hoàn
cảnh của nước ta. PLPKVN đã áp dụng nhiều phong tục tập quán của dân tộc.
Sở dĩ như vậy là do triều đình đã nhận thức rõ sức mạnh của quần chúng nhân
dân đối với sự vững mạnh của xã tắc, sự thịnh suy của triều đình. Việc áp dụng
các phong tục tập quán trong nhiều trường hợp là có lợi cho sự vững mạnh của
cụ thống trị của riêng giai cấp thống trị mà thực sự thể hiện ý chí, nguyện vọng
của nhân dân thông qua các phong tục tập quán truyền thống. Đó là điểm tiến
bộ và độc đáo của nhà Lê. Nó thể hiện tính độc lập, sáng tạo của những nhà lập
pháp triều Lê, đồng thời là sự thể hiện của quốc gia có chủ quyền.
Câu 42. Đặc trưng cơ bản về quan chế trong quốc triều hình luật (QTHL), bảo
vệ quyền lợi các nhóm xã hội yếu thế trong QTHL,?
* Đặc trưng cơ bản về quan chế.
1 . Kiểm soát hoạt động tuyển dụng bằng khoa cử
Thứ nhất: quy định rõ hành vi cấm trong thi cử và xử lý nghiêm người vi phạm,
nhất là người có chức vụ. Để việc thi cử diễn ra nghiêm túc, tìm đúng nhân tài
cho đất nước và loại trừ các hành vi tham nhũng phổ biến trong các kỳ thi (nhận
hối lội hay nhũng nhiễu tiêu cực), việc thi cử được tổ chức rất chặt chẽ và pháp
luật xử lý nghiêm hành vi gian lận trong khi thi hay mượn người thi hộ; giám sát
truờng thi không cho sĩ tử mang sách vở vào trường thi (Điều 3 và Điều 5 Chương
Vi chế, BLHĐ). Để đảm bảo khách quan trong đánh giá kết quả thi, pháp luật
nghiêm cấm sao chép, đánh tráo bài làm của thí sinh; không được làm giám khảo
nếu có quan hệ nhân thân với thí sinh (Điều 2 chương Vi chế). Tính khách quan
trong việc tuyển chọn quan lại một mặt thúc đẩy mọi người trong xã hội học tập;
đồng thời sẽ triệt tiêu những điều kiện tồn tại của tệ tham nhũng, lợi dụng việc coi
thi, chấm thi để nhũng nhiễu từ những sĩ tử bất tài.
Thứ hai: bảo đảm về nhân thân, đạo đức của sỹ tử. Địa phương xác nhận tư cách,
đạo đức của sĩ tử thi hương trong bảng kê khai lý lịch ba đời. Qui định này vừa tạo
điều kiện để có thể thu hút nhân tài một cách rộng rãi, vừa đảm bảo chặt chẽ trong
việc tuyển chọn quan lại để không những chọn được người tài mà còn là người có
đức. Đây là tiền đề tạo ra một đội ngũ quan lại tài đức vẹn toàn, biết chăm lo cho
đời sống người dân và không dễ bị tha hóa bởi lợi ích cá nhân.
Thứ ba: giám sát hoạt động đào tạo, thi cử. Để bảo đảm công bằng, khách quan,
16
hạch theo lệ mà xét kỷ thực sự. Quan viên nào dù đủ chín năm làm việc nhưng hèn
hạ, không làm được việc, kém cỏi, phạm pháp thì không cho thông khảo để thăng
thưởng mà còn phải giáng hạ”. Như vậy khảo khóa lần thứ tư được gọi là thông
khảo”.
Thứ hai: kết quả sát hạch
- Luân chuyển công tác..
-
Xử lý kỷ luật.
Áp dụng chế độ hồi tỵ: Những người có quan hệ nhân thân với nhau (như:
hôn nhân, huyết thống, đồng hương,…) không được cùng làm việc tại một địa
phương hay công sở. Năm Hồng Đức thứ 19 (Mậu Thân 1488), nhà vua xuống
chiếu: “Hễ là anh em ruột, anh em con chú con bác và bác cháu, cậu cháu với
nhau thì chỉ có một người được làm xã trưởng, không được cùng làm để trừ
mối tệ bè phái, hùa nhau”
b. Chính sách đãi ngộ và chế độ lương bổng.
Thứ nhất: Lệ về cấp phát ruộng đất
Một là: chế độ lộc điền. Thông thường những bậc công thần khai quốc, con cháu
có mối quan hệ huyết thống trực hệ với nhà vua sẽ được hưởng chính sách lộc
điền. Khi được cấp, người đó có toàn quyền sở hữu ruộng đất và sau khi chết đi,
con cháu của họ được hưởng thừa kế theo quy định chung.
Hai là: chế độ quân điền. Chiếu năm 1477 (Hồng Đức niên hiệu thứ 8) vua định
lệ quân điền như sau: “Phàm công điền của dân đinh các xã (ruộng đất nhà vua
cấp cho các xã để phân cho dân đinh cày cấy), cứ 6 năm một lần quan phủ, huyện
hoặc châu phải kiểm tra, đo đạc, chia ruộng làm ba bậc: nhất đẳng, nhị đẳng và
tam đẳng ( có tài liệu cho rằng ứng với ba loại đất tốt, đất vừa và đất xấu
Thứ hai: Lệ về tiền lương và những lợi ích vật chất khác. Ngoài chế độ đãi ngộ
bằng ruộng đất nêu trên, quan lại tùy theo cấp bậc sẽ được hưởng một số tiền
phong cho thực ấp và người hầu.
quan hệ cơ bản của xã hội; lụât hôn nhân và gia đình trong luật Hồng Đức được
xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân không tự do, nhiều vợ, nam nữ bất bình đẳng,
đề cao quyền của người cha, người chồng, người vợ cả và con trưởng trong gia
đình; củng cố và bảo vệ chế độ gia đình phong kiến - gia trưởng.
_ Các quy định tố tụng hình sự, thủ tục pháp lý: Quốc triều hình luật là bộ luật đầu
tiên có những quy định tương đối chặt chẽ về thủ tục tố tụng. Luật tố tụng chủ yếu
được quy định trong Quyển 6, gồm 2 chưong, 78 điều: các vụ việc được chia thành
4 loại: Rất nhỏ, nhỏ, trung bình, lớn. Tương ứng với 4 loại vụ việc đó mà cấp xét
xử được quy định là xã quan, huyện quan, phủ quan, triều đình (Điều 672). Trình
tự xét xử nhiều cấp được quy định trong điều 672. Nếu xã quan không xử được thì
đưa lên huyện quan, huyện quan không xử được thì đưa lên phủ quan, phủ quan
lhông xử được thì đưa lên đạo (lộ), quan đạo không xử được thì mới đưa lên kinh.
Thời hạn xét xử cũng được luật quy định cụ thể: Ngoài ra trình tự, và thủ tục bắt
người, điều tra, xét hỏi, chế độ giam giữ, thi hành án... cũng được quy định tương
đối chặt chẽ. Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, Bộ luật Hồng Đức còn có
19
một số quy định về tài chính và thuế khoá, về chế độ lao dịch, về quản lý hộ khẩu,
về một số chính sách đối với các dân tộc thiểu số v.v...
Câu 44. Kỹ thuật pháp lý trong QTHL
_ Trong hoàn cảnh và trình độ pháp lý của thế kỷ XV, sự hoàn thiện và phong phú
của các tình tiết cụ thể khiến cho nhiều nhà nghiên cứu và chúng ta ngày nay phải
ngạc nhiên và thán phục.
_ Hầu hết tất cả những vấn đề lớn nhỏ trong xã hội đều được nếu ra trong bộ luật.
Thậm chí, cả những quy định dành riêng cho binh lính cũng được tập hợp một cách
có hệ thống. Một số điều đã đạt tới trình độ tiếp cận với kỹ thuật lập pháp hiện đại:
ý chí phạm tội, tình tiết làm nặng hoặc giảm nhẹ tội.
_ Các điều luật trong “Quốc triều hình luật” không có tên gọi mà chỉ đánh số điều,
vì vậy, trong rất nhiều điều luật, nhà làm luật không chỉ quy định một hành vi
+ Các cơ quan ở kinh đô:
_ Lục phiên và lục bộ: Thụ lý và xử sơ thẩm ở phiên những vụ quan trọng rồi
được bộ tương ứng phúc thẩm theo lĩnh vực.
_ Ngự sử đài: Xét xử lại những vụ việc đã xét xử lần đầu ở Thừa ti, Hiến ti
nhưng vẫn khiếu kiện.
_ Phủ chúa (Chánh đường): Cơ quan phán quyết cuối cùng những vụ án đã
được xử lại ở Lục bộ hoặc Ngự sử đài nhưng vẫn khiếu kiện.
_ Một số thủ tục tố tụng:
+ Thụ lý việc kiện: Chỉ được thụ lý khi có chứng cứ.
+ Thời hạn xử án: Theo Điều 21. (án mạng là 4 tháng; ruộng đất, trộm cướp là 3
tháng; không phải tạp tụng là 2 tháng, lấy ngày bị cáo trình bày sự việc làm mốc)
+ Phương pháp xử án: Phải niêm yết công khai ngày tháng xét xử; luận tội
không chỉ căn cứ vào tra khảo mà còn phải dựa vào các chứng cứ cụ thể; bản án
phải dẫn đủ điều luật, không được xử theo ý riêng. Có quy định chi tiết về “Lệ về
nhật trình sai bắt của các khám quan quy định”.
Câu 46:
Hệ thống chính quyền “Lưỡng đầu” Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, của các
chúa Nguyễn ở Đàng Trong và hệ thống pháp luật thời Lê - Trịnh
Hệ thống chính quyền “Lưỡng đầu” Lê – Trịnh
Vua Lê
Chúa Trịnh
Vai trò, địa vị,
Tước vị,
- Vua phải phong
- Vương chỉ là một
quyền hạn
địa vị
cấm,
khuyên
trọng)
bảo)
- Ban chỉ, chiếu
- Ban chỉ, chỉ
(văn bản không
truyền (thể chế,
mấy quan trọng)
quy tắc hoạt
động của các cơ
quan nhà nước)
Quyền hành pháp
Quyền hành pháp
- Tuyển bổ, thăng,
- Tuyển bổ, thăng,
giáng, ban phẩm
giáng, ban phẩm
21
hàm với
quan tam
trở lên
- Nắm danh
quyền
chính
chức
phẩm
soái – người
hay lễ ban chiếu
đứng đầu quân
chỉ phong chức
đội
- Chủ yếu giữ vai
- Ban hành hầu hết
trò động viên
các chỉ dụ liên
tinh thần quân sỹ
quan đến quốc
phòng
- Nắm toàn quyền
điều hành quân
đội
Lĩnh vực tài chính –
Lĩnh vực tài chính –
thuế khóa
thuế khóa
- Không được nắm
- Nắm trọn quyền
quyền quản lý
thu thuế, ấn định
chi tiêu, chính
sách tài chính
quốc gia
Lĩnh vực ngoại giao
Lĩnh vực ngoại giao
- Tiếp các sứ thần
- Định đoạt các
quan tham tụng,
bồi tụng, là chức
Sơ đồ bộ máy trung
quan văn cao cấp
ương
nhất
Cơ quan
- Hoàng môn tỉnh
Vua
Chúa có chức
phụ trách ấn tín
Lê
Trịnh năng
của vua
văn
- Thông chính ti
Ngũ
phòng
phụ trách vận
Các
phủ
chuyển
công
đại
Phủ
văn, chỉ dụ
thần
liêu
- Bí thư giám lưu
trữ công văn,
Tổ chức chính quyền địa
Chính quyền địa
phương
phương hầu như là của
chúa
Đầu thế kỷ XVIII đổi 13 xứ thừa tuyên thành 13
trấn
Đầu thế kỷ XVIII trấn lại được đổi thành xứ như
trước đây
Tổ chức quân đội
Gồm 2 loại
23
- Quân bảo vệ kinh đô hay còn gọi là kiêu
binh (thường tuyển ở vùng Thanh Hóa,
Nghệ An – quê hương của chúa, được
hưởng ưu đãi đặc biệt)
- Quân đội địa phương
- Đầu thế kỷ XVIII có thêm 1 loại quân nữa
là hương binh
Hệ thống chính quyền các chúa Nguyễn Đàng Trong
Đàng trong được chia thành 6 Dinh, chính quyền trung ương đóng ở Chính dinh và
có 5 Dinh địa phương
Chính quyền trung ương
Chúa
4 viên quan cao cấp
Các ti
3 ti cơ bản phụ trách công việc chung:
Hệ thống pháp luật thời Lê – Trịnh
- Không sử dụng bộ luật của thời Lê sơ, luật Hồng đức
- Quyền lập pháp do cả vua Lê và chúa Trịnh cùng nắm, nhưng vua Lê chỉ
ban hành những văn bản Luật pháp có tính nguyên tắc pháp lý chung, còn
chúa Trịnh thì ban hành những văn bản luật đưa những nguyên tắc này thành
hiện thực. Vừa thể hiện đế quyền, và thực quyền của chúa
- Quyền hành pháp vua Lê chỉ có quyền quản lý với các chức quan từ tam
phẩm trở xuống, còn từ tứ phẩm trở lên và các quan ngoại nhiệm là thuộc
quyền quản lý của chúa. Các quyết định hành chính chủ yếu xuất phát từ phủ
chúa
Chúa nắm thực quyền và gần như mọi quyền hành trong hành pháp
- Quyền tư pháp Vua chỉ quản lý toà án cấp sơ thẩm, ban bố các lệnh đặc xá,
đại xá, chúa quản lý tòa án cấp phúc thẩm, nắm quyền tài phán cao nhất
- Quân sự chúa Trịnh giữ chức đại nguyên soái, đứng đầu quân đội trong cả
nước, quản lý mọi việc liên quan đến quốc phòng
- Tài chính thuế khóa chúa Trịnh nắm trọn quyền thu thuế, ấn định mọi việc
chi tiêu và chính sách tài chính của quốc gia, kiểm soát chi tiêu của triều
đình
- Ngoại giao chúa định đoạt chính sách ngoại giao, cắt cử sứ giả đi nước
ngoài, vua chỉ đóng vai trò người đại diện
- Thần quyền là lĩnh vực duy nhất thuộc quyền quản lý của Vua
Hệ thống pháp luật nằm trong tay chúa, mọi cơ quan có thẩm quyền, thực
quyền đều nằm dưới quyền của chúa
Câu 47: Tổ chức chính quyền và pháp luật triều đại Quang Trung
Tổ chức bộ máy triều Quang Trung
- Tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình triều Lê trước đây
Chính quyền trung ương
- Không xưng vua mà xưng hoàng đế
- Hoàng đế thâu tóm tất cả quyền lực nhà nước; phong tước, ban chức cho